Đoạn thứ hai: Mười điều răn (Giáo lý số 2052 – 2082)

MƯỜI ĐIỀU RĂN TRONG XH 20,2-17

2 “Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ.

3 Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta.

4 Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ.

5 Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tương. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông.6 Còn với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời.

7 Ngươi không được dùng danh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng, vì ĐỨC CHÚA không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng.

8 Ngươi hãy nhớ ngày sa-bát, mà coi đó là ngày thánh.9 Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi.10 Còn ngày thứ bảy là ngày sa-bát kính ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi.11 Vì trong sáu ngày, ĐỨC CHÚA đã dựng nên trời đất, biển khơi, và muôn loài trong đó, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, ĐỨC CHÚA đã chúc phúc cho ngày sa-bát và coi đó là ngày thánh.

12 Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi.

13 Ngươi không được giết người.

14 Ngươi không được ngoại tình.

15 Ngươi không được trộm cắp.

16 Ngươi không được làm chứng gian hại người.

17 Ngươi không được ham muốn nhà người ta, ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta.”

MƯỜI ĐIỀU RĂN TRONG ĐNL 5,6-21

6 “Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ.

7 Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta.

8 Ngươi không được tạc tượng vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ.9 Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tương. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông.10 Còn với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời.

11 Ngươi không được dùng danh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi một cách bất xứng, vì Thiên Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng.

12 Ngươi hãy giữ ngày sa-bát, mà coi đó là ngày thánh, như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã truyền cho ngươi.13 Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi.14 Còn ngày thứ bảy là ngày sa-bát kính ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi, cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, bò lừa và mọi gia súc của ngươi, và ngoại kiều ở trong thành của ngươi, để tôi tớ nam nữ của ngươi được nghỉ như ngươi.15 Ngươi hãy nhớ ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai-cập, và ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ngươi ra khỏi đó. Bởi vậy, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi cử hành ngày sa-bát.

16 Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã truyền cho ngươi, để được sống lâu, và để được hạnh phúc trên đất mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa ngươi, ban cho ngươi.

17 Ngươi không được giết người.

18 Ngươi không được ngoại tình.

19 Ngươi không được trộm cắp.

20 Ngươi không được làm chứng dối hại người.

21 Ngươi không được ham muốn vợ người ta, ngươi không được thèm muốn nhà của người ta, đồng ruộng, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta.”

KINH MƯỜI ĐIỀU RĂN

Đạo Đức Chúa Trời có Mười Điều Răn:

Thứ nhất: thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.

Thứ hai: chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ.

Thứ ba: giữ ngày Chúa nhật.

Thứ bốn: thảo kính cha mẹ.

Thứ năm: chớ giết người.

Thứ sáu: chớ làm sự dâm dục.

Thứ bảy: chớ lấy của người.

Thứ tám: chớ làm chứng dối.

Thứ chín: chớ muốn vợ chồng người.

Thứ mười: chớ tham của người.

Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ: Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự. Sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen.


“Thưa Thầy, tôi phải làm gì,… ?”

2052 1858. “Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?” Để trả lời cho người thanh niên, Đức Giê- su nêu lên sự cần thiết phải nhận biết Thiên Chúa như “Đấng tốt lành duy nhất”, như sự thiện tuyệt hảo và như nguồn mạch của mọi điều thiện. Đoạn Đức Giê-su tuyên bố: “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn”. Rồi Người liệt kê các điều răn về yêu người: “Ngươi không được giết người, ngươi không được ngoại tình, ngươi không được trộm cắp, ngươi không được làm chứng gian, ngươi phải thảo kính cha mẹ”. Sau hết, Đức Giê-su tóm tắt các điều răn kể trên cách tích cực rằng: “Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình” (Mt 19,16-19).

