Mục 1. Điều răn thứ nhất (Giáo lý số 2084 – 2141)

“Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-Cập, khỏi cảnh nô lệ. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta. Ngươi không được tạo tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ. Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ” (Xh 20,2-5) (Đnl 5,6-9).

Đã có lời chép rằng: “Ngươi phải thờ lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Mt 4,10).

I. “CHÍNH ĐỨC CHÚA, THIÊN CHÚA CỦA ANH EM LÀ ĐẤNG ANH EM PHẢI KÍNH SỢ; CHÍNH NGƯỜI LÀ ĐẤNG ANH EM PHẢI PHỤNG THỜ”

2084 2057 398. Thiên Chúa tự mặc khải bằng cách nhắc lại hành động đầy quyền năng, nhân hậu và giải thoát của Người trong lịch sử: “Ta đã đem ngươi ra khỏi nhà Ai-cập, khỏi nhà nô lệ”. Lời đầu tiên chứa đựng điều răn thứ nhất của Lề luật: “Chính Đức Chúa Thiên Chúa của anh em là Đấng anh em phải kính sợ, chính Người là Đấng anh em phải phụng thờ,… Anh emkhông được theo các thần khác” (Đnl 6,13-14). Lời mời gọi đầu tiên và yêu sách chính đáng của Thiên Chúa là con người phải tiếp nhận và tôn thờ Người.

2085 200 1701. Thiên Chúa duy nhất và chân thật trước hết đã mặc khải vinh quang của Người cho Ít-ra-en (x. Xh 19,16-25; 24,15-18). Người cũng mặc khải ơn gọi và bản chất của con người gắn liền với mặc khải về Thiên Chúa. Con người được mời gọi làm chứng cho Thiên Chúa bằng cách sống xứng với bản chất là thụ tạo được dựng nên “theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Người”.

“Thưa ông Tri-phon, chưa bao giờ có Thiên Chúa nào khác và từ muôn đời, cũng không hề có Thiên Chúa nào khác (,… ) ngoài Đấng đã tạo dựng và xếp đặt vũ trụ. Chúng tôi không nghĩ rằng Thiên Chúa của chúng tôi khác với Thiên Chúa của ông, Đấng đã đưa tổ tiên ông ra khỏi Ai-cập “bằng bàn tay hùng mạnh và cánh tay giương cao”. Chúng tôi không hy vọng vào bất cứ Thiên Chúa nào khác, vì không có, nhưng vào cùng một Đấng như Thiên Chúa của ông, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, của I-sa-ác và của Gia-cóp. (Thánh Giustinô, đối thoại 11,1).

2086 212 2061. Điều răn thứ nhất bao gồm đức tin, đức cậy và đức mến. Khi nói đến Thiên Chúa là Đấng thường hằng, bất biến bất di bất dịch, chúng ta tuyên xưng Người trung tín và tuyệt đối công bình. Do đó, chúng ta phải đón nhận các lời của Người, hoàn toàn tin tưởng và trông cậy vào Người. Người là Đấng Toàn Năng, nhân từ và hằng giáng phúc thi ân. Ai lại không hy vọng vào Người? Và ai lại không yêu mến Người khi thấy Người yêu thương và trìu mến đổ tràn muôn ơn trên chúng ta? Do đó, trong Thánh Kinh, khi khởi đầu hay kết thúc các huấn lệnh, Thiên Chúa phán: “Ta là Đức Chúa” (x. Giáo lý Rô-ma 3,2,4).

1814-1816.

Đức tin

2087 143. Đời sống luân lý của chúng ta bắt nguồn trong lòng tin vào Thiên Chúa, Đấng mặc khải tình yêu của Người cho chúng ta. Thánh Phao-lô nói đến “tin mà vâng phục Thiên Chúa” (Rm 1,5; 16,26) như là một nghĩa vụ hàng đầu. Theo thánh Phao-lô, “không nhận biết Thiên Chúa” là nguyên nhân và lời giải thích cho mọi lệch lạc luân lý (x. Rm 1,18-32). Bổn phận của chúng ta đối với Thiên Chúa là tin vào Người và làm chứng về Người.

2088. Điều răn thứ nhất buộc chúng ta nuôi dưỡng và giữ gìn đức tin cách cẩn trọng; đồng thời loại bỏ tất cả những gì nghịch cùng đức tin. Có nhiều tội nghịch cùng đức tin.

