Mục 1. Trong Cựu Ước (Giáo lý số 2568 – 2597)

2568 410 1736 2738. Trong Cựu Ước chúng ta gặp được mặc khải về cầu nguyện giữa biến cố con người sa ngã và được nâng dậy, giữa tiếng gọi đau thương của Thiên Chúa nói với các đứa con đầu tiên của Người: “Ngươi đang ở đâu?,… Ngươi đang làm gì?” (St 3,9-13), và lời đáp trả của Người Con Một khi vào trần gian: “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,5-7). Như thế, cầu nguyện được gắn liền với lịch sử loài người, và là tương quan giữa con người với Thiên Chúa trong các biến cố lịch sử.

Con người nhờ thụ tạo để cầu nguyện

2569 288 58. Trước hết, việc cầu nguyện khởi đi từ các thụ tạo. Chín chương đầu của sách Sáng Thế mô tả việc cầu nguyện dưới hình thức lễ vật của A-ben “dâng cho Chúa những con đầu lòng của bầy chiên” (St 4,4); Ê-nóc “kêu cầu Danh Đức Chúa và đi với Thiên Chúa” (x. St 4,26; 5,24). Lễ dâng của Nô-e đẹp lòng Thiên Chúa và Thiên Chúa chúc phúc cho ông; qua ông, Thiên Chúa chúc phúc cho toàn thể vạn vật, vì tâm hồn ông ngay chính và vẹn toàn: “Ông đi với Thiên Chúa” (St 6,9). Biết bao người công chính trong các tôn giáo đã từng cầu nguyện như vậy.

59. Trong giao ước bất diệt với mọi sinh linh, Thiên Chúa luôn mời gọi con người cầu nguyện. Nhưng đặc biệt từ tổ phụ Áp-ra-ham, cầu nguyện mới thực sự được mặc khải trong Cựu Ước.

Thiên Chúa hứa và con người tin tưởng cầu nguyện

2570 145. Ngay khi được Thiên Chúa kêu gọi, “Áp-ra-ham ra đi, như Đức Chúa đã phán với ông” (St 12,4): tâm hồn ông luôn “vâng phục Lời Chúa”. Cầu nguyện thiết yếu là lắng nghe Lời Chúa và quyết định theo ý Người; các lời kinh phải giúp con người sống thái độ ấy. Thoạt đầu, Áp-ra-ham cầu nguyện bằng hành động: là con người thầm lặng, mỗi chặng dừng chân ông dựng một bàn thờ kính Chúa. Mãi về sau, ông mới cầu nguyện bằng lời: một lời than thở kín đáo nhắc Chúa nhớ đến lời hứa chưa được thực hiện (St 15,2-3). Như thế, một trong những khía cạnh đặc biệt của cầu nguyện là con người bị thử thách về lòng tin vào Thiên Chúa trung tín.

2571 494 2685. Vì Áp-ra-ham tin vào Thiên Chúa, bước đi trước tôn nhan Người và ký kết giao ước với Người; tổ phụ đã sẵn lòng đón mời Vị Khách huyền bí vào lều trại của mình. Lòng hiếu khách đặc biệt của tổ phụ tại Mam-rê đã mở đường cho Thiên Chúa loan báo ban Người Con đích thực của lời hứa. Từ khi Thiên Chúa ký thác ý định của Người cho Áp-ra-ham, tâm hồn tổ phụ hòa theo lòng thương xót của Chúa đối với loài người và tổ phụ đã dám mạnh dạn cầu nguyện cho họ.