2053 1968 1973. Đức Giê-su còn thêm: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy về bán tài sản của anh mà bố thí cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời, rồi hãy đến theo tôi” (Mt 19,21). Câu trả lời này không hủy bỏ câu trả lời trước. Muốn đi theo Đức Giê-su, phải tuân giữ các điều răn. Luật cũ không bị bãi bỏ (x. Mt 5,17), nhưng chúng ta được mời gọi tìm thấy sự viên mãn của lề luật nơi con người của Thầy mình, Đấng chu toàn tuyệt hảo lề luật. Trong Tin Mừng Nhất Lãm, lời Đức Giê-su mời gọi anh thanh niên giàu có đi theo Người với lòng vâng phục của người môn đệ và tuân giữ các điều răn, còn được kết hợp với lời mời sống nghèo khó và khiết tịnh (x. Mt 19,6-12; 21.23-29). Các lời khuyên Phúc Âm không thể tách khỏi các điều răn.

2054 581. Đức Giê-su vẫn tôn trọng mười điều răn, nhưng cho thấy sức mạnh của Thánh Thần đang tác động nơi các điều răn ấy. Người đã rao giảng sự “công chính vượt trên sự công chính của các kinh sư và Pha-ri-sêu” (Mt 5,20), cũng như của dân ngoại (x. Mt 5,46-47). Người cho thấy tất cả những đòi hỏi của các điều răn. “Anh em đã nghe luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người,… còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình thì cũng đáng bị đưa ra tòa rồi” ( Mt 5,21-22).

2055 129. Khi được hỏi: “Điều răn nào là điều răn trọng nhất?” (Mt 22,36), Đức Giê-su đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi; đó là điều răn trọng nhất và là điều răn thứ nhất.

Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22,37-40) (x. Đnl 6,5; Lv 19,18). Mười Điều Răn phải được giải thích dưới ánh sáng của điều răn mến Chúa-yêu người, vì yêu thương là chu toàn lề luật:

“Các điều răn như: “Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn,…”, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn lề luật vậy” (Rm 13,9-10).

Mười Điều Răn trong Thánh Kinh

2056 700 62. Từ Hi lạp “Dekalogos” trong Thánh Kinh có nghĩa là “Mười Lời”, chúng ta quen gọi là Mười Điều Răn (x. Xh 34,28; Đnl 4,13; 10,4). Mười Điều Răn được Thiên Chúa mặc khải cho dân Người trên núi thánh. Mười lời này “tự ngón tay Người” đã viết (Xh 31,18; Đnl 5,22), khác với các điều luật khác do Mô-sê viết (x. Đnl 31,9-24). Mười Điều Răn là Lời Chúa theo một nghĩa rất đặc biệt và được lưu truyền đến chúng ta trong sách Xuất Hành (x. Xh 20,1-17) và sách Đệ Nhị Luật (Đnl 5,6-22). Từ thời Cựu Ước, các Sách Thánh luôn quy chiếu về “Mười Điều Răn” (x. ví dụ Hs 4,2; Cn 7,9; Ed 18,5-9), nhưng ý nghĩa của chúng chỉ được mặc khải trọn vẹn trong thời Tân Ước, nơi Đức Giê-su.

2057 2084 2170. Trước hết, Mười Điều Răn phải được hiểu trong bối cảnh của cuộc Xuất Hành, biến cố giải phóng vĩ đại của Thiên Chúa ở trung tâm của giao ước cũ. Dù được viết dưới hình thức tiêu cực, cấm đoán hay dưới hình thức tích cực (như “hãy tôn kính cha mẹ”), “Mười Điều Răn” đưa ra những điều kiện của một đời sống được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi. Mười Điều Răn là một con đường sống:

“Phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đi theo đường lối của Người, và tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định của Người, để anh em được sống, được thêm đông đúc” (Đnl 30,16).

Chúng ta thấy rõ sức mạnh giải thoát của Mười Điều Răn, thí dụ điều răn nghỉ ngày hưu lễ, áp dụng cho cả người ngoại kiều và nô lệ:

“Ngươi hãy nhớ, ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai-cập và Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ngươi ra khỏi đó” (Đnl 5,15).