137. Cố tình hoài nghi trong lãnh vực đức tin là tội xem thường hay không nhìn nhận là chân thật những điều Thiên Chúa mặc khải và Hội Thánh dạy phải tin. Tội) vô tình hoài nghi là do dự không tin, không cố gắng vượt qua những vấn nạn đức tin hay khủng hoảng trước bóng tối của đức tin. Nếu cố chấp, hoài nghi sẽ làm cho tâm trí nên mù quáng.

2089 162 817. Vô tín là khinh thường chân lý mặc khải hay cố tình từ chối không tin. “Lạc giáo là khi người tín hữu đã chịu phép Rửa Tội lại ngoan cố phủ nhận hay nghi ngờ một chân lý phải tin nhận, theo đức tin đối thần và công giáo.)Bội giáo là tội chối bỏ toàn bộ đức tin Ki-tô Giáo. Ly giáo là từ chối tùng phục Đức Giáo Hoàng hay từ chối hiệp thông với các phần tử của Hội Thánh đang phục quyền Người” (x. CIC Can 751).

1817-1821.

Đức cậy

2090 1996. Khi Thiên Chúa tự mặc khải và kêu gọi con người, con người không thể đáp trả trọn vẹn tình yêu của Chúa bằng sức riêng mình. Họ phải trông cậy Chúa sẽ ban cho khả năng, để đáp trả tình yêu của Người và hành động cho phù hợp với các điều răn của đức mến. Cậy trông là hết lòng mong đợi được Thiên Chúa chúc phúc cho diện kiến Tôn Nhan Người. Cậy trông còn bao hàm thái độ sợ mất lòng Chúa và bị trừng phạt.

2091. Điều răn thứ nhất cũng nhắm đến các tội nghịch cùng đức cậy, như ngã lòng và tự phụ:

1864. Con người ngã lòng, khi không còn trông cậy Chúa sẽ ban cho mình ơn cứu độ, trợ giúp mình đạt ơn cứu độ hay tha thứ tội lỗi của mình. Điều này nghịch với Thiên Chúa là Đấng nhân từ, công bằng, bởi Chúa luôn trung thành với mọi lời Người hứa và giàu lòng thương xót.

2092 2732. Có hai loại tự phụ: quá tin vào sức riêng (tưởng mình có thể tự cứu rỗi mà không cần sự giúp đỡ của ơn trên); hoặc ỷ lại vào Thiên Chúa toàn năng và giàu lòng thương xót (tưởng mình sẽ được tha thứ mà không cần hối cải và được vinh quang mà không cần lập công).

1822-1829.

Đức mến

2093. Khi tin vào tình yêu Thiên Chúa, con người phải đáp trả tình yêu của Người bằng một tình yêu chân thành. Điều răn thứ nhất dạy chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, và yêu toàn thể thụ tạo vì Người và cho Người (Đnl 6,4-5).

2094 2733 2303. Có nhiều tội nghịch với tình yêu Thiên Chúa. Lãnh đạm là tội xem thường hay không lưu tâm đến tình yêu Thiên Chúa, không biết đến bản chất và sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa. Vong ân là tội quên lãng hay từ chối nhận biết tình yêu Thiên Chúa và đáp trả tình yêu Thiên Chúa bằng tình yêu của mình. Nguội lạnh là tội do dự, chểnh mảng trong việc đáp lại tình yêu của Thiên Chúa, hay từ chối dấn thân theo đức mến. Tội lười biếng trong việc thiêng liêng có thể đưa tới từ khước niềm vui Thiên Chúa ban và khinh chê mọi lợi ích thiêng liêng. Tội) oán ghét Thiên Chúa là do kiêu ngạo, chống lại tình yêu của Người, cho rằng Người không tốt lành và chối từ Thiên Chúa vì Người cấm phạm tội và trừng trị bằng hình phạt.

II. “NGƯƠI PHẢI THỜ PHƯỢNG MỘT MÌNH NGƯỜI MÀ THÔI”

2095 1807. Các nhân đức đối thần: tin, cậy, mến, định hình và đem lại sức sống cho các đức tính luân lý. Đức mến đòi buộc chúng ta là thụ tạo phải cảm tạ ơn Thiên Chúa cho xứng đáng, vì đã mang ơn Người. Nhân đức thờ phượng giúp chúng ta sống tâm tình này.

2628.