2572 603. Trong cuộc thanh luyện cuối cùng về đức tin, Thiên Chúa đã đòi Áp-ra-ham, “người đã nhận được lời hứa” (Dt 10,17), phải sát tế đứa con mà Thiên Chúa đã ban cho ông. Áp-ra-ham vẫn vững tin: “Chính Thiên Chúa sẽ lo liệu chiên làm lễ toàn thiêu” (St 22,8), vì nghĩ rằng Thiên Chúa có quyền năng làm cho người chết sống lại (Dt 11,19). Như thế, vị tổ phụ của các tín hữu đã xử sự giống như Chúa Cha, Đấng “chẳng tha chính Người Con Một, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta” (Rm 8,32). Nhờ cầu nguyện, con người lại trở nên giống Thiên Chúa và được tham dự vào quyền năng của tình yêu Thiên Chúa là quyền năng có sức cứu độ muôn người.

2573 162. Thiên Chúa đã nhắc lại lời hứa với Gia-cóp, tổ phụ của mười hai chi tộc Ít-ra-en. Trước khi đối phó với anh là Ê- sau, Gia-cóp đã vật lộn suốt đêm với một người huyền bí, người này không chịu nói tên nhưng đã chúc phúc cho Gia-cóp trước khi bỏ đi lúc bình minh. Truyền thống linh đạo của Hội thánh, qua câu chuyện này, xem biểu tượng của cầu nguyện như một cuộc chiến đức tin và chiến thắng dành cho người kiên trì (x. St 32,25-31; Lc 18,1-8).).

Mô-sê và lời cầu nguyện của vị trung gian

2574 62. Khi Thiên Chúa bắt đầu thực hiện lời hứa với các tổ phụ (cuộc Vượt Qua, Xuất Hành, ban Lề Luật, ký Giao Ước, lời cầu nguyện của Mô-sê là hình ảnh nổi bật của lời cầu nguyện chuyển cầu sẽ được hoàn thành trong Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người là Đức Giê-su Ki-tô” (1 Tm 2,5).

2575 205. Ở đây cũng thế, Thiên Chúa đã đi bước trước. Người gọi Mô-sê từ giữa Bụi Gai đang cháy (Xh 3,1-10). Biến cố này sẽ là một trong những hình ảnh hàng đầu về cầu nguyện trong truyền thống linh đạo Do-thái và Ki-tô Giáo. Thực vậy, “Thiên Chúa của Áp-ra-ham, của I-xa-ác và của Gia-cóp” kêu gọi tôi tớ Người là Mô-sê, vì Người là Thiên Chúa Hằng Sống, Đấng muốn cho con người được sống. Người tỏ mình ra để cứu họ, tuy nhiên, Người không muốn hành động một mình hoặc bất chấp ý kiến con người. Vì thế, Người gọi Mô- sê để sai ông đi, để ông cộng tác với Thiên Chúa trong việc thương xót và cứu độ. Để sai ông đi, gần như Thiên Chúa phải năn nỉ con người; và sau một hồi tranh luận, Mô-sê mới thuận theo ý của Thiên Chúa Cứu Độ. Trong cuộc đối thoại này, Thiên Chúa tỏ lòng tín nhiệm Mô-sê, còn ông học biết cầu nguyện: ông thoái thác, thắc mắc, và nhất là đòi hỏi. Để đáp ứng yêu cầu của ông, Thiên Chúa đã cho ông biết Danh Thánh, Danh sẽ được mặc khải qua các kỳ công trong lịch sử.

2576 555. “ĐỨC CHÚA đàm đạo với ông Mô-sê, mặt giáp mặt, như hai người bạn với nhau” (Xh 33,11). Cách cầu nguyện của Mô-sê là khuôn mẫu của việc cầu nguyện chiêm niệm; nhờ đó, người tôi tớ Thiên Chúa trung thành với sức mạnh của mình. Ông Mô-sê nói chuyện thường xuyên và lâu giờ với Chúa: ông lên núi để lắng nghe và cầu khẩn Người, sau đó ông xuống với dân để nói lại cho họ những lời của Thiên Chúa và hướng dẫn họ. “Nhưng với Mô-sê tôi tớ Ta: tất cả nhà Ta, Ta đã trao cho nó. Ta nói với nó trực diện, nhãn tiền” (Ds 12,7-8), vì “Mô-sê là người hiền lành khiêm tốn nhất đời” (Ds 12,3).

