Chú giải Tin Mừng Lu-ca

Chương 3

Câu 3. Có thể thấy rõ rằng ở đây, Gio-an Tẩy Giả đã không chỉ rao giảng mà còn làm phép rửa bằng nước cho rất nhiều người. Tuy nhiên, phép rửa của ông không thể giúp người lãnh nhận được tẩy xóa khỏi tội lỗi như Phép Rửa của Chúa Giê-su.

Vậy, khi Thánh sử Lu-ca nói rằng ông Gio-an “kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”, chúng ta phải hiểu: vì những người Do-thái không nhận ra mức độ nghiệm trọng và hậu quả của những tội đã phạm, nên Gio-an Tẩy Giả đã đến để kêu gọi họ thú nhận tội lỗi mình và giục lòng sám hối; nhờ được hoán cải với lòng ăn năn thực sự như vậy, họ có cơ hội tìm ra Đấng Cứu Chuộc đời mình, để từ đó, lãnh nhận ơn tha tội.

Thánh Gio-an Kim Khẩu, trong bài giảng số 10 về Tin Mừng Mát-thêu, cho biết rằng: Từ những lời này, đã nảy sinh một quan điểm cho rằng phép rửa của ông Gio-an có khả năng xóa bỏ tội lỗi. Điều này là sai lầm và có thể được làm sáng tỏ qua hai đoạn Kinh Thánh:

1. Lc 3,16 – Nơi chính Gio-an tuyên bố rằng ông không làm phép rửa bằng Thánh Thần.

2. Cv 19,1-7 – Nơi Thánh Phao-lô ra lệnh cho những ai chỉ chịu phép rửa của ông Gio-an và chưa từng nghe nói về Thánh Thần, phải chịu Phép Rửa nhân danh Chúa Giê-su.

Như vậy, chúng ta phải kết luận rằng phép rửa của Gio-an Tẩy Giả có tính chất chỉ là một nghi thức hay lễ kết nạp mà qua đó, người Do-thái ghi danh mình là môn đệ của ông. Sau khi chịu phép rửa này, họ sẽ thực hiện việc đền tội như một sự chuẩn bị cho phép rửa lần thứ hai bằng Thánh Thần và lửa của Chúa Giê-su, nơi họ được xóa bỏ tội lỗi.

Câu 5. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy… – Đây là lời tiên báo của ngôn sứ I-sai-a về ơn giải thoát dành cho dân Ít-ra-en khỏi các thế lực ngoại bang (Is 40,3); nhưng đồng thời, chúng cũng biểu thị ơn cứu độ dành cho nhân loại khỏi tình trạng làm thân nô lệ cho tội lỗi; tất cả những trở ngại làm trì hoãn ân huệ này sẽ cần phải được loại bỏ, sự khiêm nhường cần lấp cho đầy, lòng kiêu ngạo phải san cho phẳng.

Câu 7. Nòi rắn độc kia – Khi thấy dân chúng vây quanh mình với sự ngưỡng mộ, Gio-an Tẩy Giả không hề cảm thấy vinh dự, thỏa mãn, nhưng đã dành cho họ một lời cảnh báo nghiêm khắc. Đối tượng mà ông nhắm tới chủ yếu là phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc.

Câu 8. sinh những hoa quả xứng với lòng sám hối – Khi một người biết tuân giữ lề luật, người ấy có quyền hưởng dùng những thứ lành mạnh của thế gian; đồng thời, có khả năng thực hiện những công việc của lòng mộ đạo mà không cần từ bỏ những thú vui vô hại – trừ khi anh ta muốn. Nhưng nếu người ấy phạm phải tội trọng, hãy để anh ta tiết chế bản thân trước ngay cả những gì vô hại đó, theo mức độ tương xứng với những gì anh ta đã gây ra vì sự nhượng bộ yếu đuối trước tội lỗi.

Rõ ràng, người phạm tội ít và người phạm tội nhiều sẽ cần lòng sám hối khác nhau. Và hãy để những người biết tự lên án mình bằng lương tâm như vậy làm những việc tốt lành cần thiết, để qua đó, bù đắp lại những tổn thương mà chính họ đã gây ra.