Thờ lạy

2096. Hành vi đầu tiên của nhân đức thờ phượng là thờ lạy Thiên Chúa, nghĩa là nhận biết Người là Thiên Chúa, là Đấng Sáng Tạo và Cứu Chuộc, là Chúa và Thầy của mọi loài, là Tình Yêu vô biên và giàu lòng thương xót. Dựa vào sách Đệ Nhị Luật (Đnl 6,13), Đức Giê-su nói: “Ngươi phải thờ lạy Đức Chúa, là Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Ngài mà thôi” (Lc 4,8).

2097. Thờ lạy Thiên Chúa là tôn kính và tuyệt đối thần phục Người vì nhận biết “tính hư không của thụ tạo”, biết sự hiện hữu của chúng hoàn toàn nằm trong tay Người. Như Đức Ma-ri-a trong kinh Magnificat, chúng ta thờ lạy Thiên Chúa bằng cách ca ngợi, chúc tụng Người, khiêm tốn tuyên xưng với lòng biết ơn rằng Thiên Chúa đã làm những việc trọng đại và Danh Người chí thánh (Lc 1,46-49). Việc thờ lạy Thiên Chúa duy nhất, giải thoát con người khỏi thái độ khép kín, khỏi nô lệ tội lỗi và sự sùng bái thế giới như ngẫu tượng.

2558.

Cầu nguyện

2098 613. Các hành vi tin cậy mến, như điều răn thứ nhất đòi buộc, được hoàn tất trong kinh nguyện. Nâng tâm hồn lên tới Thiên Chúa để chúc tụng, tạ ơn, chuyển cầu và van xin là một cách thờ lạy Người. Cầu nguyện là điều kiện thiết yếu, giúp ta tuân giữ giới răn của Thiên Chúa: “Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (Lc 18,1).

Lễ tế

2099. Con người phải dâng lên Thiên Chúa những lễ tế để tỏ lòng thờ phượng, tạ ơn, khẩn cầu và sự hiệp thông với Người. “Mọi hành vi con người thực hiện để được kết hiệp với Thiên Chúa và được vinh phúc, đều là lễ tế đích thực” (FTh. Augustinô, Thành phố của Chúa 10,6).

2100 2711 614 618. Con người cần phải có tâm tình bên trong để lễ tế bên ngoài được chân thực: “Hy lễ đẹp lòng Chúa là tấm lòng tan nát khiêm cung,…” (Tv 51,19). Các ngôn sứ thời Cựu Ước thường lên án các lễ tế mà người dâng thiếu tâm tình bên trong (x. Am 5,21-25) hay không có tình thương đối với tha nhân (x. Is 1,10-20). Đức Giê-su nhắc lại lời của ngôn sứ Hô-sê: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (x. Mt 9,13; 12,7; Hs 6,6). Chỉ có một lễ tế hoàn hảo duy nhất là lễ tế Đức Ki-tô dâng trên bàn thờ thập giá, để tận hiến cho tình yêu của Chúa Cha và để cứu chuộc chúng ta. Kết hợp với lễ tế này, chúng ta biến cuộc đời mình thành lễ tế dâng lên Thiên Chúa.

Lời hứa và lời khấn

2101 1237 1064. Trong nhiều hoàn cảnh, người Ki-tô hữu được mời gọi để tuyên hứa với Thiên Chúa. Các bí tích Thánh Tẩy, Thêm Sức, Hôn Phối và Truyền Chức Thánh luôn kèm theo những lời hứa. Do lòng đạo đức cá nhân, người Ki-tô hữu có thể hứa với Chúa thực hiện một hành động, một kinh nguyện, một việc bố thí, một cuộc hành hương hay một điều tương tự. Việc trung thành tuân giữ lời hứa với Chúa, chứng tỏ lòng kính trọng Thiên Chúa uy linh và tình yêu đối với Thiên Chúa hằng trung tín.

2102. “Lời khấn là một lời hứa có suy tính và tự do dâng lên Thiên Chúa, về một điều thiện tốt hơn và có thể thi hành được. Vì thuộc về đức thờ phượng, lời khấn buộc phải được chu toàn” (x. CIC,1191,1). Lời khấn là một hành vi đạo đức, nhờ đó người tín hữu tự hiến cho Thiên Chúa hay hứa thực hiện một việc tốt dâng kính Người. Qua việc chu toàn lời khấn, họ dâng lên Thiên Chúa điều họ đã hứa và thánh hiến. Sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy thánh Phao-lô luôn lo lắng chu toàn điều đã khấn.

