Giáo Hội thông thái và cuộc nổi loạn của các học giả Công Giáo

Lược dịch từ bài viết có tựa đề The Church Learned and the Revolt of the Scholars của Philip Trower (1923-2019) đăng trên tạp chí The Wanderer năm 1979. Philip Trower là một tân tòng, nhà thần học giáo dân, người viết tiểu thuyết người Anh và là người ủng hộ nhiệt tình Công đồng Vaticanô II. Ông từng tham gia vào quân đội trong Thế chiến thứ II với vai trò binh sĩ và sau đó là nhân viên tình báo. Được cải đạo sang Công Giáo năm 1953, ông đã dành thời gian tiếp theo của cuộc đời cho việc viết lách và làm cộng tác viên cho một số trang báo của Anh, Mỹ và Canada. Do thường xuyên được tiếp xúc với các nhà lãnh đạo Giáo Hội với vai trò người đưa tin, Philip Trower có vốn hiểu biết sâu rộng về các sự kiện xảy ra sau Công đồng và nguồn gốc lịch sử của chúng. Các tác phẩm nổi tiếng của ông bao gồm: A Danger to the State và Turmoil and Truth (NXB Dòng Tên); The Church and the Counterfaith (Family Publications).


Chương 1: Chủ nghĩa hiện đại đầu tiên

Khi nhìn về những sự kiện xảy ra bên trong Giáo Hội suốt 15 năm qua, nhiều người Công Giáo đã phản ứng như thể đó là một tảng đá từ trời rơi xuống nhưng không có chỗ để rơi, cũng không phải là một chiếc phi cơ phản lực lao vút qua bầu trời. Rốt cuộc điều gì đã gây ra sự bùng nổ của các cơn giận dữ, nổi loạn, lạc giáo, bội giáo và thù hận đối với tất cả những điều thuộc về Công Giáo? Dường như trật tự tự nhiên đã bị đảo lộn, với những tác động mà không có nguyên nhân, những vụ nổ mà không tìm đâu ra chất nổ hay người châm ngòi.

Ẩn dưới những cảm nghĩ này thường là một niềm tin cho rằng đời sống Công Giáo trước Công đồng – bỏ qua những thiếu sót thông thường – “ở trạng thái khá tốt”. Bất kỳ khiếm khuyết nào trong giai đoạn này có lẽ cũng không đủ nghiêm trọng để gây ra sự rối loạn và các tai họa như những gì xảy ra sau đó. Niềm tin này, đối với tôi, chắc chắn là sai lầm và chỉ làm tăng thêm nỗi buồn và sự hoang mang.

Quay trở lại thời điểm trước khi diễn ra Công đồng, tôi nghĩ bây giờ chúng ta đã có thể nhìn ra hai vấn đề đóng vai trò chủ yếu mà sự hiểu biết về chúng sẽ giúp chúng ta làm rõ hơn lý do vì sao một cuộc bội giáo lại có thể diễn ra đồng thời với một phong trào nhằm nỗ lực cải cách. Thứ nhất là sự suy giảm trầm trọng về đời sống đức tin của các tín hữu thuộc mọi cấp bậc, cả giáo sĩ và giáo dân (tức là chính chúng ta), được che đậy bởi những thực hành tôn giáo có vẻ là đẹp đẽ. Và thứ hai, cũng là vấn đề mà tôi muốn nói tới trong bài viết này, đó là sự lan truyền các lạc giáo hoặc những ý tưởng có xu hướng lạc giáo của một bộ phận giáo sĩ cấp cao. Khi nói đến những giáo sĩ cấp cao này, tôi không nói đến các vị Giám mục, Hồng y mà chính là các nhà thần học, các học giả, các nhà tư tưởng và các giảng viên tại các trường Đại học Công Giáo hoặc các viện nghiên cứu ở cấp độ cao hơn. Trên thực tế, họ được coi là tầng lớp trí thức Công Giáo có trình độ cao nhất trong Giáo Hội.

Vậy điều gì đã xảy ra trong thế giới của các giáo sĩ cấp cao này suốt 100 năm qua? Tại sao phần lớn tường thành Giê-ru-sa-lem lại sụp đổ thảm hại như đống gạch vụn trong khi thế giới hiện đại diễu hành xung quanh nó và thổi tù và? (x. Gs 6,20 để hiểu ý tác giả). Trước tiên, chúng ta hãy cùng tìm hiểu đôi nét về các cơ sở học tập và vấn đề học thuật trong Giáo Hội.

Bước trên con đường hẹp

Khi bất kỳ người Công Giáo nào muốn cống hiến tài năng của mình trong việc trình bày đức tin hoặc tham gia nghiên cứu nhằm giúp cho Giáo huấn của Giáo Hội được hiểu biết sâu rộng hơn, họ rõ ràng đang góp phần vào một công việc cao cả. Người ta sẽ nhớ về những điều tốt đẹp mà các học giả và các nhà thần học trung thành đạt được để cảm thấy biết ơn Chúa vì những ân huệ Ngài đã ban cho họ, điều đã làm nên những cuốn sách bổ ích; và để tri ân chính các học giả ấy, những người đã biết sử dụng ân huệ Chúa ban một cách khôn khéo và hiệu quả.

Trong khi công việc chính của các học giả Công Giáo thuộc nhóm này là giải thích, bảo vệ Mặc Khải của Thiên Chúa và bất kỳ sự thật nào liên quan đến nó; họ còn có một công việc tuy thấp hơn, nhưng có liên hệ với công việc chính và cũng rất quan trọng, đó là điều tra về những ý tưởng mới được đưa ra bởi cả những nhân vật bên trong và bên ngoài Giáo Hội, để phân biệt điều gì đúng, điều gì sai và để xem các yếu tố của nó có hài hòa với Mặc Khải chính thức hay không. Đây có lẽ phần khó nhất trong công việc của họ, vì giữa một thế giới chồng chất những ý tưởng được sinh ra từ suy đoán của con người luôn gia tăng không ngừng, họ có thể dễ dàng đi sai đường và rơi vào hố sâu.

Tôi nghĩ điều đầu tiên trong số những cạm bẫy mà các học giả Công Giáo gặp phải là khuynh hướng say mê đối tượng mà họ điều tra. Đối với sinh viên nghiên cứu về các tôn giáo khác, chính các tôn giáo này và tín đồ của họ bắt đầu có chỗ đứng cao nhất trong tâm trí của một số người; tình trạng tương tự cũng xảy ra với sinh viên học về thời kỳ đồ đá hay các chủ nghĩa triết học. Khi đó, “đối tượng nghiên cứu” đã trở thành mối quan tâm chính và mang lại niềm say mê cho cuộc sống của họ, trong khi thật trớ trêu, đức tin Công Giáo đã bị xem như một phần phụ nhàm chán. Hậu quả sẽ đặc biệt tai hại nếu học giả kiểu này là một vị linh mục. Không những vậy, bên cạnh niềm say mê này, còn có một sự thôi thúc đối với các học giả lạc đường là họ cố gắng làm cho “chủ thể nghiên cứu” của mình và đức tin Công Giáo trở nên giống nhau nhất có thể. Công việc học tập cùng với đời sống trí thức đã trở thành một tình yêu vĩ đại và dường như là một thứ tôn giáo mới thay thế mà họ coi là ở đẳng cấp cao hơn so với đức tin Công Giáo. Đồng thời, những người đồng nghiệp uyên bác, bao gồm cả những người ngoại đạo, sẽ trở nên gần gũi về mặt tinh thần với họ hơn phần lớn các tín hữu Công Giáo còn lại.

Khi xem xét những điều này, thật lạ lùng là có một số người Công Giáo – mặc dù không được dạy để suy nghĩ nhiều hơn về những gì có thể được gọi là Giáo Hội thông thái; đồng thời, không có những ưu tiên cá nhân cho đời sống cầu nguyện và đền tội, vốn là những việc cần thiết hơn cả cho phần rỗi và liên quan nhiều đến đức tin – lại là người đứng ở những vị trí phơi bày của Giáo Hội trước thế giới bên ngoài. Họ giống như những lính canh trên các trạm gác dưới làn đạn xối xả của đối phương. Khi nghiên cứu các cuốn sách mới và các ấn phẩm tri thức, họ sống trong vô vàn cám dỗ thuộc một loại mà hầu hết các tín hữu không bao giờ trải qua.

“Ồ, thật là một ý tưởng tuyệt vời. Nhưng điều gì sẽ xảy ra với giáo lý về ân sủng? Có lẽ tôi nên cầu nguyện trước khi đọc tiếp. Không, tôi không có thời gian. Điều quan trọng hơn là phải tiếp tục công việc của mình. Làm việc cũng là cầu nguyện mà (Laborare est orare). Giáo Hội có thể sai; nó chưa bao giờ được định nghĩa. Làm sao một Giám mục ngốc nghếch có thể hiểu được những ý tưởng phức tạp như vậy.”

Và mối nguy hiểm chính không phải là họ sẽ đi sai đường – bất kỳ ai cũng có thể mắc sai lầm – nhưng một khi đã mắc phải nó, họ sẽ kiên quyết tiến lên phía trước bất chấp những lời cảnh báo.

Khiêm tốn trong sự phục tùng

Như chúng ta đã biết, đối với các học giả Công Giáo, họ được bảo vệ vững chắc nhờ vào sự vâng phục đối với thẩm quyền giảng dạy của Giáo Hội và luôn sẵn sàng đặt những kết luận của cá nhân dưới phán quyết của thẩm quyền này. Nếu họ sẵn lòng thực hiện điều đó và nhận ra rằng bất chấp trí thông minh và học thức của mình, họ không phải là người có thẩm quyền cuối cùng trong các vấn đề đức tin và cũng không phải người có thể quyết định xem một ngành nghiên cứu cụ thể sẽ liên quan đến đức tin và luân lý ở mức độ và cách thức như thế nào; trong điều kiện như vậy, họ được an toàn.