2577 210 2635 214. Nhờ sống thân mật với “Thiên Chúa thành tín, chậm bất bình và giàu lòng thương xót” (x. Xh 34,6), Mô-sê đã tìm được sức mạnh để kiên trì chuyển cầu cho dân. Ông không cầu xin cho mình nhưng cho dân Thiên Chúa đã cứu chuộc. Mô-sê đã chuyển cầu cho dân khi họ chiến đấu với quân A-ma-léc (x. Xh 17,8-13), đã cầu xin cho Mi-ri-am (x. Nb 12,13-14) được khỏi bệnh. Đặc biệt, khi dân phạm tội phản nghịch cùng Thiên Chúa, Chúa tính chuyện sẽ tiêu diệt họ, nếu người Chúa chọn là Mô-sê chẳng đem thân cản lối ở ngay trước mặt Người (x. Xh 32,1-34,9), hầu ngăn cơn thịnh nộ (Tv 106,23). Các lý lẽ của ông (chuyển cầu cũng là một cuộc chiến huyền nhiệm) sẽ gợi hứng cho cách cầu nguyện táo bạo của bao nhiêu tâm hồn trong dân Do-thái cũng như trong Hội Thánh: Thiên Chúa là tình yêu, nên Người công bình và thành tín; Người không thể mâu thuẫn với chính mình, nên Người sẽ nhớ lại bao việc lạ lùng đã làm; vì vinh quang của Người, Người sẽ không thể bỏ rơi dân tộc mang danh Người.

Đa-vít và lời cầu nguyện của vị vua

2578. Kinh nguyện của Dân Chúa sẽ triển nở dưới bóng nhà Chúa: Lúc đầu là khám giao ước và sau này là Đền Thờ. Những người lãnh đạo (các mục tử và các ngôn sứ) là những người đầu tiên sẽ dạy cho dân biết cầu nguyện. Cậu bé Sa-mu-en học được nơi bà mẹ An-na cách ở trước nhan Đức Chúa (1 Sm 1,9-17), và nơi tư tế Ê-li cách lắng nghe Lời Chúa: “Lạy Đức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe” (1 Sm 3,9-10). Sau này, chính Sa-mu-en cũng biết đến gánh nặng và giá phải trả cho lời chuyển cầu: “Phần tôi, không đời nào tôi phạm tội nghịch cùng Đức Chúa, là thôi cầu nguyện cho anh em và dạy anh em biết đường ngay nẻo chính” (1 Sm 12,23).

2579 709 436. Đa-vít là vị vua đẹp lòng Thiên Chúa hơn hết, vị mục tử cầu nguyện cho dân mình và nhân danh toàn dân. Lòng vâng phục thánh ý Thiên Chúa, lời ca ngợi và tâm tình sám hối của Đa-vít sẽ trở thành gương mẫu cho sự cầu nguyện của dân chúng. Là người được Thiên Chúa xức dầu, kinh nguyện của vua là tâm tình gắn bó trung tín vào lời Thiên Chúa hứa, là lòng tín thác đầy yêu mến và hân hoan trong Đấng là Đức Vua và Đức Chúa duy nhất (x. 2 Sm 7,18-29). Qua các Thánh Vịnh, chúng ta thấy Đa-vít được Thánh Thần linh ứng và đã trở thành vị ngôn sứ hàng đầu của truyền thống cầu nguyện Do-thái và Ki-tô Giáo. Kinh nguyện của Đức Ki-tô, Đấng Mê-si-a đích thực, Con Đa-vít sẽ mặc khải và hoàn thành ý nghĩa của kinh nguyện này.