Theo Thánh Grêgôriô, đối với các tội nhân, nếu chỉ biết ăn năn chừa tội thì chưa đủ, chúng ta còn phải sinh hoa kết quả cho xứng đáng chiếu theo tội của mình trên tinh thần “làm lành lánh dữ” (Tv 37,27) mà Thánh Vịnh đã chỉ ra. Vì cũng giống như người bị trúng tên trên chiến trường, đâu phải chỉ cần rút tên ra là đủ, những còn phải chữa trị cho lành lặn cả vết thương bên ngoài.

đừng vội nghĩ bụng rằng: Chúng ta đã có tổ phụ Áp-ra-ham – Thánh Ambrôsiô nói: Anh em hãy coi chừng về cách mà Gio-an Tẩy Giả đã kéo người Do-thái ra khỏi việc khoe khoang gia phả và sự ảo tưởng về thân phận dòng dõi Áp-ra-ham; thay vào đó, ông tuyên bố rằng họ chỉ có thể hy vọng về phần rỗi của mình bằng thực hành sám hối và một đời sống thánh thiện. Đây là một bài học cho những người Công Giáo. Chúng ta đừng hy vọng tìm thấy Lòng Thương Xót của Thiên Chúa trong ngày sau hết với lý do là thành viên của tôn giáo chân chính, nhưng phải biết rằng Lòng Thương Xót ấy chỉ có thể có được nếu chúng ta biết sống theo những châm ngôn mà Chúa Giê-su đã truyền. Bởi như Thánh Phao-lô nói: “Giả như tôi… có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì” (1 Cr 13,2).

Câu 11. Ai có hai áo, thì chia cho người không có – Gio-an Tẩy Giả khuyến khích họ làm việc bố thí cho người nghèo, bằng cách cho đi những gì không cần thiết.

Theo cha Robert Witham, ở đây, chúng ta được dạy phải san sẻ cho những người thiếu thốn về bất cứ thứ gì mình đang có nhiều hơn mức đủ dùng; vì tình yêu của Thiên Chúa, Đấng đã trao ban cho chúng ta mọi sự.

Theo Thánh Basiliô Cả, việc thực thi bác ái đối với người nghèo được khuyến khích nhiều lần trong Kinh Thánh như một phương pháp hữu hiệu để chuộc lại lỗi lầm và tái hòa giải chúng ta với lòng thương xót bao la của Thiên Chúa. Đây là lời khuyên của ngôn sứ Đa-ni-en dành cho vua xứ Ba-by-lon là Na-bu-cô-đô-nô-xo: “tâu đức vua, xin vui lòng nghe theo lời thần đề nghị mà đái tội lập công, bằng cách làm việc nghĩa, là tỏ lòng từ bi đối với người nghèo” (Đn 4,24). Vì lẽ đó, Thánh Gio-an Kim Khẩu nói rằng: “Người nghèo chính là thầy thuốc, và đôi tay của họ là phương dược chữa lành cho thương tích của anh em” (Bài giảng 14 về Thư 1 gửi ông Ti-mô-thê).

Câu 15. biết đâu ông Gio-an lại chẳng là Đấng Mê-si-a – Có nhiều lý do khiến họ suy nghĩ như vậy, chẳng hạn như: những điều kỳ lạ xảy ra quanh sự kiện ông Gio-an ra đời; lời giảng hùng hồn, cuộc sống khổ chế và phép rửa mới lạ mà ông mang lại; dấu hiệu từ sự xuất hiện của các nhà chiêm tinh và việc Hê-rô-đê ra lệnh giết các Thánh anh hài.

Câu 17. Tay Người cầm nia rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi – Hình ảnh lúa trong sân mà Gio-an Tẩy Giả nói tới ở đây chính là tiền cảnh của Giáo Hội Chúa Ki-tô, nơi kẻ được gọi (lúa) thì nhiều, mà người được chọn (thóc mẩy) thì ít.