2058 1962. “Mười Điều Răn” tóm tắt và công bố Luật của Thiên Chúa: “Những lời ấy Đức Chúa đã lớn tiếng phán với toàn thể đại hội anh em, trên núi từ trong đám lửa, giữa mây đen mù mịt. Người không thêm gì cả và viết những lời ấy trên hai bia đá rồi ban cho tôi” (x. Đnl 5,22). Vì thế, hai bia đá này được gọi là “Bia Chứng Ước” (Xh 25,16), vì ghi khắc các điều khoản của giao ước đã ký kết giữa Thiên Chúa và dân Người. Các “Bia Chứng Ước” (x. Xh 31,18; 32,15; 34,29) phải được đặt vào “Hòm Bia Chứng Ước” (Xh 25,16; 40,1-2).

2059 707 2823. “Mười Điều Răn” được Thiên Chúa công bố trong một cuộc thần hiện (“Đức Chúa đã phán với anh em, mặt đối mặt, trên núi, từ trong đám lửa”: Đnl 5,4). Qua Mười Điều Răn, Thiên Chúa mặc khải về chính bản thân Người và về vinh quang của Người. Khi ban các điều răn, Thiên Chúa ban tặng chính mình và bày tỏ thánh ý Người. Khi cho con người biết thánh ý, Thiên Chúa mặc khải chính mình cho Dân Thánh.

2060 62. Việc ban tặng các điều răn và lề luật là thành phần của giao ước do Thiên Chúa ký kết với những kẻ thuộc về Người. Theo sách Xuất Hành, “Mười Điều Răn” được mặc khải giữa lúc đề nghị (x. Xh 19) lập giao ước và lúc ký kết giao ước (x. Xh 24), sau khi dân chúng đã cam kết “thi hành và tuân theo tất cả những gì Đức Chúa đã phán” (Xh 24,7). Mười Điều Răn được truyền đạt trong tương quan với Giao Ước. (“Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, đã thiết lập một giao ước với chúng ta tại núi Kho-rép”: Đnl 5,2).

2061. Các điều răn chỉ có ý nghĩa trọn vẹn trong Giao Ước.

Theo Sách Thánh, đời sống luân lý của con người chỉ đầy đủ ý nghĩa trong và nhờ giao ước. Điều thứ nhất của “Mười Điều Răn” nhắc lại sáng kiến tình yêu Thiên Chúa dành cho dân Người:

2086. “Khi phạm tội, con người bị đuổi khỏi địa đàng tự do và sa vào kiếp nô lệ trần thế. Vì thế, câu đầu tiên của Mười Điều Răn, lời nói đầu tiên của các điều răn đã là nói về sự tự do: “Ta là Chúa, Thiên Chúa của ngươi, Đấng đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi nhà nô lệ” (Xh 20,2; Đnl 5,6) (Ô-ri-gê-nê, Hom, in Ex 8,1).

2062 142 2002. Như thế, các điều răn chỉ giữ vai trò thứ yếu, vì là những hệ luận của việc con người thuộc về Thiên Chúa như giao ước quy định. Đời sống luân lý là sự đáp trả sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa, là sự nhận biết, tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa. Như thế, chúng ta cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa đang thực hiện trong lịch sử.

2063 878. Giao Ước và cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người còn được xác nhận qua sự kiện: trong các điều răn, Thiên Chúa luôn nói ở ngôi thứ nhất (“Ta là Đức Chúa”) và nói với con người ở ngôi thứ hai (“ngươi”). Tất cả các điều răn đều dùng đại từ nhân xưng ở) số ít để chỉ định người nghe. Khi bày tỏ thánh ý cho toàn dân, Thiên Chúa cũng bày tỏ thánh ý cho riêng từng người:

“Chúa ra lệnh phải yêu mến Thiên Chúa và dạy giữ công bình đối với người thân cận, để con người khỏi bất chính và bất xứng trước mặt Thiên Chúa. Cho nên, nhờ Mười Điều Răn, Thiên Chúa chuẩn bị con người trở thành bạn hữu của Người và một lòng một dạ với tha nhân,… Mười Điều Răn vẫn giữ nguyên giá trị đối với chúng ta (những Ki-tô hữu), vì khi Chúa đến, Mười Điều Răn chẳng những không bị hủy bỏ, mà còn được trọn nghĩa và triển nở” (Thánh I-rê-nê, chống lạc giáo 4,16,3- 4).