Có một phần trong những bí ẩn liên quan đến Giáo Hội mà Chúa Giê-su thiết lập đó là cách Người lên kế hoạch và sắp đặt các vị trí trong sứ mệnh truyền giáo, Người không chọn những bậc khôn ngoan, thông thái làm tông đồ và những nhà lãnh đạo mà để cho các triết gia Hy-lạp hay bất kỳ ai giống họ, phải tùng phục những dân chài miền Ga-li-lê. Hình ảnh ba nhà chiêm tinh bái lạy Chúa Giê-su Hài Nhi có thể được coi là một hình mẫu cho điều này. Đối với một Giáo Hoàng hay một vị Giám mục, ngài có thể được học, nhưng việc học này không bổ sung thêm gì cho quyền hạn của ngài. Quyền phán xét của ngài đối với các ý tưởng của ngay cả một nhà tư tưởng lỗi lạc nhất cũng chỉ xuất phát từ thực tế rằng ngài là người kế vị của một trong những tông đồ thuộc tầng lớp lao động và ít được học hành của Chúa Giê-su. Thánh Phao-lô, một người có “bằng đại học”, cũng chỉ trở thành tông đồ sau khi đã biết tự hạ mình. Chính ngài cũng từng nói: “Người khôn ngoan đâu? Người học thức đâu? Người lý sự của thời này đâu? Thiên Chúa lại đã không để cho sự khôn ngoan của thế gian ra điên rồ đó sao?” (x. 1 Cr 1,17-31).

Có lẽ cũng không quá khó để nhận ra mục đích đằng sau kế hoạch này của Thiên Chúa. Tất cả những gì Người sắp đặt đều là để hướng chúng ta đến việc giữ cái tôi nhỏ bé của mình trong sự tự hạ, vì đây là con đường duy nhất để bước vào Thiên Đàng. Nhưng sự sắp đặt này sẽ không dễ dàng được chấp nhận một cách tự nhiên bởi những người tài giỏi, dù trí tuệ của họ là do Chúa ban. Khi đức tin đủ mạnh, họ có thể làm được; nhưng khi đức tin suy giảm, nó trở thành một thứ dị vật mắc kẹt trong cổ họng của họ. Để rồi, thay vì là tôi tớ của Chúa Ki-tô và Giáo Hội, họ trở thành đầy tớ của các quyền lực thế gian hoặc đi theo hướng tìm kiếm danh vọng cho sự nghiệp của mình, chẳng hạn như cách William Ockham (1287-1347), một tu sĩ dòng Phan-xi-cô đã chống lại Giáo Hoàng Gio-an XXII và bỏ trốn khỏi Avignon để phát triển tư tưởng triết học của ông.

Đối với tôi, một trong những khía cạnh kém hấp dẫn nhất của các nhà thần học đã tạo được tên tuổi sau Công đồng là sự ích kỷ và kiêu căng đến nhẫn tâm của họ. Những bối rối và hoang mang mà họ gây ra cho những con người đơn sơ và bé mọn, những nhóm người đông đảo chối bỏ hoàn toàn đức tin mà chính họ là tác nhân, rõ ràng là không đủ để khiến họ bận tâm. Miễn sao họ được viết những gì họ muốn và tạo được tên tuổi cho bản thân mình, thì không có thứ gì có thể làm cho họ phiền lòng. Nếu các bác sĩ cũng hành xử như vậy, bằng cách để lại phía sau những xác chết và những bệnh nhân tàn phế, điều họ nhận được không phải là danh tiếng, mà là sự sỉ nhục.

Nhưng các nhà thần học giải phóng không chấp nhận kế hoạch của Thiên Chúa dành cho Giáo Hội. Thế giới đã bước vào thời đại của các chuyên gia, họ tin rằng các học giả hay các nhà thần học phải được chiếm giữ các vị trí trong Giáo Hội ở cùng một nơi mà các nhà khoa học mong đợi cuối cùng sẽ chiếm được trong xã hội thế tục, đó là vị trí điều hành! Đây là giấc mơ hoang đường và ảo tưởng của các nhà thần học giải phóng, và tình cờ cũng là của các nhà khoa học và giới trí thức thế tục. Những trí thức thực sự hầu như không bao giờ là những người cai trị, ngoại trừ một giai đoạn ngắn trong thời kỳ tai họa và hỗn loạn. Bởi vì bản chất của những ân huệ mà họ nhận được đã khiến họ mất khả năng trong công việc này. Chúng ta phải tạ ơn Chúa vì rất hiếm có nhà tư tưởng nào cũng đồng thời là người thống trị, và quả thật nếu có, nhân loại thường thở phào nhẹ nhõm khi thấy họ bị gọi ra khỏi thế gian.

Sự thật phải được giữ nguyên vẹn

Thực tế thứ hai khiến các nhà thông thái trong Giáo Hội có thể bị cám dỗ và trở nên mất phương hướng là sự khác biệt của Mặc Khải đối với các loại kiến thức khác, nó là một chân lý đến trực tiếp từ Thiên Chúa, hoàn chỉnh và hoàn toàn chắc chắc. Nó không phải là một mớ thông tin hỗn độn có được một cách tự nhiên mà người ta có thể liên tục thêm thắt những điều mới lạ hay loại bỏ những chi tiết mà họ cho là sai lầm (lưu ý rằng sự phát triển giáo lý và những đổi mới định kỳ của thần học – những môn học bị lạm dụng nhiều – không được thảo luận ở đây, nhưng chúng không làm thay đổi những gì tôi vừa nói). Đây là lý do tại sao các nhà thần học và học giả Công Giáo không thể được hưởng quyền tự do học thuật như đòi hỏi của một số vị, dù họ mong mỏi nó đến mức nào.

Về điểm này, các học giả Công Giáo lại tiếp xúc với một cám dỗ khác; lần này không phải là sự kiêu căng hay ích kỷ mà là nỗi sợ các đồng nghiệp ngoài Công Giáo của mình, sợ cái nhướng mày và những tiếng cưới khúc khích trong các cuộc họp của giới học thuật hay trong phòng sinh hoạt chung của các trường đại học. “Ồ, xin cha thứ lỗi, con quên là cha phải xin ý kiến Đức Giáo Hoàng trước khi đồng ý điều này.” Và vị linh mục ấy, tiếc thay, đã không trả lời rằng ông cảm thấy vui mừng khi được đệ trình những ý tưởng liên quan đến đức tin và luân lý lên Đức Giáo Hoàng, bởi vì Mặc Khải của Thiên Chúa cần được bảo vệ trước những sự mơ hồ trong quan điểm của loài người; thay vào đó, ông rơi vào tâm trạng ủ dột và nản chí. Tại sao ông ấy lại phải tính toán đến rất nhiều người Ý ở Rô-ma không biết gì về khoa học? Công việc truyền tải đức tin quả là gánh nặng với một người sống trong môi trường học thuật văn minh này, nó giống như một cái hòm cũ tồi tàn chứa đầy quần áo sờn rách. Nếu ngày nay các học giả Công Giáo vẫn trung thành với Giáo Hội, họ cần phải tách mình ra khỏi sự tôn kính con người một cách mạnh mẽ.

Ngoài ra, sự khác biệt của Mặc Khải so với các loại kiến thức thông thường còn được thể hiện ở một khía cạnh nữa. Trong việc nghiên cứu các vấn đề thế tục, trí thông minh và sự chăm chỉ của con người gần như là đủ. Nhưng để nghiên cứu và hiểu biết đúng đắn về thần học Công Giáo, Kinh Thánh và lịch sử Giáo Hội thì người ta còn phải cần đến những điều khác quan trọng hơn. Nếu chỉ có năng khiếu và những phẩm chất tự nhiên, con người cũng có thể đạt được một vài thành tựu cá nhân nào đó. Nhưng trong lĩnh vực thần học, những khiếm khuyết và sự thiếu niềm tin nơi người nghiên cứu có thể gây ra những hậu quả tai hại. Chẳng hạn như trường hợp của Sigmund Freud (1856-1939), chủ nghĩa vô thần và sự độc đoán đã khiến ông ta mù quáng tới mức dường như trở thành một con người hoàn toàn khác.

Đức tin là điều cần thiết

Đầu tiên, để có thể hiểu thì người ta phải tin. Với các nhà sử học ngoại đạo, khi nghiên cứu về Giáo Hội, có thể nói rằng họ biết về thần học và đời sống Công Giáo nhiều hơn hầu hết những người có Đạo; nhưng thực tế, về mặt ý nghĩa sâu xa, họ không hiểu những gì họ biết. Điều này cũng đúng với các học giả Công Giáo khi có những nghi ngờ được đưa ra.

Tuy nhiên, chỉ tin thôi thì không đủ, đức tin chắc phải đi cùng với việc học nữa thì mới tốt được. Nhưng nếu một học giả Công Giáo tự cho phép mình trở nên khô khan, tham vọng, hoài nghi hay ích kỷ, có một điều rất dễ xảy ra là anh ta sẽ chỉ có hiểu biết nông cạn về chủ đề nghiên cứu của mình. Khi các nhà thần học và học giả của Giáo Hội đi xa hơn và nghĩ rằng sự hiểu biết tinh tường về chủ đề của họ phụ thuộc vào kỹ năng trí tuệ của bản thân hơn là dựa vào ân sủng của Chúa, họ sẽ bắt đầu trở nên mù quáng. Một đánh giá chủ quan cực kỳ cao về mình với tư cách là một học giả dường như đã đưa Dollinger (1799-1890) ra khỏi Giáo Hội và khiến Lãnh chúa Acton (1834-1902) trở thành một tín hữu bất phục tùng. Trong lịch sử, những người thông minh và uyên bác thường là những người đầu tiên mắc phải sai lầm mới. Vào đầu thế kỷ này, khi một linh mục lừng danh, người sau này đã rời khỏi Giáo Hội, bắt đầu rao giảng lạc giáo tại một nhà thờ nổi tiếng ở Luân Đôn, người đầu tiên nhận ra những sai lầm của ông là một anh giáo dân làm việc nội trợ, còn những nhà thông thái, những người dành cả ngày để đọc sách, thì chậm hiểu hơn.

Những lưu ý kể trên về những cám dỗ và khó khăn tự nhiên, vốn đang vây hãm các học giả Công Giáo, được đưa ra trước tiên trong bài viết này để đặt cơ sở cho điều tiếp theo mà tôi sắp nói tới. Không nghi ngờ gì nữa, hầu hết những lưu ý này đều khá rõ ràng, nhưng nếu không đặt chúng vào tâm trí, chúng ta sẽ khó lòng hiểu rõ hơn vì sao thế kỷ này lại chứng kiến ​​một cuộc nổi loạn dữ dội của các học giả và các nhà thần học như vậy. Trong những thảm họa này, nguyên nhân hàng đầu luôn luôn là vấn đề luân lý và tu đức trước khi xét đến khía cạnh trí thức.