Câu 21. Đức Giê-su cũng chịu phép rửa – Về mục đích của việc chịu phép rửa trên sông Gio-đan, chính Chúa Giê-su đã nói rằng: “chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” (Mt 3,15). Vậy đức công chính Người nói tới ở đây có nghĩa là gì, nếu không phải là trách nhiệm tự mình thực hiện trước tiên những gì chúng ta muốn người khác thực hiện? Do đó, đừng ai từ chối Phép Rửa của ân sủng Thiên Chúa, vì chính Chúa Ki-tô đã không từ chối phép rửa của lòng sám hối ăn năn.

Theo Thánh Ambrôsiô, mặc dù mọi tội lỗi của chúng ta đều được tha thứ trong Bí tích Rửa Tội, nhưng sự yếu đuối của xác thịt vẫn chưa được củng cố cách hoàn hảo. Sau khi vượt qua “Biển Đỏ” và vui mừng trước sự hủy diệt dành cho “người Ai-cập”, để đảm bảo chắc chắn những ân sủng nhận được nơi Chúa Ki-tô, chúng ta vẫn phải chiến đấu không ngừng nhằm chống lại những kẻ thù đợi sẵn trong sa mạc thế gian, cho tới khi đặt chân vào Đất Hứa cần phải đến là Nước Trời.

trời mở ra – Theo Thánh Bê-đa Khả Kính, người ta nói rằng các tầng trời đã được mở ra, bởi vì chúng đã bị đóng lại cho tới khi Đức Giê-su chịu phép rửa. Kể từ đây, con người, mặc dù là thụ tạo vốn sinh ra dưới thế, sẽ được nhận vào chung hàng ngũ với các vị thiên thần.

Câu 22. chim bồ câu – Lý do Chúa Thánh Thần hiện ra dưới hình dáng chim bồ câu là vì Người không thể được nhìn thấy trong bản thể Thiên Chúa. Nhưng tại sao lại là chim bồ câu? Có lẽ là để diễn tả sự đơn sơ trong bí tích rửa tội. Hình ảnh đơn sơ như bồ câu (Mt 10,16) biểu thị sự bình an được trao ban qua phép rửa, được tiên trưng bởi nhánh ô-liu mà con chim bồ câu mang về tàu ông Nô-ê (St 8,11) – hình bóng của Giáo Hội và nơi ẩn náu an toàn duy nhất trong trận đại hồng thủy.

Câu 23. Trước hết, có thể thấy gia phả này và gia phả trong Tin Mừng Mát-thêu có sự khác biệt khá lớn; đồng thời, trong mỗi gia phả cũng có những chi tiết cần được làm sáng tỏ. Chúng ta sẽ cùng nhau giải quyết vấn đề bằng cách trang bị một số kiến thức tiên quyết:

1. Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, từ “sinh ra” được áp dụng cho cả mối quan hệ xa và gần trong một dây huyết thống nối kết giữa con cháu với tổ tiên. Ví dụ, nếu A là con, B là cháu và C là chắt của D, thì chúng ta có thể nói rằng D sinh ra B (hoặc C).

2. Từ “sinh ra” không chỉ áp dụng với con cái tự nhiên của một người, mà còn với con cái được gán cho người ấy theo luật. Trong đó, một trường hợp thường xảy ra là:

3. Nếu một người đàn ông kết hôn với con gái duy nhất của người khác, trong sự nhìn nhận của luật Híp-ri, anh ta trở thành con trai được gán cho người đó theo luật. Chính vì vậy, trong phong tục của người Do-thái, họ thường không ghi tên của phụ nữ trong gia phả. Nếu một gia đình kết thúc bởi một người con gái, gia phả của họ sẽ được chép tiếp bằng tên của con rể.