Mười Điều Răn trong Truyền Thống Hội Thánh

2064. Trung thành với Thánh Kinh và theo gương Đức Giê-su, truyền thống của Hội Thánh nhìn nhận Mười Điều Răn có tầm quan trọng và ý nghĩa hàng đầu.

2065. Từ thời thánh Augustinô, Mười Điều Răn đã có một vị trí quan trọng trong huấn giáo cho dự tòng và tín hữu. Vào thế kỷ XV, Mười Điều Răn thường được diễn tả bằng những công thức theo văn vần, dễ nhớ và tích cực, vẫn còn thông dụng ở nhiều nơi tới ngày nay. Các sách giáo lý của Hội Thánh thường trình bày luân lý Ki-tô Giáo theo thứ tự của “Mười điều Răn”.

2066. Việc phân chia và đánh số các điều răn có thay đổi theo dòng lịch sử. Quyển Giáo lý này theo cách phân chia của thánh Augustinô đã trở thành truyền thống trong Hội Thánh Công Giáo. Các giáo phái Lu-ther cũng theo cách phân chia này. Các giáo phụ Hi-lạp phân chia hơi khác; cách chia này còn gặp thấy trong Giáo Hội Chính thống và các cộng đoàn Cải Cách.

2067 1853. Mười Điều Răn nêu ra các đòi hỏi của tình mến Chúa yêu người. Ba điều răn đầu đề cập đến tình yêu đối với Thiên Chúa, và bảy điều sau, đến tình yêu đối với tha nhân.

“Như Chúa đã đúc kết tất cả lề luật và các tiên tri vào trong hai giới răn yêu mến,…: Mười Điều Răn cũng được chia thành hai bảng. Ba điều khắc trên một bảng, và bảy điều trên bảng kia” (Thánh Augustinô, bài giảng 33,2,3).

2068 1993 888. Công đồng Tren-tô dạy rằng: các Ki-tô hữu buộc phải giữ Mười Điều Răn, và người đã được công chính hóa cũng có bổn phận phải tuân giữ các điều răn ấy (x. DS 1569- 1570). Công đồng Va-ti-ca-nô II cũng khẳng định: “Các Giám mục vì là người kế nhiệm các tông đồ, nhận từ nơi Chúa,… sứ mạng dạy dỗ muôn dân và rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo, để mọi người được rỗi nhờ lãnh nhận đức tin, phép rửa và việc chu toàn các điều răn” (x. LG 24).

Tính thống nhất của Mười Điều Răn

2069 2534. Mười Điều Răn hợp thành một thể thống nhất. Mỗi “lời” (điều răn) quy chiếu về từng lời và tất cả các lời khác, các lời tương thuộc lẫn nhau. Hai Bảng Luật soi sáng cho nhau, hợp thành một khối thuần nhất. Vi phạm một điều răn là phạm tới tất cả các điều răn khác (x. Gc 2,10-11). Không thể tôn trọng người khác mà không chúc tụng Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo họ. Không thể tôn thờ Thiên Chúa mà không yêu thương tất cả mọi người là thụ tạo của Thiên Chúa. Mười điều răn thống nhất đời sống đối thần với đời sống xã hội của con người.

Mười Điều Răn và luật tự nhiên

2070 1955. Mười Điều Răn là một phần mặc khải của Thiên Chúa; đồng thời dạy chúng ta biết nhân tính đích thực của con người. Mười Điều Răn làm sáng tỏ những bổn phận thiết yếu; do đó gián tiếp cho thấy những quyền cơ bản gắn liền với bản tính của nhân vị. Mười Điều Răn là một cách trình bày “luật tự nhiên” đặc sắc.

“Từ nguyên thủy, Thiên Chúa đã ghi sâu trong lòng con người các giới luật tự nhiên. Sau đó người chỉ cần nhắc lại các điều luật ấy cho họ. Đó chính là Mười Điều Răn (Thánh I-rê-nê chống lạc giáo 4,15,1).