Mầm mống của chủ nghĩa hiện đại

Người Công Giáo, như chúng ta đã biết, luôn bị ảnh hưởng bởi những ý tưởng đến từ bên ngoài Giáo Hội, một tỷ lệ nhất định trong số đó là những điều có hại. Khi đức tin khỏe mạnh, “hệ miễn dịch” có thể giúp chúng ta đẩy lui những ý tưởng này; nhưng khi đức tin trùng xuống, dù chỉ một chút thôi, nó sẽ bị sẽ lập tức bị xâm lấn; và khi đức tin rơi vào tình trạng yết ớt, què quặt, nó sẽ không còn chống đỡ nổi trước hàng loạt những “căn bệnh nhiễm trùng”.

Câu chuyện như thế bắt đầu xảy ra vào giữa thế kỷ trước, nó khởi đầu cho một quá trình mà hiện tại đang đạt đến đỉnh điểm.

Vào khoảng năm 1860, giới trí thức Công Giáo lần đầu tiên cảm nhận được đầy đủ tác động của một vấn đề có sức ảnh hưởng sâu rộng – tư tưởng hiện đại. Bị lóa mắt bởi thanh thế của khoa học và học thuật thế kỷ XIX cùng những kỳ công của kỹ thuật, một số người bắt đầu chấp nhận toàn bộ những hệ tư tưởng và các ý tưởng suy đoán mới ra đời như những sự thật chắc chắn và tìm cách thay đổi đức tin Công Giáo sao cho phù hợp với chúng.

Ý định ban đầu của họ là tông truyền, nghĩa là tách lấy tất cả những gì có thể chấp nhận được trong tư tưởng hiện đại và chỉ ra tính hài hòa của chúng đối với đức tin Công Giáo. Công việc này giúp loại bỏ các trở ngại không đáng có ngăn cản những người đương thời nhìn thấy Chúa Ki-tô trong Giáo Hội của Ngài, và cũng tránh được việc các tín hữu phản ứng tiêu cực với những điều tốt đẹp tự nhiên. Lúa mì trong tư tưởng hiện đại phải được tách khỏi trấu – một ý định đáng khen. Đây cũng là ý tưởng đằng sau ý nghĩa thực sự mà Giáo Hoàng Gio-an XXIII ngụ ý khi ngài dùng chữ “aggiornamento” – cập nhật.

Nhưng người ta có thể nhìn thấy những mầm mống của rắc rối ở đây, chủ yếu qua cách họ nói về công việc phải làm.

Người ta nói rằng Giáo Hội phải được giao hòa với “thời hiện đại” hay “tinh thần thời đại”. Vincenzo Gioberti (1801-1852) là một trong những người sớm nhất đưa ra yêu cầu này. Nhưng tinh thần thời đại là gì? Chúng ta có thể làm bạn với nó đến mức độ nào? Nếu ý tưởng của nó là sai, liệu chúng ta có thể thuyết phục nó từ bỏ ý tưởng của mình không, và nếu không, chúng ta có thể cộng tác với nó một cách an toàn trong phạm vi nào? Đây là những câu hỏi mà Jacques Maritain (1882-1973) đã dành phần lớn cuộc đời mình để vật lộn, và cũng làm nền cho một số cuộc tranh luận tại Vaticanô II trong việc biên soạn các văn kiện của Công đồng.

Nếu chúng ta coi thời đại được điều hành bởi một nhóm người gồm đủ mọi thành phần hay một tổ chức đầu sỏ vô chính phủ, việc đối thoại với nó sẽ không có nhiều khó khăn. Khi đó, người Công Giáo có thể kết bạn với những người tốt và xa lánh hoặc đóng cửa với những người xấu. Theo nghĩa này, việc Giáo Hội luôn tự giao hòa với thời hiện đại – không có thời nào là không hiện đại – thường có nghĩa là khoan dung với những gì mình không chấp thuận nhưng không thể sửa chữa; điều tốt nhất mà Giáo Hội có khả năng làm được là giảm thiểu những tác hại nghiêm trọng nhất một cách tối đa. Tuy nhiên, trong tình huống này, Giáo Hội sẽ phải đối mặt với thực tế là có một tỷ lệ nhất định trong số con cái mình sẽ tiến hành một cập nhật (aggiornamento) sai cách đối với thời đại, một thứ tình yêu bồng bột – thời kỳ Phục hưng và phong kiến đã ​​cung cấp cho chúng ta một số ví dụ nổi bật – mà hậu quả của nó sẽ khiến các giáo hữu thánh thiện của hậu thế phải tốn nhiều thời gian và công sức để hoàn tác (những người của thế kỷ XXI rõ ràng sẽ phải vất vả làm thứ công việc này).

Đến một mức độ nào đó, những tranh chấp về vấn đề nêu trên sẽ đưa tới việc phải trả lời câu hỏi: “Thời hiện đại nhiều điều tốt hơn điều xấu, hay điều xấu nhiều hơn điều tốt?” Và người ta đã thấy ở nơi những người như Gioberti một khuynh hướng, khuynh hướng này sẽ trở nên rõ rệt hơn trong các thế hệ người Công Giáo tiếp theo, đó là việc họ coi “thời hiện đại” hay “tinh thần thời đại” như một tổng thể không thể phân chia, tự bản thân nó đã là tốt và người ta chỉ có thể chọn một trong hai phương án: chấp nhận hoặc từ chối. Đây là một cách tiếp cận quá đơn giản đối với một người Công Giáo. Thời hiện đại – nếu chúng ta muốn nói đến những ý tưởng và lực lượng đã bị buông lỏng bởi cuộc khai sáng thế kỷ XVIII và cuộc cách mạng công nghiệp – được đặc trưng bởi những thành tựu vật chất và khoa học kỹ thuật xuất sắc, một số khát vọng chính đáng và thậm chí cao cả, nhưng rõ ràng, bao gồm cả những sai lầm sâu xa về triết học và tâm linh mà việc con người không sẵn lòng xem mình là một loài thụ tạo là tư tưởng đáng lưu ý nhất.

Trở nên được khai sáng

Một phương pháp khác mà người ta nói đến khi xác định công việc phải làm là vấn đề tập hợp đức tin với khoa học hoặc đức tin với lý trí. Vấn đề này cũng không phải là không có những hạt giống của sự hiểu lầm. Khi một thực tế nảy sinh theo cách tự nhiên, nếu nó đúng là thực tế và vẫn tiếp tục tồn tại, đức tin không bắt chúng ta phải phủ nhận. Nhưng sẽ cần rất nhiều thời gian để người ta có thể hiểu được ý nghĩa của một thực tế là gì, trong khi những bí ẩn mà Thiên Chúa đã tiết lộ cho con người thường có vẻ mâu thuẫn với thực tế tự nhiên và lớp vỏ bên ngoài. Khi chúng ta nói về việc tập hợp đức tin với lý trí hay khoa học, chúng ta nghĩ gì trong đầu? Có phải chúng ta cần làm cho những bí ẩn mà Thiên Chúa đã tiết lộ được xuất hiện nơi đối tượng thực tế của mình, để qua đó, những người ngoại đạo có thể thấy rằng nó “hợp lý”?

Tôi nghĩ chủ đề này sẽ ít bị hiểu lầm và những điều chúng ta cảm thấy bị đe dọa sẽ trở nên rõ ràng hơn nếu thay vì nói đến đức tin và lý trí, người Công Giáo luôn nói về kiến thức siêu nhiên và kiến thức tự nhiên. Chúng là hai nguồn thông tin và hai nguồn kiến thức, nguồn thứ nhất là thứ quý giá hơn và cho phép trí óc con người thâm nhập sâu hơn vào thực tế. Còn mối ngăn trở khi nói về đức tin và lý trí, hay đức tin và khoa học, là nó ngay lập tức đặt đức tin vào thế bất lợi. Đối với nhiều người, đức tin bị xem như câu chuyện của những cảm giác lờ mờ và những ước muốn mơ hồ, trong khi lý trí và khoa học được coi là rõ ràng, chính xác và là cơ sở để giải quyết các vấn đề thực tế. Do đó, khi người ta cố gắng làm cho hai loại kiến thức tự nhiên và siêu nhiên trở nên hài hòa, lý trí và khoa học luôn chiếm thế thượng phong trong mọi cuộc thảo luận về các vấn đề nảy sinh, cho dù thực tế, chúng chỉ được coi là đại diện cho những đòi hỏi của kiến thức tự nhiên hay những quan điểm nằm ngoài đức tin.

Vào những năm 1870, các học giả uyên bác mà tôi đang nói đến đã bắt đầu cố gắng làm cho đức tin, hay kiến ​​thức siêu nhiên, trông “hợp lý” trong mắt những người ngoại đạo đương thời, theo cách mà tôi đã mô tả; nhưng nó cũng là một dấu hiệu nào đó cho thấy rằng đức tin đối với họ đã bắt đầu có vẻ “vô lý”, tức là không thể tin được. Dưới ảnh hưởng của việc học hành, hay đúng hơn là những cám dỗ đi cùng với nó, đức tin trong họ đã sụp đổ. Tiếng nói của học vấn thế tục dường như có thẩm quyền cao hơn tiếng nói của Giáo Hội ngay cả trong các vấn đề tôn giáo, và họ coi đó như một nguyên tắc, rằng bất cứ khi nào xảy ra một cuộc xung đột về ý tưởng, Giáo Hội luôn là người phải nhường bước và điều chỉnh suy nghĩ của mình. Thay vì tách lúa mì khỏi trấu, họ bị nhiễm sở thích dành cho trấu và bắt đầu buôn lậu nó để tuồn vào các kho lúa của Giáo Hội.