4. Dựa theo các tài liệu tin cậy ngoài Kinh Thánh, ta biết rằng song thân Đức Ma-ri-a là Thánh Gioa-kim và Thánh An-na. Về mặt ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu nhận thấy tên Joachim (Gioa-kim) dường như là một dạng biến thể của Eliacim, được viết tắt là Eli, một biến thể của Heli (Ê-li). Do đó, mặc dù hai cái tên thoạt nhìn có vẻ khá khác nhau nhưng có một sự tương đồng về ngôn ngữ rất lớn giữa Ê-li và Gioa-kim.

5. Trong Tin Mừng Mát-thêu, từ ông Áp-ra-ham tới Thánh Giu-se, “con” của một người luôn được gọi theo lẽ thông thường và dựa trên huyết thống trực hệ, Áp-ra-ham sinh I-sa-ác. Nhưng trong Tin Mừng Lu-ca, từ Chúa Giê-su lên tới Thiên Chúa, chữ “con” đã không được sử dụng một cách thống nhất. Ví dụ: Chúa Giê-su chỉ là con nuôi của Thánh Giu-se – bạn trăm năm Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Mẹ của Chúa; A-đam chỉ là con của Thiên Chúa theo nghĩa là được Người sáng tạo.

Hệ quả:

  • Dựa vào điều 1, chúng ta giải thích được việc bỏ sót một số thế hệ trong gia phả Đức Ki-tô của Thánh Mát-thêu.
  • Dựa vào điều 2, 3, 4 và 5, chúng ta có thể hiểu tại sao trong Tin Mừng Lu-ca, San-ti-ên là con của Nê-ri và Thánh Giu-se là con của Ê-li (Thánh Gioa-kim), dù họ đều là con rể.

Như vậy, mọi chuyện đã rõ:

  • Thánh Giu-se là con ông Gia-cóp, Đức Ma-ri-a là con ông Ê-li (Thánh Gioa-kim).
  • Cả Gia-cóp và Ê-li đều là hậu duệ của Dơ-rúp-ba-ven, ông Gia-cóp thuộc nhánh A-vi-hút và ông Ê-li thuộc nhánh Rê-sa (em trai A-vi-hút).
  • Dơ-rúp-ba-ven là con San-ti-ên. San-ti-ên là con ruột Giơ-khon-gia (1 Sb 3,17) và là con rể của Nê-ri.
  • Theo nhánh Giơ-khon-gia, Thánh Giu-se và Đức Ma-ri-a là hậu duệ vua Sa-lô-môn; theo nhánh Nê-ri, các ngài là hậu duệ Na-than (anh vua Sa-lô-môn). Như vậy, nơi các ngài, dòng dõi vua Đa-vít đã được tái hợp.

Ý nghĩa: Thánh Mát-thêu bắt đầu gia phả Chúa Giê-su với ông Áp-ra-ham – đây là lời hứa về Đấng Mê-si-a được Thiên Chúa thực hiện cho dân Do-thái; Thánh Lu-ca bắt đầu gia phả Chúa Giê-su với ông A-đam – đây là lời hứa về Đấng Mê-si-a được Thiên Chúa thực hiện cho mọi dân tộc.

Ngoài ra, trong gia phả theo Thánh Lu-ca, có hai cái tên mà thánh sử liệt kê không được Cựu Ước ghi lại là Rê-sa và Nê-ri.

Sau cùng, bất kể khó khăn trong việc giải thích các gia phả này có là gì, thì rõ ràng, chúng xuất phát từ kiến ​​thức không đầy đủ của chúng ta về lề luật, phong tục, tập quán và thành ngữ của người Do-thái; và từ sự thiếu hiểu biết của chúng ta về phương pháp thực sự có thể hòa giải những điều dường như mâu thuẫn, hoặc từ một số sai sót có thể đã len lỏi vào bản văn theo thời gian. Không nghi ngờ gì nữa, sự im lặng của những kẻ thù đối với Tin Mừng, kể cả người Do-thái và dân ngoại, trong thế kỷ đầu tiên, tự nó đã là một bằng chứng đầy đủ rằng, không có mâu thuẫn hay sai sót nào có thể được người ta viện dẫn nhằm chống lại phần này của lịch sử Phúc Âm.