2103 1973. Hội Thánh công nhận giá trị gương mẫu của những lời khấn sống theo các lời khuyên Phúc âm:

914. “Hội Thánh là Mẹ chúng ta, vui mừng khi thấy trong lòng mình có nhiều con cái nam nữ muốn theo sát gương Đấng Cứu Thế và tỏ lộ rõ ràng hơn mầu nhiệm tự hủy của Người. Họ chấp nhận nghèo khó trong tự do của con cái Chúa và từ bỏ ý riêng: hơn cả mức đòi buộc của giáo luật, họ tự nguyện tùng phục một con người, tùng phục vì Chúa, trong những gì liên hệ tới sự trọn lành, hầu nên giống Chúa Ki-tô vâng lời cách hoàn toàn hơn” (x. LG 42).

Trong một số trường hợp, Hội Thánh có thể miễn chuẩn những lời khấn và lời hứa, vì những lý do chính đáng.

Tự do tôn giáo

2104 2467 851. “Mọi người đều có trách nhiệm đi tìm chân lý, đặc biệt là những gì liên quan tới Thiên Chúa và Hội Thánh của Người. Khi đã nhận ra chân lý, họ phải tiếp nhận và trung thành với chân lý ấy” (x. DH 1). Trách nhiệm này xuất phát từ “chính bản tính của con người” (x. DH 2), không ngăn cản chúng ta “chân thành tôn trọng” các tôn giáo khác “thường cũng mang lại những tia sáng của chân lý đang chiếu soi cho mọi người” (x. NA 2). Trách nhiệm này cũng không mâu thuẫn với đức mến đòi hỏi các tín hữu “phải yêu thương, khôn ngoan, kiên nhẫn để tiếp xúc với những ai còn lầm lạc hay thiếu hiểu biết về vấn đề đức tin” (x. DH 14).

2105 854 898. Cá nhân cũng như xã hội đều phải tôn thờ Thiên Chúa cách xứng hợp. Đây là “giáo lý truyền thống công giáo về trách nhiệm luân lý của con người và của xã hội đối với tôn giáo chân thực và Hội Thánh duy nhất của Đức Ki-tô” (x. DH 1). Khi không ngừng loan báo Tin Mừng của Chúa, Hội Thánh “cố gắng đem tinh thần Ki-tô Giáo thấm nhuần não trạng, phong tục, luật lệ và cơ cấu của cộng đoàn nơi họ sống” (x. AA 13). Người Ki-tô hữu có trách nhiệm xã hội là khơi dậy trong lòng mọi người tình yêu đối với chân lý và sự thiện, và phải trân trọng tình yêu đó. Trách nhiệm này buộc họ phải truyền bá việc tôn thờ của tôn giáo duy nhất và chân thực, đang thể hiện trong Hội Thánh công giáo và tông truyền (x. DH 1). Người Ki-tô hữu được mời gọi trở thành ánh sáng thế gian (x. AA 13). Nhờ đó, Hội Thánh minh chứng vương quyền của Đức Ki-tô trên vạn vật, đặc biệt là trên xã hội loài người (x. Lêô XIII; Pi-ô XI).

2106 160 1782 1738. Tự do tôn giáo có nghĩa là “trong phạm vi tôn giáo, không ai bị ép buộc hành động trái với lương tâm, cũng như không bị ngăn trở, cách kín đáo hay công khai, để hành động theo lương tâm trong những giới hạn họ được phép”, như một cá nhân đơn độc hay liên hệ với những người khác (x. DH 2). Quyền này căn cứ trên chính bản tính con người vì nhân phẩm cho họ được tự do để thuận theo chân lý thiên linh vượt trên trật tự trần thế. Do đó, “những ai không thực hiện trách nhiệm tìm kiếm và gắn bó với chân lý” (x. DH 2) cũng có quyền này.

2107. “Nếu như, vì những hoàn cảnh đặc biệt, như trong một số dân tộc hiện nay, một tôn giáo nào đó được luật pháp nhà nước nhìn nhận, thì mọi người vẫn phải công nhận và tôn trọng quyền tự do tôn giáo của mọi công dân cũng như của những tập thể tôn giáo khác” (x. DH 6).

2108 1740. Quyền tự do tôn giáo không cho phép lương tâm con người được đi theo (x. Lê-ô XIII, thông điệp “Libertas praestantissimum”.) hay phổ biến điều sai lạc (x. Pi-ô XII, diễn văn 6-12-1953), nhưng đây là quyền tự nhiên của con người, quyền được tự do theo dân luật nghĩa là được chính quyền bảo vệ khỏi những áp lực bên ngoài, để thực thi tự do tôn giáo, trong giới hạn thích đáng. Quyền tự nhiên này phải được luật pháp xã hội tôn trọng, phải là một quyền công dân (x. DH 2).