Đây chính là nguồn gốc của chủ nghĩa hiện đại, và sự lệ thuộc trí tuệ vào học vấn thế tục đã trở thành đá tảng của nó. Vào giai đoạn cuối của quá trình này mà hiện nay nó đang đạt tới, tất cả Mặc Khải của Thiên Chúa đã bị gạt sang bên lề như một câu chuyện cổ tích mà con người bịa ra để giải thích mọi thứ trước khi họ có thể nghĩ, và “khoa học” cùng với “tư tưởng hiện đại”, được chấp nhận trong tính tổng thể của chúng như là nguồn kiến ​​thức duy nhất, mà từ đó, người ta dệt thành một tôn giáo. Ở đây, chúng ta đang quan sát một quá trình tiến hóa thực sự, đó là sự biến đổi của một loài thụ tạo. Khi quá trình này hoàn tất, người Ki-tô hữu sẽ không còn nữa, thay vào đó, một nhân vật thế tục được khai sáng với đầy đủ tư cách sẽ chính thức xuất hiện để thay thế.

Trung tâm bánh xe chủ nghĩa hiện đại

Giai đoạn đầu tiên của chủ nghĩa hiện đại kéo dài từ khoảng năm 1875 đến năm 1910, khi nó bị chặn đứng bởi (hoặc được cho là bởi) Thánh Giáo Hoàng Piô X (tại vị 1903-1914). Sau đó, phong trào này bước vào hoạt động âm thầm trong 50 năm và tiếp tục nổi lên sau cái chết của Đức Giáo Hoàng Piô XII (tại vị 1939-1958).

Trong giai đoạn đầu tiên, nó chỉ giới hạn trong phạm vi những người có học thức và chỉ một số ít các tín hữu bị ảnh hưởng. Điều xảy ra tiếp theo là một thứ tình anh em trí thức giữa những người cùng chí hướng dường như đã nảy sinh một cách tự phát; những người đang đọc những cuốn sách giống nhau, do đó, có những suy nghĩ giống nhau, hoặc qua thư từ, họ dần trở nên quen biết.

Trong những năm từ 1888 đến 1900, một phần trong số đó đã được tập hợp tại một loạt “hội nghị khoa học quốc tế” của người Công Giáo (chủ yếu là những cuộc gặp mặt của các nhà sử học, học giả Kinh Thánh và triết gia) được sắp xếp bởi Đức ông Maurice d’Hulst (1841-1896), hiệu trưởng trường Đại học Công Giáo Paris (Institut Catholique), một viện nghiên cứu Công Giáo được thành lập năm 1875 dành cho các học giả có khả năng giải đáp trên cơ sở đức tin về các cuộc tấn công được thực hiện dưới danh nghĩa học tập và khoa học.

Nhân vật tích cực nhất là Nam tước Friedrich von Hugel (1852-1925), một công dân Anh gốc Áo, người dành phần lớn cuộc đời mình sau này ở Cambridge. Ông là người bận rộn với tôn giáo, học thức cao và đọc nhiều sách vở. Von Hugel có một niềm say mê trong việc liên kết các linh mục và giáo dân có ý tưởng hoài nghi lại với nhau và khuyến khích họ kiên trì công việc của mình khi thấy họ có dấu hiệu bỏ cuộc. Ông sống cho đến năm 1925 và đã tạo được danh tiếng đáng nể đối với những người Công Giáo Anh; những người trong cuộc hiểu chuyện đã cố gắng giảm thiểu chủ nghĩa hiện đại của ông, trong khi những người còn lại không biết gì về nó. Rất khó để biết von Hugel đã tin gì trong những thời điểm khác nhau, nhưng vào năm 1900, dường như đó không phải là đức tin Công Giáo. Linh mục Dòng Tên, cha George Tyrrell (1861-1909), người cũng theo chủ nghĩa hiện đại, sau khi nghe von Hugel nói về tôn giáo vào một buổi tối, đã tổng kết quan điểm ​​của ông trong một câu ngắn gọn: “Không có gì là đúng, nhưng tổng của những thứ không có gì là một điều vĩ đại.” Lời nhận xét này, theo tôi, cũng được xác nhận bởi những người cùng thời khác. Mặc dù vậy, ông khá là sùng đạo, điều đã gây kinh ngạc cho những người bạn Pháp có lý luận hơn ông. Ông rất thích làm người linh hướng cho những linh hồn đang gặp khó khăn, và đôi khi, ông đảm bảo với những người Tin Lành rằng tốt hơn là họ không nên cải đạo sang Công Giáo. Nhưng phần lớn những lời khuyên khác của ông là hoàn toàn đúng đắn, vì ông đã quá quen với các bậc thầy vĩ đại trong đời sống đức tin. Theo tôi, những hiểu lầm mà người ta dành cho von Hugel chủ yếu bắt nguồn từ tính cách lập dị và nhạt nhẽo của ông; ông dường như một người bị cám dỗ để phát biểu và tâm lý thì rất khó để nắm bắt. Giống như những người theo chủ nghĩa hiện đại khác trong thời kỳ này, ông có một thói quen viết lách hết sức kỳ quái, giống như có một tính cách thứ hai hoàn toàn khác trong con người ông; đôi khi ông viết bằng văn phong của một tu sĩ sùng đạo hay một nữ tu thích chiêm niệm, nhưng khi khác lại giống như một biên tập viên làm việc cho tạp chí của những người theo chủ nghĩa hoài nghi. Linh mục Dòng Tên, cha Teilhard de Chardin (1881-1955) cũng có sở trường như vậy.

Von Hugel chắc chắn không tạo ra chủ nghĩa hiện đại, nhưng kiến thức về ngôn ngữ, địa vị xã hội và sự độc lập về tài chính đã giúp ông trở thành người đóng vai trò quan trọng cho phong trào này theo cách mà người khác không dễ gì thực hiện được. Do đó, ông đã tạo cho nó một sự gắn kết mà nếu không có sự gắn kết này, những biện pháp mà Đức Piô X đưa ra để dập tắt phong trào, đã là không cần thiết.

Những nan hoa của bánh xe

Trong số những người theo chủ nghĩa hiện đại có qua lại thư từ thường xuyên với von Hugel, có không tới một tá nhân vật nổi bật trong các nghiên cứu của phong trào này.

Ở Pháp

Cha Alfred Loisy (1857-1940), một học giả Kinh Thánh, có lẽ là người được biết đến nhiều nhất. Ông giảng dạy tại Institut Catholique và đã viết một loạt các cuốn sách trong suốt những năm 90 của thế kỷ XIX dường như là để bảo vệ Tân Ước trước những ý tưởng của học giả người Đức Adolf von Harnack (1851-1930), nhưng thực tế lại phá hoại nó.

Cha Lucien Laberthonniere (1860-1932), một linh mục Dòng Oratory (Dòng Hùng Biện) và Edouard Le Roy (1870-1954), một giáo dân, là những triết gia.

Marcel Hebert (1851-1916), người đứng đầu trường Ecole Fenelon ở Paris, một trường đại học dành cho những nam sinh có học thức; sở thích của ông cũng chủ yếu là triết học và bên cạnh đó là Kinh Thánh và lịch sử.

Albert Houtin (1867-1926), một linh mục bỏ đạo, cùng với Paul Sabatier (1858-1928), một nhà văn Tin Lành tự do, là những người tham gia nhiệt tình.

Ở Ý

Ba linh mục Salvatore Minocchi (1869-1943), Ernesto Buonaiuti (1881-1946), Semaria (?) và tiểu thuyết gia Antonio Fogazzaro (1842-1911) là những tác nhân chính trong việc phổ biến các tư tưởng hiện đại.

Minocchi và Buonaiuti là những người chỉnh sửa các bài báo; Semaria, một linh mục dòng Barnabite (Các Giáo Sĩ Hèn Mọn Thánh Phao-lô) là một học giả Kinh Thánh. Trong khi đó, Fogazarro có thể đưa những ý tưởng của chủ nghĩa hiện đại ra mắt công chúng thông qua các tác phẩm của mình.

Ở Anh

Cha George Tyrrell, một người sinh ra và lớn lên ở Ai-len, được cải đạo từ Anh Giáo. Ông là người theo chủ nghĩa hiện đại nhiệt tình công khai nhất – theo quan điểm của bạn bè, ông là một nhà tư tưởng thần bí và nhà cải cách triết học tôn giáo.

Cả Tyrrell và Loisy đều mang trong mình dáng dấp của một người thích sống lập dị (enfant terrible) trước sự bối rối của những người cộng sự trưởng thành và thận trọng hơn.

Các nhân vật vừa nêu là những người đã gây ra náo động, những người đã được chuẩn bị để nói công khai những điều mà người khác mới chỉ đang suy nghĩ hoặc mới chỉ chạm vào chúng một cách thận trọng. Trong số họ, có người phải chịu vạ tuyệt thông, có người chọn cách rời bỏ Giáo Hội, trong khi một số khác bị kiểm duyệt hoặc bị cấm viết. Tuy nhiên, họ không phải là nguyên nhân chính và cũng không phải động lực thúc đẩy chủ nghĩa hiện đại nhiều hơn Nam tước von Hugel. Họ chỉ là những triệu chứng ban đầu của một cơn rối loạn sâu hơn và rộng hơn, là phần nổi của một tảng băng chìm.

Cuối cùng, Đức Tổng Giám mục Eudoxe Irenee Mignot (1842-1918) của Tổng giáo phận Albi, Pháp là người bảo hộ thận trọng, có vai trò là vòng tròn xung quanh bánh xe.

Và trong số những nhà thông thái nổi tiếng hơn tham gia vào phong trào chủ nghĩa hiện đại, còn có triết gia Pháp Maurice Blondel (1861-1949), người đồng tình bước vào cuộc chơi, nhưng đã rút lui khỏi những ý tưởng cực đoan của nó. Edmund Bishop (1846-1917), một học giả phụng vụ và giáo dân cải đạo, chỉ bày tỏ quan điểm qua những thư từ riêng, nói chung là không đáng kể. Henri Bremond (1865-1933), một linh mục Dòng Tên (sau này bỏ Dòng) cũng là một người thích sống lập dị giống Tyrrell, ông tham gia phong trào một cách không ổn định, khi ra khi vào giống như một cầu thủ dự bị đứng ngoài đường biên, do đó, tránh được những rắc rối nghiêm trọng. Và cuối cùng, Đức ông Louis Duchesne (1843-1922), người đóng vai trò khán giả ngồi trên khán đài để có thể thưởng thức môn thể thao này mà không phải dãi nắng dầm mưa, đôi khi ông cổ võ người này và cảnh báo người kia.