2071 1960. Mười Điều Răn là mặc khải của Thiên Chúa, dù với lý trí con người có thể tự biết được nhưng để hiểu biết đầy đủ và chắc chắn về các đòi hỏi của luật tự nhiên, loài người tội lỗi cần đến mặc khải này:

1777. Trong tình trạng tội lỗi, ánh sáng lý trí bị lu mờ và ý chí bị sai lệch, con người cần đến một trình bày đầy đủ về các điều răn của Mười Điều Răn.

Chúng ta biết được các điều răn nhờ mặc khải được rao giảng trong Hội Thánh và nhờ tiếng nói của lương tâm.

Mọi người phải tuân giữ Mười Điều Răn

2072 1858 1958. Mười Điều Răn nêu lên những bổn phận cơ bản của con người đối với Thiên Chúa và với tha nhân, nên tự bản chất là những nghĩa vụ quan trọng. Mười Điều Răn bất biến và có giá trị cho mọi thời và mọi nơi. Không ai có thể chuẩn miễn Mười Điều Răn được Thiên Chúa ghi khắc trong tâm khảm con người.

2073. Trách nhiệm tuân giữ Mười Điều Răn còn buộc ta giữ những nghĩa vụ theo chất thể tự nó là nhẹ. Chẳng hạn điều răn thứ năm ngăn cấm nhục mạ kẻ khác bằng lời nói; điều này có thể trở thành một tội nặng tùy hoàn cảnh và ý định của người nói.

“Không có Thầy, anh em không làm gì được”

2074 2732 521. Đức Giê-su nói: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai luôn kết hợp với Thầy và Thầy luôn kết hợp với người ấy, người ấy sinh hoa kết quả dồi dào, vì không có Thầy, anh em không làm được gì” (Ga 15,5). Hoa quả ở đây là sự thánh thiện của một đời sống phong phú, nhờ kết hợp với Đức Ki-tô. Khi chúng ta tin vào Đức Giê-su Ki-tô, thông hiệp vào các mầu nhiệm của Người và giữ các điều răn của Người, Đấng Cứu Thế sẽ đích thân đến trong chúng ta để yêu thương Cha của Người và các anh em của Người cũng là Cha và anh em chúng ta. Nhờ Thánh Thần, chính Đức Giê-su trở thành quy luật nội tâm sống động cho mọi hoạt động của chúng ta. “Đây là điều răn của Thầy, anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).

TÓM LƯỢC

2075. “Tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời? Nếu anh muốn vào cõi sống, hãy giữ các điều răn” (Mt 19,16-17).

2076. Qua đời sống và lời giảng dạy, Đức Giê-su đã xác nhận Mười Điều Răn có tính thường tồn.

2077. Thiên Chúa ban tặng Mười Điều Răn cũng là Giao Ước ký kết giữa Thiên Chúa với dân Người. Mười Điều Răn chỉ có ý nghĩa đích thực trong và nhờ Giao Ước.

2078. Trung thành với Thánh Kinh và theo gương Đức Giê-su, Truyền thống Hội Thánh nhìn nhận Mười Điều Răn có tầm quan trọng và ý nghĩa hàng đầu.

2079. Mười Điều Răn hợp thành một khối thuần nhất, trong đó mỗi “lời” hay mỗi “điều răn” đều quy chiếu về toàn thể. Vi phạm một điều răn là vi phạm toàn thể lề luật (x. Gc 2,10- 11).

2080. Mười Điều Răn là một cách trình bày đặc sắc của luật tự nhiên. Chúng ta biết được Mười Điều Răn nhờ mặc khải của Thiên Chúa và nhờ lý trí của con người.

2081. Mười Điều Răn tự bản chất là những nghĩa vụ quan trọng. Tuy nhiên, việc tuân giữ các giới luật này cũng bao gồm những nghĩa vụ theo chất thể tự nó là nhẹ.

2082. Thiên Chúa ban ân sủng trợ lực để chúng ta thi hành được điều Người truyền dạy.