2109 2244 1906. Quyền tự do tôn giáo không phải là vô hạn (x. Pi-ô VI, bảng tóm lược “Quod aliquantum”.), cũng không thể giới hạn hẹp do “trật tự công cộng” theo chủ nghĩa thực nghiệm hay tự nhiên (x. Pi-ô IX, thông điệp “Quanta cura”). Chính quyền phải có một đường lối chính trị khôn ngoan để xác định những “giới hạn thích đáng” của quyền tự do tôn giáo cho mỗi hoàn cảnh xã hội, căn cứ vào những đòi hỏi của công ích. Những giới hạn này phải được chính quyền xác nhận “theo những quy tắc pháp lý phù hợp với trật tự luân lý khách quan” (x. DH 7).

III. “NGƯƠI KHÔNG ĐƯỢC CÓ THẦN NÀO KHÁC ĐỐI NGHỊCH VỚI TA”

2110. Điều răn thứ nhất cấm tôn thờ những thần khác ngoài Đức Chúa Độc Nhất đã tự mặc khải cho dân, cấm mê tín và vô tôn giáo. Có thể nói mê tín là một lòng đạo quá mức và sai trái. Vô tôn giáo là một thói xấu nghịch với nhân đức thờ phượng vì thiếu lòng đạo.

Mê tín

2111. Mê tín là lệch lạc trong tâm tình tôn giáo và trong cách thể hiện tâm tình này. Mê tín cũng có thể xảy đến khi chúng ta thờ phượng Thiên Chúa chân thật; ví dụ như gán một ý nghĩa ma thuật cho một số thực hành vốn chính đáng hay cần thiết. Nếu cho rằng chỉ cần đọc các lời kinh hay làm các dấu chỉ bí tích là có hiệu quả, bất chấp những tâm tình phải có bên trong, người ta rơi vào mê tín (x. Mt 23,16-22).

Thờ ngẫu tượng

2112 210. Điều răn thứ nhất lên án thuyết đa thần, buộc con người không được tin vào thần nào khác ngoài Thiên Chúa, không được tôn kính các thần linh nào khác ngoài Thiên Chúa duy nhất. Thánh Kinh luôn nhắc lại việc từ bỏ các ngẫu tượng “bằng vàng, bằng bạc, do tay người làm ra”, “có miệng mà không nói được, có mắt mà không thấy được”,… Các ngẫu tượng là hão huyền nên ai thờ ngẫu tượng sẽ trở thành hão huyền, kẻ làm ra hoặc tin ở tượng thần cũng giống như chúng vậy” (x. Tv 115,4-5.8; x. Is 44,9-20; Gr 10,1-16; Dn 14,1-30; Br 6; Kn 13,1-15,19). Ngược lại, Thiên Chúa là “Đấng Hằng Sống”, Đấng làm cho sống (x. Gs 3,10; Tv 42,3;,… ) và can thiệp vào lịch sử.

2113 398 2534 2289 2473. Thờ ngẫu tượng không chỉ là sai lầm của dân ngoại, nhưng còn là một cám dỗ thường xuyên đối với tín hữu. Thờ ngẫu tượng là tôn thờ và kính bái một thụ tạo thay vì Thiên Chúa, cho dù đó là thần linh hay ma quỷ (ví dụ: giáo phái thờ Xa-tan), quyền lực, khoái lạc, chủng tộc, tổ tiên, nhà nước, bạc tiền v.v. Đức Giê-su dạy: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” (Mt 6,24). Rất nhiều vị tử đạo đã chết vì không chịu thờ phượng “Con Thú” (x. Kh 13-14) dù chỉ giả vờ thôi. Ai thờ ngẫu tượng là mặc nhiên không nhìn nhận Thiên Chúa là Chúa Tể duy nhất, nên không thể thông hiệp với Thiên Chúa (x. Ga 5,20; Ep. 5,5).

2114. Khi tôn thờ Thiên Chúa Duy nhất, con người thống nhất đời sống. Điều răn dạy tôn thờ Đức Chúa duy nhất làm cho con người trở nên tập trung, khỏi bị phân tán. Thờ ngẫu tượng là tình trạng cảm thức tôn giáo vốn bẩm sinh nơi con người bị suy đồi. Kẻ thờ ngẫu tượng “gán ý niệm về Thiên Chúa bất diệt cho bất cứ thứ gì không phải là Thiên Chúa” (Origène, odeis 2,40).