Nuôi dưỡng hạt giống vô thần

Đức ông Duchesne, một linh mục có trí tuệ tầm cỡ và kỳ quặc, đã giảng dạy tại Institut Catholique trước khi dành 20 năm cuối đời tại một ngôi trường tiếng Pháp ở Rôma. Trong khi không có gì phải nghi ngờ về học vấn uyên bác cùng sự hiểu biết tinh tường của ông về lịch sử Giáo Hội sơ khai, người ta lấy làm ngạc nhiên vì vị học giả này tỏ ra có rất ít kiến thức để hiểu Giáo Hội thực sự là gì. Tình cảm mà ông dành cho Tòa Thánh chỉ là một sự khinh thường mỉa mai. Thậm chí, theo Marcel Hebert, chính Duchesne là người đã giúp ông thấy được những “lý do” để không tin vào sự Phục Sinh, dù Duchesne một mực phủ nhận. Thể theo yêu cầu của ông, sau khi qua đời, người ta đã đem đốt những thư từ qua lại giữa ông và các học giả cùng thời khác. Nội dung của những bức còn sót lại khiến người đọc không khỏi rùng mình. Chẳng hạn, trong thư gửi cho Hebert để thuyết phục ông ở lại trường Ecole Fenelon dù đã không còn đức tin, Duchesne viết:

“Thẩm quyền tôn giáo phụ thuộc vào truyền thống và những thành viên nhiệt thành nhất của nó, đồng thời cũng là những kẻ kém thông minh nhất. Vậy thì có thể làm được gì? Cố gắng cải cách nó chăng? Kết cục duy nhất cho những cố gắng như thế chỉ là tự ném bản thân ra ngoài cửa sổ…

Vậy, chúng ta hãy dạy những gì Giáo Hội dạy… Chúng ta không cần phải phủ nhận rằng trong tất cả những điều này, có một phần lớn chủ nghĩa tượng trưng cần phải được giải thích. Nhưng hãy để việc giải thích theo cách riêng của nó một cách bí mật.

Bất chấp tất cả vẻ bề ngoài, tòa nhà Giáo Hội cũ kỹ có thể sẽ có ngày sụp đổ… Nếu điều này xảy ra, sẽ không có ai trách chúng ta vì đã ủng hộ tòa nhà cũ kỹ ấy lâu nhất có thể.”

Tôi trích dẫn bức thư này vì hai lý do. Thứ nhất, bởi vì mặc dù một số cuốn sách của Duchesne đã bị đưa vào danh mục sách cấm, nhưng ông vẫn có một danh tiếng hoàn hảo như một học giả Công Giáo vĩ đại; thứ hai, bởi vì ông minh họa cho những gì tôi đã nói trước đó về cám dỗ của những người hay chữ và về những gì sẽ xảy ra khi ba nhân đức Tin, Cậy, Mến sụt giảm – thành quả bi thảm của việc đọc một đống sách vở. Những gì chúng ta thấy ở đây quả là một cái gì đó khá buồn và xấu xí. Liệu đằng sau những chồng sách vở khác, có một sự sa sút nào diễn ra như thế nữa không? Chỉ cần vài trăm người như Duchesne thôi là người ta cũng đã có đủ thuốc nổ để khởi động một cuộc cách mạng rồi.

Và lượng thính giả lắng nghe những nhà thông thái theo chủ nghĩa hiện đại mà chúng ta vừa đề cập đã ngày một tăng lên. Đó là tập hợp của những người đồng cảm, những người mà tâm trí của họ bị xáo trộn bởi những câu hỏi giống nhau, và suy nghĩ của họ đang đi cùng một hướng.


Chương 2: Nguồn gốc của vô thần theo chủ nghĩa hiện đại

Vậy chính xác thì những người theo chủ nghĩa hiện đại đã tin vào điều gì, hoặc đã dần dần tin, cũng như không còn tin nữa? Họ thực sự đã nói về niềm tin mới của mình ra sao, đã đến với nó theo cách như thế nào?

Tôi nghĩ rằng nếu xem xét thứ tự các ý tưởng mà họ phát triển cùng với nguồn gốc của chúng, chúng ta sẽ có một bức tranh tổng quát về những gì đã xảy ra khi ấy và tiếp diễn cho tới ngày nay; đồng thời, hiểu rõ hơn quá trình biến đổi trí tuệ để đưa một người Công Giáo trở thành một hình nộm Ki-tô hữu của thời kỳ khai sáng (hoặc theo cách gọi ngày nay, một nhà nhân văn thế tục hay một tín đồ của tôn giáo tiến bộ). Mặc dù có những bất đồng nhất định về một số ý tưởng giữa các cá nhân theo chủ nghĩa hiện đại và mức độ ảnh hưởng của chúng lên mỗi người cũng khác nhau, tuy nhiên, họ đều có cùng những nguyên tắc cơ bản.

Nhìn chung, sự kết hợp chặt chẽ giữa học thuyết Darwin với chủ nghĩa phê bình Kinh Thánh đã gây ra hầu hết các mối nguy hại. Cả hai chủ nghĩa này đều có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với con người, bởi chúng đề cập đến một chủ đề rộng lớn bằng cách cung cấp cho người ta những điều gợi ý hơn là đưa ra chứng minh hay chứng cứ rõ ràng. Và những hạt vàng li ti, nếu có, ẩn dưới những đống xỉ thải chất lên như núi mà chúng tạo ra, cũng không phải là thứ gì đó mới mẻ, nhưng là những điều mà Giáo Hội đã nói với chúng ta một cách đầy đủ và trọn vẹn từ lâu – ít nhất là trong chừng mực liên quan đến Mặc Khải. Và trong phạm vi bài viết này, chúng ta chỉ quan tâm đến những núi xỉ thải đã phủ lên tất cả các ngành nghiên cứu mà tôi sẽ đề cập.

Mặc dù chủ nghĩa phê bình Kinh Thánh đã tồn tại trong lĩnh vực này lâu hơn học thuyết Darwin, nhưng tôi nghĩ chúng ta nên đặt học thuyết này lên hàng đầu, bởi vì tác động mà nó gây ra là đột ngột và thô bạo hơn nhiều. Việc xuất bản cuốn Nguồn gốc các loài (1859) của Charles Darwin (1809-1892) đánh dấu một sự chia rẽ lớn mà những cuốn sách như Leben Jesu – Cuộc đời Chúa Giê-su (1835) của David Strauss (1808-1874), hay cuốn sách cùng tên, Vie de Jesus (1863) của Ernest Renan (1823-1892) đã không thể tạo ra.

Ba giả định của chủ nghĩa phê bình Kinh Thánh

Học thuyết Darwin, như chúng ta đều biết, đã trực tiếp thách thức tính xác thực và mức độ tin cậy của Kinh Thánh, bằng cách đưa ra một lối giải thích hoàn toàn mới mẻ và khác biệt về nguồn gốc các loài, trong đó, có câu chuyện về sự ra đời của con người đầu tiên. Sự xuất hiện bất ngờ của nó đã khiến một số giáo lý nền tảng mà Giáo Hội không ngừng giảng dạy là đúng đắn một cách khách quan (trên hết là Tội nguyên tổ), đã bị đặt một dấu hỏi lớn trong tâm trí một số người Công Giáo; đồng thời, niềm tin vào Giáo Hội như một người thầy đáng tin cậy đã bắt đầu bị lung lay. Nếu A-đam, E-và, khu vườn địa đàng và sự sa ngã của nguyên tổ chỉ là những câu chuyện thần thoại hoang đường và phải bị loại bỏ, thì công việc tiếp theo sẽ dừng lại ở đâu? Có vẻ như một sợi chỉ của tấm màn Mặc Khải đã bị cắt đứt, khiến nó sắp sửa bị bung ra.

Không chỉ vậy, ý tưởng cho rằng các sinh vật bắt đầu xuất hiện trên mặt đất là nhờ vào quá trình chọn lọc tự nhiên dường như cũng hạ thấp vị trí của Thiên Chúa, biến Ngài trở thành một Nguyên nhân khởi đầu (First Cause) xa xăm và lạnh lẽo. Mặc dù không hoàn toàn dập tắt niềm tin của con người vào sự tồn tại của Thiên Chúa, nhưng ý tưởng này đã ngầm phủ nhận sự quan phòng của Ngài. Liệu có còn phòng nào để Đấng Toàn Năng của chúng ta quan tâm đến chim sẻ (Mt 10,29) hay không?

Sau cùng, bằng cách nào đó, sự tiến hóa dường như là một quy luật chung chi phối không chỉ trong phạm vi bộ môn sinh học, mà còn được đưa vào mọi lĩnh vực khác: tiến hóa đời sống, tiến hóa lịch sử, tiến hóa văn minh, tiến hóa tôn giáo. Và có lẽ, với nhiều người, xét cho cùng, tôn giáo cũng chỉ là một hiện tượng tự nhiên giống như âm nhạc hay khiêu vũ, tức là một cách mà con người ta dùng để thể hiện bản thân mình.

Còn đối với chủ nghĩa phê bình Kinh Thánh, nó làm suy yếu thẩm quyền của tác phẩm thiêng liêng này theo một cách khác, dù không trực tiếp, nhưng cũng rất thảm khốc.

Chúng ta biết rằng, Mầu nhiệm về sự Nhập Thể của Ngôi Lời dưới dạng văn tự, được gọi là Kinh Thánh, luôn đặt ra những vấn đề nhất định cho các học giả nhiều thời đại trong việc đi tìm lời giải đáp. Nhưng vào thời hiện đại, bắt đầu từ thế kỷ XVII, cách tiếp cận phê phán đối với Kinh Thánh đã chứa đựng trong mình một phẩm chất đặc biệt: nó được truyền cảm hứng và động lực từ những cá nhân có quan điểm thù địch mãnh liệt đối với tôn giáo và tư tưởng của Mặc Khải. Trước khi bắt đầu các cuộc điều tra của mình, họ luôn đặt ra ba giả định:

  • Thiên Chúa không có liên quan gì đến bố cục của Kinh Thánh.
  • Các sự kiện siêu nhiên trong Kinh Thánh đã không hề xảy ra và những mô tả về chúng, do đó, chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng.
  • Tất cả các dân tộc trong quá khứ đều có trình độ tri thức thấp hơn con người thời hiện đại và họ không có khả năng bảo tồn các sự kiện lịch sử một cách chính xác và trung thực.