2580 583. Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, ngôi nhà cầu nguyện Đa-vít định xây dựng, sẽ được con vua là Sa-lô-mon thực hiện. Lời nguyện Cung Hiến Đền Thờ (x. 1 V 8,10-61) dựa trên Lời Hứa và Giao Ước của Thiên Chúa, trên sự hiện diện đầy uy lực của Danh Thánh giữa Dân Người và nhắc lại những kỳ công Thiên Chúa thực hiện thời Xuất Hành. Nhà vua dang tay và khẩn cầu Đức Chúa cho chính mình, cho toàn dân, cho các thế hệ tương lai, xin Người tha thứ tội lỗi và ban cho họ những gì cần thiết hằng ngày, để muôn dân nhận biết Người là Thiên Chúa duy nhất và Dân Chúa hết lòng kính mến Người.

Ê-li-a, các ngôn sứ và việc hoán cải tâm hồn

2581 1150. Đối với Dân Chúa, Đền Thờ phải là nơi dạy cho họ biết cầu nguyện: các cuộc hành hương, các lễ hội, hy tế, lễ dâng ban chiều, dâng hương, bánh trưng hiến,… Tất cả là những dấu chỉ về Thiên Chúa thánh thiêng và vinh quang, rất cao sang nhưng thật gần gũi với họ; đồng thời là những lời mời gọi và những con đường dẫn đến cầu nguyện. Nhưng thái độ quá chuộng nghi lễ thường dẫn dân chúng đến một cách thờ phượng quá bề ngoài. Do đó, Dân Chúa cần được giáo dục đức tin và hoán cải tâm hồn. Đây là sứ mạng của các ngôn sứ trước và sau thời lưu đày.

2582. Ê-li-a là “tổ phu” của các ngôn sứ, là “dòng dõi những kẻ kiếm tìm Người, tìm Thánh nhan Thiên Chúa nhà Gia-cóp” (x. Tv 24,6). Danh xưng Ê-li-a có nghĩa “Đức Chúa là Thiên Chúa của tôi”, tiên báo tiếng hô của dân đáp lại lời cầu nguyện của Ê-li-a trên núi Các-men (x. 1 V 18,39tt). Thánh tông đồ Gia-cô-bê nhắc đến gương Ê-li-a để thúc giục chúng ta cầu nguyện: “Lời cầu xin tha thiết của người công chính rất có hiệu lực” (Gc 5,16b-18).

2583. Sau khi học biết xót thương lúc ẩn tích tại suối Kê-rít, Ê-li-a dạy cho bà góa làng Sa-rép-ta biết tin vào lời Thiên Chúa và củng cố đức tin của bà khi khẩn nguyện xin Thiên Chúa cho con trai bà sống lại; và Người đã nhậm lời (1V 17,7-24).

696. Cuộc tế lễ trên núi Các-men là thử thách quyết định niềm tin của Dân Thiên Chúa. Theo lời khẩn cầu của Ê-li-a: “xin đáp lời con, lạy Chúa xin đáp lời con”, Thiên Chúa cho lửa từ trời xuống thiêu hủy lễ toàn thiêu, “vào giờ người ta hiến dâng của lễ ban chiều”. Các nghi lễ phụng tự Đông phương dùng lời khẩn cầu này trong “lời nguyện xin ban Thánh Thần” của thánh lễ (1 V 18,20-39).

555. Sau cùng, Ê-li-a trở lại hoang mạc, đến nơi Thiên Chúa hằng sống và chân thật đã tỏ mình ra cho Dân Người, để ẩn mình “trong hốc đá” như Mô-sê ngày xưa, cho tới khi Nhan Thánh nhiệm mầu của Thiên Chúa “đi qua” (x. 1 V 19,1-14; Xh 33,19-23; Lc 9,30-35). Nhưng chỉ trên núi Hiển Dung, Tôn Nhan của Đấng các ngài luôn tìm kiếm mới được tỏ lộ “Ánh sáng chiếu soi lòng trí ta nhận biết Vinh Quang Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Ki-tô” (2 Cr 4,6), Đấng đã chịu đóng đinh và đã sống lại.