Bói toán và ma thuật

2115 305. Thiên Chúa có thể cho các ngôn sứ hay các thánh nhân biết về tương lai. Tuy vậy, thái độ đúng đắn của Ki-tô hữu là phó thác hoàn toàn trong tay Chúa Quan Phòng những gì thuộc về tương lai và từ bỏ mọi thứ tò mò thiếu lành mạnh trong lãnh vực này. Thế nhưng, ai không tiên liệu là người thiếu trách nhiệm.

2116. Phải loại bỏ mọi hình thức bói toán: cậy nhờ Xa-tan hay ma quỉ, gọi hồn người chết hay những cách khác ngỡ rằng sẽ đoán được tương lai (x. Đnl 18,10; Gr 29,8). Coi tử vi, chiêm tinh, xem chỉ tay, giải điều mộng, xin xăm, bói toán quá khứ vị lai, đồng bóng, là những hình thức che giấu ước muốn có quyền trên thời gian, trên lịch sử và trên cả con người, cũng như ước muốn liên kết với các thế lực huyền bí. Điều này nghịch lại với lòng tôn kính và thần phục chỉ dành cho Thiên Chúa.

2117. Ai muốn dùng ma thuật hay phù thuỷ để chế ngự các thế lực huyền bí, bắt chúng phục vụ mình và nắm được quyền lực siêu phàm trên người khác dù là để chữa bệnh, cũng lỗi nặng nhân đức thờ phượng. Các việc này càng đáng lên án hơn nữa khi có dụng ý hại người, hay nhờ đến sự can thiệp của ma quỉ. Mang bùa cũng là điều đáng trách. Chiêu hồn thường đi kèm cả bói toán hay ma thuật. Hội Thánh cảnh giác các tín hữu phải xa lánh các điều ấy. Khi dùng các phương thuốc gia truyền, không được kêu cầu các thế lực ma quỷ cũng như lợi dụng sự nhẹ dạ của người khác.

Những tội nghịch với đức thờ phượng

2118. Điều răn thứ nhất kết án những tội nghịch với đức thờ phượng: thử thách Thiên Chúa bằng lời nói hay hành động; phạm thánh và mại thánh.

2119 394 2088. Thử thách Thiên Chúa là dùng lời nói hay hành động để thử lòng nhân hậu và quyền toàn năng của Thiên Chúa. Đây là điều Xa-tan muốn Đức Giê-su làm, khi xúi giục Người gieo mình từ trên nóc Đền Thờ xuống và ép buộc Thiên Chúa can thiệp (x. Lc 4,9). Đức Giê-su dùng Lời Chúa đối lại: “Ngươi đừng thử thách Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi” (Đnl 6,16). Thách đố như vậy là xúc phạm đến Thiên Chúa là Đấng chúng ta phải cậy trông vì là Đấng Sáng Tạo và là Đức Chúa. Thử thách Thiên Chúa luôn ẩn chứa thái độ ngờ vực tình yêu thương, sự quan phòng và quyền năng của Thiên Chúa (x. 1 Cr 10,9; Xh 17,2-7; Tv 95,9).

2120 1374. Phạm thánh là xúc phạm hay cư xử bất xứng đối với các bí tích và các hành vi phụng vụ khác, cũng như đối với người, đồ vật và các nơi đã thánh hiến cho Thiên Chúa. Phạm thánh là một tội nặng, đặc biệt khi phạm đến Thánh Thể, bởi vì trong bí tích này, chính Đức Ki-tô hiện diện thực sự với chúng ta (x. CIC, can 1367-1376).

2121. Mại thánh (x. Cv 8,9-24) là mua hay bán những thực tại thiêng liêng. Khi phù thủy Si-mon muốn mua quyền năng Thánh Thần mà ông thấy đang hoạt động nơi các tông đồ, Phê-rô đã trả lời: “Bạc của anh tiêu tan luôn với anh cho rồi, và anh tưởng có thể lấy tiền mà mua ân huệ của Thiên Chúa” (x. Cv 8,20). Như thế, vị tông đồ đã hành động phù hợp với lời Đức Giê-su: “Anh em đã được cho không, cũng hãy cho không” (x. Mt 10,8; x. Is 55,1). Không thể chiếm hữu những của cải thiêng liêng và sử dụng như chủ hay người có toàn quyền, bởi vì những điều ấy là do Thiên Chúa ban tặng nên con người chỉ có thể đón nhận như quà tặng nhưng không từ Thiên Chúa.