Toàn bộ phong trào được tô điểm bởi ba định kiến này dường như đã nhanh chóng lây lan cho bất kỳ ai tiếp cận nó. Phương pháp phản biện đã được họ tiến hành bằng cách, trước tiên, đặt ra câu hỏi về niên đại và quyền tác giả của các cuốn sách trong Kinh Thánh; rồi sau đó, chuyển sang vấn đề tính chân thực về mặt nội dung của các tác phẩm này (mặc dù trên thực tế, mối nghi ngờ thứ hai thường xuất hiện đầu tiên). Đối với câu hỏi thứ nhất, ngay cả khi các sách Thánh thường đề cập rất rõ ràng về tác giả và thời gian mà chúng được viết, thì việc thẩm định xem chúng được viết khi nào và viết bởi ai, dường như không quá quan trọng đối với chúng ta. Một khi được coi là do Thần Khí linh hứng, tính chân thực của chúng vẫn được đảm bảo mà không phụ thuộc vào hai yếu tố này. Tuy nhiên, gạt sang một bên tất cả những điều đó, các kết luận mới của giới phê bình Kinh Thánh theo hướng tiêu cực, về thời gian và quyền tác giả, đã khiến người ta cảm thấy hoài nghi về những gì mà sách Thánh viết ra.

Phê bình theo kiểu búa tạ

Ở dạng cực đoan nhất, việc áp dụng phương pháp phê bình đối với Kinh Thánh sẽ giống như cách người ta sử dụng búa tạ để đập lên một mặt sàn lát đá cẩm thạch. Các bản văn thiêng liêng bị họ phá nát thành nhiều mảnh nhỏ, rồi sau đó, được tập hợp và lắp ghép một cách tùy ý nhằm phục vụ cho những mục đích khác nhau, và thường là bất chính. Họ đặt cho các tác phẩm chắp vá này những tựa đề mới, gán chúng cho những tác giả mạo danh và không ngần ngại sử dụng để trích dẫn trong các tài liệu của mình. Mặc dù không ai biết những mảnh vỡ Kinh Thánh mà họ sử dụng được viết do ai và viết khi nào, nhưng có một điều rõ ràng là chúng chỉ được hoàn thành ở một thời điểm rất lâu sau khi những sự kiện mà chúng ghi chép lại xảy ra. Và trong khi người ta chấp nhận rằng những mảnh vỡ này đã được lấy từ các tác phẩm bị thất lạc, thì ngay sau đó, một quan điểm mới phổ biến hơn đã chiếm ưu thế, nó cho rằng những truyền thống mà các bản văn chắp vá lưu giữ đã được truyền miệng trong nhiều thế kỷ, và rằng những ký ức được truyền miệng này đã liên tục được thêm thắt hoặc thay đổi để có thể phù hợp với hoàn cảnh và niềm tin ở từng thời điểm lịch sử. Chắc chắn là không chỉ các nhà phê bình kết luận rằng phần lớn Kinh Thánh là một tác phẩm hư cấu, mà có nhiều người khác cũng nghĩ như vậy. Ngoài ra, tâm trí con người cũng dễ dàng chấp nhận ý tưởng (dù không biết có đúng hay không) rằng khi khoảng thời gian trôi đi giữa một sự kiện và thời điểm nó được viết ra càng lâu, thì khả năng nó được ghi chép chính xác càng thấp.

Giống như những gì mà đa số các nhà phê bình đã thực hiện, phương pháp đối xử với Kinh Thánh kiểu này đã và vẫn sẽ mang trong mình những khía cạnh của một trò chơi học thuật phù phiếm. Các lý thuyết và ý tưởng được người ta nhấc lên hay đặt xuống, lựa chọn hay vứt bỏ giống như những quả bóng tennis và liên tục thay đổi từ thập kỷ này sang thập kỷ khác. Đó cũng là phương pháp được áp dụng trong văn học thế tục; như cách mà người ta tách Homer ra khỏi I-li-át và Ô-đi-xê để gán quyền tác giả của chúng, theo từng phần, cho một nhóm các nhà thơ vô danh sống trải dài qua vài thế kỷ; điều tương tự cũng xảy ra với các vở kịch của Shakespeare hay tác phẩm The Divine Comedy của Dante.

Đối với Kinh Thánh, việc phê bình theo kiểu đập nát rồi tái lắp ghép này đã được tiến hành với Cựu Ước một cách triệt để. Và khi áp dụng cho Tân Ước, nó đã phá hủy niềm tin vào sự Phục Sinh.

Kể từ khi học thuyết Darwin và chủ nghĩa phê bình Kinh Thánh được coi là một phần của khoa học hiện đại, hầu hết các kết luận vừa nêu, nếu không muốn nói là tất cả, đã được những người theo chủ nghĩa hiện đại thừa nhận là đúng. Nó dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng. Và những cơ sở cho niềm tin vào Mặc Khải siêu nhiên đến từ Thiên Chúa, được hoàn tất trong Chúa Giê-su Ki-tô, được ghi lại trong Kinh Thánh và được Giáo Hội bảo vệ, đã không còn nữa.

Bị thuyết phục bởi điều này, một số người đã rời bỏ Giáo Hội. Tuy vậy, một phần lớn trong số họ vẫn ở lại, ít nhất là trên danh nghĩa, và bắt đầu xây dựng cho mình một nơi trú ẩn bằng những mảnh vỡ được lấy từ đống đổ nát.

Những nỗ lực của họ đã làm hình thành nên hai nguyên tắc như chúng ta đã biết ngày nay.

Sự không chắc chắn về Chúa

Thứ nhất, vì không có gì là chắc chắn về những điều Thiên Chúa đã tiết lộ, nên nguồn gốc của kiến ​​thức tôn giáo chỉ được coi là “kinh nghiệm” nội tại (những người theo chủ nghĩa hiện đại đầu tiên có xu hướng nhấn mạnh vào kinh nghiệm cá nhân thay vì kinh nghiệm cộng đồng như ngày nay).

Thứ hai, Giáo lý Công Giáo – ít nhất là những giáo lý mà những người theo chủ nghĩa hiện đại thấy là “khó”, hoặc theo ngôn ngữ ngày nay, “thiếu độ tin cậy” – không nên được coi là những tuyên bố thực tế, mà là những điều được đặt trong một số ý nghĩa “tượng trưng” nào đó. Và như vậy, điều chính xác thực sự ẩn sau những ý nghĩa tượng trưng vẫn sẽ phải được làm rõ. Hebert là một trong những người đầu tiên công khai nhu cầu này, và sau đó, Le Roy tham gia dưới vai trò là người tiếp sức với bài báo nổi tiếng của mình vào năm 1905 – Qu’est-ce-qu’un dogme? – Tín điều là gì?

Chính từ những vấn đề xung quanh hai quan điểm trên mà trận chiến giữa Giáo Hội với chủ nghĩa hiện đại đã nổ ra, và hiện nay đang trong giai đoạn giao tranh dữ dội. Trong trận chiến này, những người theo chủ nghĩa hiện đại đòi hỏi Giáo Hội phải cho họ được quyền giải thích giáo lý một cách tượng trưng (tức là không tin nó) và dành vị trí ưu tiên hàng đầu cho kinh nghiệm tôn giáo; trong khi, ở phía còn lại, các tín hữu khác (dù không phải tất cả) đều kiên quyết phản đối. Đây đã và vẫn sẽ là vấn đề trọng tâm.

Và một khi, dưới tác động của học thuyết Darwin và chủ nghĩa phê bình Kinh Thánh, hai quan điểm khơi mào vừa nêu đã được chấp thuận bởi chủ nghĩa hiện đại, thì các khía cạnh khác của tư tưởng hiện đại sẽ chỉ đóng vai trò là chất xúc tác cho đức tin lạc đường. Tuy vậy, chúng ta cũng cần phải tìm hiểu những khía cạnh này, vì dù sao, chúng cũng đã góp phần quan trọng trong việc làm cho ngôi đền thờ của thứ niềm tin bị triệt tiêu ấy dần trở nên kiên cố.

Triết học đương đại

Khi xem xét những tư tưởng triết học thịnh hành trong 200 năm qua, có ba khuynh hướng rất rõ ràng mà chúng ta có thể nhận thấy: đầu tiên là sự bác bỏ một cách rộng rãi đối với siêu hình học; thứ hai là thành kiến ​​ngày càng tăng đối với ý tưởng về bất cứ thứ gì cố định và ổn định trong tự nhiên, thay vào đó, người ta thích xem nó như một phần nằm trong sự biến chuyển và thay đổi không ngừng có tính phổ quát; và cuối cùng, trong khi đi tìm ý nghĩa cuộc đời và bản chất của thực tại, người ta có xu hướng dành sự tập trung của mình vào con người và những gì diễn ra bên trong họ hơn là những thứ bên ngoài, đi kèm với đó là sự hạ thấp năng lực trí tuệ để đề cao lý trí, bản năng và đam mê.

Sự bác bỏ đối với siêu hình học được bao hàm trong quan điểm này: Nếu chúng ta nhìn vào thế giới xung quanh và nghĩ rằng mình có thể nhận ra hình hài của một kế hoạch được định sẵn, của luật nhân quả, hoặc của một nguyên tắc thông tin, được ẩn chứa trong những thứ riêng lẻ mà qua đó, chúng ta nắm bắt được bản chất của chúng là gì và phân loại chúng vào các nhóm khác nhau – khi đó, chúng ta đã bị đánh lừa. Những ý tưởng mà chúng ta suy ra từ những gì mình thấy không tương ứng với bất cứ điều gì có thật bên ngoài; thay vào đó, chúng chỉ là những khuôn mẫu mà chúng ta áp đặt dựa vào trí tuệ chủ quan. Các hiện tượng được trình bày nhờ các giác quan của chúng ta, về cơ bản, vẫn không thể hiểu được.