2584 2709. Trong những lúc “một mình trước Tôn Nhan Thiên Chúa”, các ngôn sứ tìm được ánh sáng và sức mạnh để thực hiện sứ mạng. Khi cầu nguyện, các ngài không chạy trốn thế giới bất trung nhưng lắng nghe Lời Thiên Chúa; đôi khi các ngài tranh luận hay than thở với Chúa, nhưng luôn chuyển cầu cho Dân, trong khi chờ đợi và chuẩn bị cho Thiên Chúa Cứu Độ, can thiệp vào (Am 7,2.5) (x. Is 6,5.8.11; Gr 1,6; 15,15-18; 20,7-18).

Các Thánh Vịnh, lời cầu nguyện của cộng đoàn

2585 1093. Từ thời Vua Đa-vít cho đến khi Đấng Mê-si-a tới, những bản văn cầu nguyện trong Sách Thánh chứng tỏ lời cầu nguyện cho chính mình và cho tha nhân ngày càng sâu sắc hơn (x. Ed 9,6-15; Nh 1,4-11; Gn 2,3-10; Tb 3,11-16; Gđt 9,2-14). Dần dần các Thánh Vịnh được thâu tập thành một bộ năm cuốn: đó là sách Thánh Vịnh (hay những bài ca ngợi), tuyệt tác cầu nguyện trong Cựu Ước.

2586 1177. Các Thánh Vịnh nuôi dưỡng và diễn tả tâm tình cầu nguyện của Dân Chúa là cộng đoàn, quy tụ vào các dịp đại lễ tại Giê-ru-sa-lem và mỗi ngày sa-bát trong các hội đường. Kinh nguyện này vừa có tính cá nhân vừa có tính cộng đoàn, vừa liên hệ với những người đang cầu nguyện vừa liên hệ đến toàn thể mọi người. Các Thánh Vịnh vang lên từ Thánh Địa và các cộng đoàn Do-thái tản mác khắp nơi nhưng lại bao trùm toàn thể thụ tạo; nhắc lại các biến cố cứu độ trong quá khứ và vươn đến ngày hoàn tất lịch sử; nhắc nhớ Thiên Chúa đã thực hiện những lời hứa thế nào, đồng thời chờ đợi Đấng Mê-si-a đến hoàn tất trọn vẹn. Được Đức Ki-tô sử dụng để cầu nguyện và kiện toàn, các Thánh Vịnh luôn luôn chiếm vị trí thiết yếu đối với kinh nguyện của Hội Thánh ( IGLH 100-109).

2587 2641. Tập Thánh Vịnh là cuốn sách đặc biệt: Lời Chúa trở thành lời cầu nguyện của con người. Trong các sách khác của bộ Cựu Ước, các lời công bố những việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu độ,… và giúp khám phá mầu nhiệm chứa đựng trong các biến cố đó (x. DV 2). Còn các lời Thánh Vịnh vừa diễn tả vừa ca tụng những công trình cứu độ của Thiên Chúa. Cùng một Thánh Thần đã tạo nên công trình của Thiên Chúa và lời đáp trả của con người. Đức Ki-tô sẽ hiệp nhất cả hai thành một. Trong Người, các Thánh Vịnh không ngừng dạy ta cầu nguyện.

2588. Những lời cầu nguyện đa dạng của tập Thánh Vịnh được hình thành từ phụng tự Đền Thờ, cũng như từ trái tim con người. Dù là những thánh thi, lời kêu cầu trong cơn nguy khốn hay bài ca tạ ơn, lời khẩn cầu cá nhân hay cộng đoàn, bài ca cung đình và khúc hát hành hương, hoặc bài suy niệm giáo huấn, các Thánh Vịnh luôn là tấm gương phản chiếu những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện trong lịch sử Dân Người và những hoàn cảnh nhân sinh tác giả đã trải qua. Dù một Thánh Vịnh có thể phản ánh một biến cố đã qua, nhưng vẫn bình dị đến nỗi con người mọi thời, mọi hoàn cảnh, đều có thể dùng để cầu nguyện.