2122. “Khi ban các bí tích, thừa tác viên không được đòi thêm cái gì khác ngoài số tiền dâng cúng mà thẩm quyền Hội Thánh đã ấn định, và cũng còn phải cẩn thận đừng để những người nghèo không được lãnh nhận bí tích vì lý do túng thiếu” (x. CIC can 848). Thẩm quyền Hội Thánh ấn định các của dâng cúng này theo nguyên tắc dân Ki-tô Giáo phải cấp dưỡng cho các thừa tác viên. “Thợ thì đáng được nuôi ăn” (Mt 10,10) (x. Lc 10,7; 1 Cr 9,5-18; 1 Tm 5,17-18).

Chủ nghĩa vô thần

2123 29. “Có nhiều người đương thời với chúng ta không nhận ra hoặc công khai loại bỏ mối liên kết mật thiết và sống động giữa con người với Thiên Chúa. Vì thế, chủ nghĩa vô thần phải được kể là một trong những sự kiện nghiêm trọng nhất trong thời đại này” (x. GS 19,1).

2124. Từ “chủ nghĩa vô thần” chỉ nhiều hiện tượng rất khác nhau. Hình thức thông thường là chủ nghĩa duy vật thực hành; chủ nghĩa này giới hạn nhu cầu và tham vọng của con người trong không gian và thời gian. Chủ nghĩa nhân bản vô thần nhận định sai lầm, khi coi “con người là chính cùng đích cho mình, là kẻ tạo nên và điều khiển lịch sử riêng mình” (x. GS 20,1). Một hình thức khác của chủ nghĩa vô thần hiện nay muốn giải phóng con người bằng một cuộc giải phóng kinh tế và xã hội; “hình thức vô thần này cho rằng tự bản chất tôn giáo ngăn cản sự giải phóng trên, vì khi gây cho con người niềm hy vọng hão huyền vào cuộc sống mai hậu, tôn giáo đã làm cho họ xao lãng việc xây dựng xã hội trần thế” ( x. GS 20,2).

2125 1535. Chủ nghĩa vô thần là một tội nghịch nhân đức thờ phượng, vì từ chối hay phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa (x. Rm 1,18). Trách nhiệm tinh thần về lỗi này có thể giảm bớt nhiều ít, tùy ý định và hoàn cảnh mỗi người. “Người tín hữu có thể chịu phần trách nhiệm không phải là nhỏ trong việc khai sinh vô thần, hoặc bởi xao lãng việc giáo dục đức tin, hoặc trình bày sai lạc về giáo lý, hoặc do những thiếu sót trong đời sống tôn giáo, luân lý và xã hội. Phải nói rằng họ che giấu hơn là bày tỏ chân dung đích thực của Thiên Chúa và tôn giáo” (x. GS 19,3).

2126 396 154. Chủ nghĩa vô thần thường đặt nền tảng trên một quan niệm sai lạc về quyền tự lập của con người, đến độ phủ nhận mọi lệ thuộc vào Thiên Chúa (x. GS 20,1). “Hội Thánh cho rằng nhìn nhận Thiên Chúa không có gì nghịch lại với phẩm giá con người, vì phẩm giá ấy đặt nền tảng và nên hoàn hảo trong chính Thiên Chúa” (x. GS 21,3). “Hội Thánh biết rõ sứ điệp của mình phù hợp với những khát vọng thầm kín nhất của lòng người” (GS 21,7).

Chủ nghĩa bất khả tri

2127 36. Chủ nghĩa bất khả tri có nhiều dạng thức. Trong một số trường hợp, người theo chủ nghĩa này không phủ nhận Thiên Chúa, nhưng tin có một Đấng siêu việt không tự mặc khải nên không ai nói được gì về Người. Trong những trường hợp khác, người theo chủ nghĩa này không đề cập đến Thiên Chúa, vì cho rằng không thể chứng minh, xác nhận hay phủ nhận về Người.

2128 1036. Đôi khi chủ nghĩa bất khả tri ẩn chứa một cố gắng tìm kiếm nào đó về Thiên Chúa, nhưng cũng có thể biểu hiện một thái độ thờ ơ, một cách trốn thoát trước vấn đề tối hậu của con người, và một sự lười biếng của lương tâm. Chủ nghĩa bất khả tri thường đồng nghĩa với chủ nghĩa vô thần thực hành.