Immanuel Kant (1724-1804), dựa trên những ý tưởng của John Locke (1632-1704), George Berkeley (1685-1753) và David Hume (1711-1776), là nhà triết học chịu trách nhiệm chính về việc bổ sung quan điểm đáng kinh ngạc này vào kho tàng những sai lầm và sự thiếu khôn ngoan của con người. Trong số các kết luận được rút ra từ nó, có một điều không thể tránh khỏi, đó là: Nếu chúng ta cho rằng tình trạng bên ngoài của các yếu tố trong tự nhiên có thể chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa, chúng ta đã lầm.

Mặc dù là một người theo Tin Lành Luther, Kant đã mâu thuẫn với tuyên bố rõ ràng của Thánh Phao-lô trước dân thành Lýt-ra trong Cv 14,17, đồng thời, phá hoại nền tảng của tôn giáo tự nhiên. Các lý thuyết của ông về trí tuệ con người (hay đúng hơn là sự bất toàn của nó) cũng khuyến khích người ta phán đoán các vấn đề triết học và tôn giáo dựa vào cảm tính.

Xu hướng thứ hai là tình yêu mà người ta dành cho sự biến chuyển và thay đổi không ngừng được áp đặt lên mọi lĩnh vực – trong thế kỷ này, nó đã đạt đến quy mô của một dịch bệnh tâm thần toàn cầu – với đủ thứ nguyên nhân khác nhau, mà chúng ta có thể tách biệt chúng ra làm hai loại:

  • Kiến thức gia tăng về lịch sử và sinh học, cả hai đều có liên hệ với sự thay đổi ở dạng tăng trưởng và suy tàn.
  • Kiến thức gia tăng về các nền văn minh khác, điều này gợi ra ý tưởng rằng nếu như các phong tục ở mỗi nơi là khác nhau, thì mọi thứ khác có thể chỉ là vấn đề sở thích và quan điểm, do đó, có thể thay đổi.

Vì thế, mặc dù mọi thứ đang tiến về phía trước theo một cách thức nào đó, nhưng người ta cho rằng cách mà vũ trụ phát triển không tuân theo bất kỳ kế hoạch định sẵn nào, cũng như không có quy luật nào là tuyệt đối, mọi thứ đều có thể xảy ra.

Và đối với khuynh hướng thứ ba – sự hạ thấp năng lực trí tuệ, chúng ta có thể đổ lỗi cho Rene Descartes (1596-1650) nếu muốn. Những ý tưởng của ông đã trị vì ở Châu Âu một thời gian dài kể từ khi ông qua đời và dường như đã khiến cho trí óc của tất cả con người chúng ta không còn giống như trí óc của bạn và tôi nữa, nhưng là những khối óc hoàn toàn logic và toán học. Sau một thế kỷ rưỡi thích thú với những ý tưởng này, người Châu Âu đã cảm thấy phát ngán với nó. Sự hạ thấp đối với trí tuệ, hoặc đối với các ý nghĩ suy đoán và ý tưởng trừu tượng, cùng với việc đề cao cuộc sống đam mê và bản năng, là một phần của cuộc nổi dậy lãng mạn chống lại bức tranh của Descartes về con người. Được dẫn dắt bởi những nhà tư tưởng mà mình mới lựa chọn, người Châu Âu bắt đầu say sưa với suy nghĩ rằng anh ta là một “con người toàn diện” – với thể xác và bản năng cũng quan trọng như trí óc hay linh hồn vậy. Và sau cùng, anh ta sẽ chỉ còn say sưa với suy nghĩ rằng mình chủ yếu chỉ là một thể xác mà thôi.

Những rào cản đối với niềm tin vào Chúa

Tôi tin rằng ba khuynh hướng kể trên cũng nên được coi là có liên hệ với sự lan rộng của chủ nghĩa vô thần.

Khi con người ta không còn tin vào Thiên Chúa, họ sẽ ngày càng không có ý muốn sử dụng trí óc của mình để khám phá ra sự tồn tại của Ngài.

Hơn nữa, đối với những người nghĩ rằng mình chỉ có một cuộc đời ngắn ngủi với khả năng hưởng thụ có hạn, thì những thứ cố định – như bản chất phải thích nghi, luật lệ phải tuân giữ – chắc chắn sẽ bị họ ghét bỏ. Và ngay cả khi không muốn (lập tức) làm điều gì xấu xa, họ cũng không thích mình bị giữ lại bởi bất cứ suy nghĩ nào làm cản trở những hành vi như vậy. Bởi lý do này, các nhà luân lý học ngày nay đã tấn công một cách bài bản và tinh vi nhắm vào khái niệm luật tự nhiên.

Cuối cùng, khi con người bị thuyết phục rằng trí óc của họ chỉ là một khí cụ vô dụng trong việc tìm kiếm và nhận biết Thiên Chúa, họ sẽ quyết định bỏ cuộc hoặc chuyển sang hướng sử dụng bản năng và cảm xúc của mình.

Từ năm 1890 đến năm 1910, các trào lưu triết học mà tôi vừa mô tả đã hòa quyện lại với nhau trong thuyết sinh lực (vitalism) của Henri Bergson (1859-1941) và chủ nghĩa thực dụng (pragmatism) của William James (1842-1910). Trong bài viết này, chúng ta sẽ tập trung vào quan điểm về sự thật mà chúng phổ biến.

Một sự thật (dưới dạng ý tưởng hoặc tuyên bố), theo quan điểm đã được chấp nhận, là một khái niệm mô tả hoặc phù hợp với thực tại khách quan.

Nhưng theo quan niệm mới, một ý tưởng sẽ là đúng nếu nó “còn sống” (tức là có nhiều người tin), hoặc có những kết quả được coi là “có lợi” (mang lại cho người ta sự thỏa mãn về tinh thần hoặc làm cho họ cảm thấy ổn hơn, hạnh phúc hơn). Vì thế, niềm tin vào thần Mô-léc (1 V 11,7; 2 V 23,10), theo nghĩa này, cũng sẽ là một là “sự thật”. Và khi người Ca-na-an ném con cái mình vào lò thiêu để tế thần, họ cũng đã làm được một việc “có ý nghĩa”. Tuy nhiên, khi không còn ai tôn thờ Mô-léc, ý tưởng này sẽ “chết” và không còn “đúng” nữa. Niềm tin Ki-tô Giáo “đúng” ở chỗ nó khiến cho con người bỏ đi tính ích kỷ và có tác dụng như một loại thuốc an thần – đây là ý tưởng được phổ biến rộng rãi từ cuốn sách có ảnh hưởng lớn của James – The Varieties of Religious Experience (Sự đa dạng của Kinh nghiệm Tôn giáo).

Chúng ta không nên đánh giá thấp sức lôi cuốn của ý tưởng cuối cùng này, nó rất dễ giành được sự chấp nhận của những người bình thường (những người không mấy bận tâm về tôn giáo), bởi một khi không có đức tin và ân sủng, đa số trong loài người sẽ nghiêng về phía những kẻ thực dụng; họ sẽ quan tâm đến kết quả hơn là sự thật. Đây là lý do tại sao ngày nay, những “Ki-tô hữu” theo chủ nghĩa hiện đại lại nhấn mạnh vào sự chính hành (orthopraxis – hành vi đúng đắn) với cái giá phải trả là sự chính thống (orthodoxy – đức tin chân chính); nó cũng là nguyên nhân tại sao sự chính hành (đồng ý với những gì nên làm) đang được đưa ra làm nền tảng cho sự tái hiệp nhất các Ki-tô hữu, hơn là sự chính thống (đồng ý về những gì Thiên Chúa mặc khải).

Sự thật là gì?

Trong thực tại, ý nghĩa của từ “sự thật” đã bị thay đổi. Những người sử dụng nó theo cách này không nói về sự thật mà là về công dụng, mặc dù hầu hết trong số họ sẽ khẳng định rằng những gì mình coi là hữu ích cũng đều tốt và đúng cả. Đây thực sự là quan điểm của James, còn Bergson thì hơi khác; với ông, sự thật không dựa trên nguyên tắc về tính hữu dụng mà dựa trên khái niệm “thực tại” mà ông đưa ra. Sự thật luôn thay đổi bởi vì thực tại luôn thay đổi. Theo Bergson, “thực tại không ngừng phát triển”. Ý tưởng này đã mở ra những khả năng lôi cuốn khác nhau đối với con người. Vì mọi thứ xảy ra đều là một phần của thực tại, nên bất cứ thứ gì cũng có thể được chứng minh là đúng ở mức độ nào đó. Nó cũng tạo ra một trong những nền tảng cho thuyết đạo đức tình huống (situation ethics) mà Đức Piô XII lên án.

Tất cả những khuynh hướng này đã tác động lên các nhà thông thái của Giáo Hội, và hầu hết những người theo chủ nghĩa hiện đại dường như đã bị họ chinh phục. Bởi vì mới, nên chúng phải đúng, nhằm mục đích đẩy mạnh thực tại đi đến điểm giới hạn trong sự phát triển của nó.

Và ở nơi đa số những người theo chủ nghĩa hiện đại, chúng ta có thể nhận thấy một sự thù hận – ở mức độ gần với chứng hoang tưởng tự cao – dành cho siêu hình học, rồi lan sang Thánh Tôma Aquinô và triết học của ngài, cũng như Platô và “trí tuệ Hy-lạp”. Họ tập trung sự say mê cho những gì được gọi là thay đổi, tăng trưởng và “năng động”; đồng thời, từ bỏ bất cứ thứ gì “tĩnh lặng” và coi hai khía cạnh của sự sáng tạo này như những kẻ thù không đội trời chung. Họ không thích sự vững chắc của tôn giáo, tỏ ra thành kiến ​​với việc sử dụng trí óc như một nguồn kiến ​​thức của nó, và trên hết là tư tưởng trừu tượng liên quan đến nó hoặc những câu hỏi triết học quan trọng dẫn người ta đến với tôn giáo.

(Tuy nhiên, họ không mở rộng thành kiến ​​này đến việc sử dụng trí óc cho các mục đích khoa học. Trong khoa học, có sự chính xác và rõ ràng, chỉ có trong tôn giáo mới tồn tại sự rắc rối và không rõ ràng mà thôi.)