2589 304. Qua các Thánh Vịnh, chúng ta gặp thấy những đặc điểm: lời cầu nguyện đơn sơ và tự phát, lòng khao khát Thiên Chúa qua và với tất cả những gì tốt đẹp trong vũ trụ, hoàn cảnh khó khăn của người tín hữu muốn yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự nhưng phải đối diện với bao thử thách và địch thù nhưng vẫn chờ đợi Thiên Chúa trung tín ra tay hành động, lòng xác tín vào tình yêu Thiên Chúa và phó thác theo thánh ý Người. Lời cầu nguyện trong tập Thánh Vịnh luôn sinh động nhờ tâm tình ca ngợi nên tập sách này có một tên gọi rất thích hợp với nội dung: “Những bài ca ngợi”. Được sưu tập để dùng trong phụng vụ của Cộng đoàn, các Thánh Vịnh vang lên lời mời gọi cầu nguyện đồng thời hát lên lời đáp: Ha11eluia, “Hãy ngợi khen Chúa”.

“Còn gì tốt đẹp hơn một Thánh vịnh? Bởi vậy vua Đa-vít đã nói rất đúng rằng: “Hãy ngợi khen Chúa vì Thánh Vịnh thật tuyệt vời: hãy dâng lời ngợi khen êm dịu và hân hoan lên Thiên Chúa chúng ta”. Đúng thế, Thánh Vịnh là lời chúc tụng trên môi Dân Chúa, là lời cộng đoàn ngợi khen Thiên Chúa, lời tung hô của muôn người, lời của muôn loài, tiếng nói của Hội Thánh, lời tuyên xưng đức tin đầy giai điệu,…” (Thánh Ambrôsiô, Luận về Thánh vịnh 1,9).

TÓM LƯỢC

2590. Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên Chúa hay cầu xin Người ban cho những ơn cần thiết (Thánh Gio-an Đa-mát-xa).

2591. Thiên Chúa không ngừng kêu gọi mỗi người đến gặp Người cách huyền nhiệm trong cầu nguyện. Suốt dòng lịch sử cứu độ, chúng ta thấy cầu nguyện như lời Thiên Chúa và con người mời gọi nhau.

2592. Thánh Kinh trình bày việc Áp-ra-ham và Gia-cóp cầu nguyện như một cuộc chiến đức tin để giữ lòng tín thác vào Thiên Chúa trung thành và xác tín rằng Người sẽ ban chiến thắng cho kẻ kiên trì.

2593. Lời nguyện của Mô-sê đáp lại sáng kiến của Thiên Chúa hằng sống muốn cứu độ Dân Người. Đây là hình ảnh báo trước lời chuyển cầu của Đấng Trung Gian duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô.

2594. Nhờ các vị mục tử, đặt biệt là vua Đa-vít, và các ngôn sứ hướng dẫn, kinh nguyện của Dân Chúa được triển nở dưới bóng nhà Chúa, lúc đầu là Khám Giao ước và sau này là Đền Thờ.

2595. Các ngôn sứ kêu gọi dân chúng hoán cải tâm hồn. Như Ê-li-a, trong khi nhiệt thành tìm kiếm thánh nhan Thiên Chúa, các ngài vẫn chuyển cầu cho toàn dân.

2596. Các Thánh Vịnh là tuyệt tác về cầu nguyện trong Cựu Ước, vừa có tính cá nhân vừa có tính cộng đoàn. Các Thánh Vịnh bao trùm mọi chiều kích của lịch sử: nhắc nhớ Thiên Chúa đã thực hiện lời hứa như thế nào và nói lên niềm hy vọng vào Đấng Mê-si-a sẽ ngự đến.

2597. Được Đức Ki-tô sử dụng để cầu nguyện và kiện toàn, các Thánh Vịnh là một thành phần thiết yếu và luôn có mặt trong kinh nguyện của Hội Thánh Người. Các Thánh Vịnh có thể dùng làm lời cầu nguyện cho con người mọi thời, mọi hoàn cảnh.