1159-1162.

IV. “NGƯƠI KHÔNG ĐƯỢC LÀM CHO MÌNH BẤT CỨ HÌNH TƯỢNG NÀO VỀ THIÊN CHÚA…”

2129 300 2500. Mệnh lệnh của Thiên Chúa cấm mọi hình thức tạc tượng vẽ hình Thiên Chúa. Sách Đệ Nhị Luật giải thích: “Anh em đã không thấy hình bóng nào, ngày Đức Chúa phán với anh em tại núi Kho-rép từ trong đám lửa, vì thế đừng có ra hư hỏng mà làm cho mình một tượng mang hình ảnh bất cứ cái gì,…” (x. Đnl 4,15-16). Chính Thiên Chúa tuyệt đối siêu phàm đã tự mặc khải cho Ít-ra-en. “Người là mọi sự” nhưng đồng thời, “vượt trên tất cả các công trình Người làm” (Hc 43,27-28). Người là “nguồn mạch mọi vẻ đẹp” (Kn 13,3).

2130. Tuy nhiên, từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã truyền lệnh hay cho phép làm những hình tượng biểu trưng ơn cứu độ nhờ Ngôi Lời nhập thể: ví dụ con rắn đồng (x. Ds 21,4-9; Kn 16,5-14; Ga 3,14-15), khám giao ước và các Kê-ru-bim (x. Xh 25,10-22; 1 V 6,23-28; 7,23-26).

2131 476. Dựa vào mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể mà Công đồng chung thứ bảy, ở Nixêa (năm 787), đã biện minh cho việc tôn kính ảnh tượng thánh, như ảnh tượng Đức Ki-tô, Mẹ Thiên Chúa, các thiên thần và tất cả các thánh, để chống lại chủ trương bài ảnh tượng. Khi nhập thể, Con Thiên Chúa đã mở ra một “kế hoạch” mới cho ảnh tượng.

2132. Việc các Ki-tô hữu tôn kính ảnh tượng, không nghịch lại điều răn thứ nhất cấm thờ ngẫu tượng. Thực vậy, “khi tôn kính một ảnh tượng, chúng ta hướng tâm hồn lên đến nguyên ảnh” (FT. Basile, Spir.18,45) và “tôn kính một ảnh tượng là tôn kính chính Đấng được miêu tả” (x. Công đồng Nixêa II, DS 601; Công đồng Trente: Ds 1821-1825; Công đồng Va-ti-ca-nô II, SC 126,LG 67).

Đối với ảnh tượng thánh, chúng ta chỉ tôn kính” chứ không thờ phượng như Thiên Chúa:

“Chúng ta không thờ các ảnh tượng như những thực tại, nhưng như những hình ảnh đưa dẫn chúng ta đến cùng Thiên Chúa nhập thể. Việc tôn kính không dừng lại ở ảnh tượng, nhưng vươn tới chính thực tại được biểu thị” (Thánh Tô-ma A-qui-nô, Tổng luận thần học 2-2, 81,3 ad 3).

TÓM LƯỢC

2133. “Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em hết lòng, hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,5).

2134. Điều răn thứ nhất kêu gọi con người tin vào Thiên Chúa, trông cậy nơi Người và yêu mến Người trên hết mọi sự.

2135. “Ngươi phải thờ lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi” (Mt 4,10). Thờ lạy Thiên Chúa, kêu cầu Người, dâng lên Người việc phụng thờ xứng hợp, chu toàn các lời khấn hứa cùng Người, là những hành vi thuộc nhân đức thờ phượng theo điều răn thứ nhất.

2136. Cá nhân cũng như xã hội đều phải tôn thờ Thiên Chúa cách xứng hợp.

2137. Con người “phải có quyền tự do bày tỏ tôn giáo của mình cách thầm kín và công khai” (x. DH 15).

2138. Mê tín là lệch lạc trong việc thờ phượng Thiên Chúa chân thật, chẳng hạn thờ ngẫu tượng hay trong các hình thức bói toán và ma thuật.

2139. Điều răn thứ nhất cấm các hành vi vô đạo như thử thách Thiên Chúa bằng lời nói hay hành động, phạm thánh và mại thánh.

2140. Vô thần là tội nghịch với điều răn thứ nhất, vì từ chối hay phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa.

2141. Việc tôn kính các ảnh tượng thánh đặt nền tảng trên mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa và không nghịch lại điều răn thứ nhất.