Đã có một sự kích động được tạo ra nhằm bắt Giáo Hội phải điều chỉnh giáo huấn của mình cho phù hợp với triển vọng của Bergson và James. Blondel và Le Roy là hai cá nhân tiên phong trong kế hoạch này. Mặc dù ít được biết đến ở các nước nói tiếng Anh hơn Loisy hay Tyrrel, nhưng tôi nghĩ Le Roy đóng vai trò quan trọng hơn nhiều vì những lý do sẽ được nói đến ngay sau đây. “Lý luận hành động” (philosophy of action) của ông là sự tổng hợp giữa quan điểm tiến hóa của Bergson về thực tại và quan điểm cơ hội của James về sự thật. Hãy xét một ví dụ về cách ông áp dụng các nguyên tắc triết học của mình để giải thích các Tín điều Công Giáo:

Trong cuốn Dogme et critique (Tín điều và phê bình), Le Roy lập luận rằng các tín điều không có tác dụng đưa ra cho chúng ta thông tin; chúng không phải là những sự thật để tin mà là những chỉ dẫn để hành động. Chẳng hạn, giáo lý về Ba Ngôi trong Thiên Chúa Ba Ngôi không cho chúng ta biết bất cứ điều gì về Thiên Chúa, nhưng là một cách cho chúng ta biết phải coi trọng các mối quan hệ cá nhân. Và trong một đoạn khác, ông tiếp sử dụng nguyên tắc này nhưng theo cách thậm chí còn nguy hiểm hơn. Sau khi tuyên bố: “Tôi tin không chút hạn chế và dè dặt rằng Sự Phục Sinh của Chúa Giê-su là một sự kiện có thật cách khách quan”, ông bắt đầu loại bỏ lời tuyên xưng đức tin quan trọng này và rút nó lại. Theo ông, Sự Phục Sinh của Chúa không có liên quan gì đến “khái niệm thô tục” về “sự hồi sinh của một xác chết”. Vậy thì làm thế nào mà ông có thể tuyên bố đó là một sự kiện có thật? Câu trả lời là bằng cách diễn giải lại ý nghĩa của từ “có thật” đó. Theo Le Roy, những thứ được coi là có thật (mà ở đây là các ý tưởng) nếu chúng có thể được sử dụng mà không hư hoại và nếu chúng “làm phong phú thêm cho cuộc sống” này.

Tôi nghĩ rằng sự lập lờ thú vị trên đây rất đáng để chúng ta suy ngẫm, vì nó không chỉ cung cấp hình ảnh khuôn mẫu của tất cả những sự lập lờ đang bủa vây xã hội hiện đại, mà còn giúp chúng ta thấy được rõ tuổi tác thực sự ẩn sau lớp son phấn và mái tóc giả của những “giáo lý mới” ngày nay.

Một trận lở tuyết của các nghiên cứu lịch sử

Sau triết học, lịch sử và các nghiên cứu trong lĩnh vực này dường như đã đảm nhận hầu hết phần còn lại trong việc làm sói mòn đức tin. Trong đó, có hai yếu tố gây ra sức ảnh hưởng lớn nhất.

Đầu tiên là sự tích lũy tư liệu lịch sử mới. Trong 100 năm qua, chúng đã tăng lên rất nhiều và vào cuối thế kỷ này đã trở thành một trận lở tuyết.

Hiện nay, trong bất cứ chủ đề nào, sự xuất hiện đột ngột của một khối lượng lớn các thông tin mới mẻ và chi tiết thường gây tác động theo hướng làm gia tăng một cách tạm thời sự bao phủ của bóng đen và sự hiểu lầm hơn là làm cho vấn đề trở nên sáng tỏ. Giống như câu thành ngữ “thấy cây mà không thấy rừng” nói về việc con người ta quá tập trung vào chi tiết mà không thấy được vấn đề chính rộng lớn hơn; một cái gì đó giống như vậy đã xảy ra khi các học giả Công Giáo áp dụng trí óc của họ để phân loại và đánh giá hàng đống thông tin mới thu lượm được về lịch sử Giáo Hội. Đặc tính siêu nhiên của Giáo Hội bắt đầu trở nên mờ đi khi họ nhìn nó qua một bức màn ngày càng dày đặc với sự hiện diện của tự nhiên và con người. Vì thế, khi quá trình này được đẩy đi một cách vội vã, thì sự rơi rớt đức tin cũng bắt đầu và sẽ kết thúc với việc Giáo Hội dường như không còn chút gì là thiêng liêng nữa.

Và yếu tố chủ chốt thứ hai đóng vai trò làm xói mòn mòn đức tin là trường phái phê bình lịch sử của người Đức.

Làm xói mòn nền tảng đức tin

Phê bình lịch sử, về bản chất, chỉ đơn giản là một phương pháp mới và chặt chẽ hơn nhằm kiểm tra độ tin cậy của các tài liệu được đưa ra (dựa vào kiến ​​thức lịch sử) và đánh giá lại giá trị của chúng (loại giá trị đã được áp dụng vào Thánh Kinh). Bản thân việc đánh giá này không có gì sai, như đã được áp dụng cho lịch sử thế tục, nhưng toàn bộ phong trào này lại mang trong nó hai nét đặc trưng đáng phê bình.

Thứ nhất, khi tiến hành kiểm tra các tài liệu dựa vào những quy tắc nhất định; người ta có cảm tưởng rằng nếu áp dụng chúng đúng cách, kết quả thu được sẽ giống như gang thép – một thứ sản phẩm chất lượng trong ngành luyện kim. Và các nhà phê bình lịch sử đã tham vọng rằng hệ thống quy tắc mà họ áp dụng trong nghiên cứu của mình cũng phải chắc chắn ở cấp độ cao như các ngành khoa học chính xác. Đây rõ ràng là chuyện không tưởng, vì sự chắc chắn của các quy tắc khoa học chỉ có thể đạt đến cấp độ như vậy vì phạm vi mà chúng áp dụng được gói gọn trong những chủ đề thấp hơn; trong khi các quy tắc của phê bình lịch sử không bao giờ đạt được, giống như các sử gia nổi danh cùng thời khác cũng đã chỉ ra, rằng nhiều bằng chứng lịch sử có giá trị, nhưng đã bị người ta phủ nhận hoặc gạt sang một bên như những dữ kiện không đáng tin cậy.

Và điểm đáng trách thứ hai của phong trào này là sự kiêu căng ngạo mạn và tự tin thái quá của các nhà phê bình lịch sử.

Các nguyên tắc của họ đã được tiếp thu bởi đa số sử gia Công Giáo, những người mà sau đó đã nhanh chóng chấp nhận một thái độ phê bình tiêu cực mang màu sắc bài trừ ảnh tượng (iconoclastic) đối với các tài liệu và cổ vật của Giáo Hội sơ khai; đồng thời, bắt đầu đòi hỏi được tự do hoàn toàn để thoát khỏi sự giám sát của Giáo Hội trong việc theo đuổi các nghiên cứu của mình. Thông qua các nhà phê bình lịch sử, họ dường như cũng bị ảnh hưởng bởi quan điểm của Tin Lành về lịch sử Giáo Hội, rằng bản chất thực sự của Giáo Hội đã bị đánh mất, nhưng có thể được tái khám phá hay tái tạo bằng cách nghiên cứu “các tài liệu còn sót lại”; hoặc ngả theo ý tưởng của chủ nghĩa lịch sử, rằng bản chất và niềm tin của Giáo Hội chỉ là sản phẩm của những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, vì thế, sẽ phải thay đổi khi chúng thay đổi.

Tinh thần khinh thường

Nhưng tinh thần của các nhà phê bình lịch sử có thể còn gây tổn hại nhiều hơn so với các nguyên tắc mà họ đưa ra. Cũng giống như chủ nghĩa phê bình Kinh Thánh, những người đi đầu trong phong trào này hầu hết đều là người theo đạo Tin Lành hoặc vô thần, do đó, không có thiện cảm với Giáo Hội. Bằng sự thông thái và liều lĩnh của mình, họ có thể đè bẹp sức kháng cự của hầu hết các tín hữu Công Giáo, ngoại trừ những đối thủ khó nhằn nhất.

Bị đe dọa và ấn tượng bởi những người này, một số đông các học giả Công Giáo đã bắt đầu bắt chước giọng điệu và phương pháp của họ, cũng như tỏ thái độ khinh thường đối với đời sống sùng đạo và lịch sử của Giáo Hội. Họ dành sự thích thú cho những gì được coi là sai lầm lịch sử trong các thời đại trước đó, chẳng hạn như “sự dại dột” của các luật sĩ thời Trung Cổ coi Các tập giáo lệnh mạo danh Isidore là tài liệu xác thực, hay “sự nhẹ dạ” của người Công Giáo khi tưởng tượng rằng Thánh Đa-minh đã nhận được Chuỗi Mân Côi từ Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Cuối cùng, họ kết thúc vấn đề bằng việc tạo ra một ấn tượng rằng Giáo Hội Công Giáo là mẹ của những trò giả mạo, trong khi chỉ có khoa học hiện đại mới xứng đáng là người bảo vệ và giữ gìn chân lý. Chúng ta đã ghi nhận được sự ảnh hưởng của tinh thần này đối với Dollinger, Acton và Duchesne (mặc dù họ thích phong cách trào phúng theo kiểu Voltaire hơn); ngoài ra, nó cũng động chạm rất nhiều đến Hội Bollandist và làm biến dạng cuốn Cuộc đời các vị thánh của Alban Butler (1710-1773) và Henry Thurston (1856-1939).

Nhưng chắc chắn rằng lịch sử Công Giáo có thể được viết một cách trung thực và thực tế mà không cần bất cứ loại thủ thuật ngụy tạo nào để gây dựng danh tiếng. Các học giả Công Giáo cũng không bao giờ được phép bắt chước thứ ngôn ngữ đả kích của giới trí thức thế tục trong các cuộc tranh luận học thuật phù phiếm. Những gì mà các sử gia ngoại giáo sử dụng khi tranh cãi về hệ thống thuế má thời Pơ-tô-lê-mai (Ptolemy) – với những bình luận mỉa mai, chú thích gay gắt cùng cách tiếp cận lạnh lùng, vô cảm – chắc chắn sẽ không được phép dùng khi bàn về các chủ đề liên quan đến tôn giáo.

Còn tiếp…