Mục 2. Chúng tôi tin (Giáo lý số 166 – 184)

166 875. Đức tin là một hành vi cá nhân: Con người tự nguyện đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải. Nhưng đức tin không phải là một hành vi riêng rẽ. Không ai có thể tin một mình, cũng như không ai có thể sống một mình. Không ai tự ban cho mình đức tin, cũng như không ai tự ban cho mình sự sống. Người tin nhận được đức tin từ kẻ khác, phải truyền đức tin lại cho kẻ khác. Tình yêu của chúng ta đối với Đức Giê-su và tha nhân, thúc giục chúng ta nói với người khác về đức tin của chúng ta. Như thế, mỗi tín hữu là một mắt xích trong dây chuyền rộng lớn các tín hữu. Tôi không thể tin mà không có đức tin của người khác đỡ nâng, và với đức tin của tôi, tôi góp phần vào việc nâng đỡ đức tin của kẻ khác.

167 1124 2040. “Tôi tin” (Kinh Tin Kính các tông đồ): Đây là đức tin của Hội Thánh, được mỗi tín hữu tuyên xưng, đặc biệt lúc chịu phép Thánh Tẩy. “Chúng tôi tin” (Kinh Tin Kính Ni-xê-a): Đây là đức tin của Hội Thánh, được các Giám mục họp thành Công đồng hoặc, thông thường hơn, được cộng đoàn tín hữu cử hành phụng vụ cùng tuyên xưng. “Tôi tin”: đây cũng là Hội Thánh, Mẹ chúng ta, đang lấy đức tin mà đáp lời Thiên Chúa, và dạy chúng ta nói: “tôi tin”, “chúng tôi tin”.

I. “LẠY CHÚA, XIN NHÌN ĐẾN ĐỨC TIN CỦA HỘI THÁNH CHÚA”

168 1253. Trước tiên, chính Hội Thánh đã tin, và như thế, mang lấy, dưỡng nuôi và nâng đỡ đức tin của tôi. Trước tiên chính Hội Thánh ở khắp nơi tuyên xưng Chúa như chúng ta hát trong kinh “Te Deum”: “Và khắp trên hoàn vũ, Hội Thánh hoan hỉ tuyên xưng Chúa là Chúa của mình”. Với Hội Thánh và trong Hội Thánh, chúng ta được thúc đẩy và hướng dẫn tuyên xưng: “tôi tin”,”chúng tôi tin”. Chính qua Hội Thánh mà chúng ta lãnh nhận đức tin và đời sống mới trong Đức Ki-tô nhờ phép Thánh Tẩy. Trong sách “Nghi thức Rô-ma”, thừa tác viên cử hành bí tích Thánh Tẩy hỏi người dự tòng: “Con xin gì cùng Hội Thánh Thiên Chúa? – Thưa: Con xin Đức tin. Đức tin làm ích gì cho con?- Thưa đức tin cho con sự sống đời đời” (OBA).

169 750 2030. Chỉ có Thiên Chúa ban ơn cứu độ;nhưng bởi vì chúng ta lãnh nhận đời sống đức tin qua Hội Thánh, nên Hội Thánh là mẹ chúng ta: “Chúng tôi tin Hội Thánh là mẹ ban cho chúng tôi sự sống mới, chứ không tin vào Hội Thánh như tác giả của ơn cứu độ[1]. Vì là mẹ, Hội Thánh cũng là người giáo dục đức tin”.

II. NGÔN NGỮ ĐỨC TIN

170 186. Chúng ta không tin vào những công thức, nhưng tin vào những thực tại mà các công thức đó diễn đạt, và đức tin cho phép chúng ta “chạm tới được”. “Hành vi đức tin của người tín hữu không dừng lại ở lời phát biểu, mà ở thực tại được pháp biểu”[2].Tuy nhiên, chúng ta tiếp cận những thực tại đó nhờ những công thức diễn tả đức tin. Những công thức này cho phép diễn đạt và lưu truyền đức tin, bày tỏ đức tin trong các buổi cử hành cộng đoàn, hấp thụ và sống đức tin ngày một hơn.

171 78 857 84 185. Hội Thánh là “cột trụ và điểm tựa của chân lý” (1 Tm 3,15), trung thành bảo toàn “đức tin đã được truyền lại cho dân thánh chỉ một lần là đủ” (Gđ 1,3). Chính Hội Thánh ghi nhớ những Lời của Đức Ki-tô và lưu truyền từ đời nọ đến đời kia lời tuyên xưng đức tin của các tông đồ. Như mẹ dạy con nói, để nhờ đó con được hiểu biết và trao đổi với người khác, Hội Thánh, Mẹ chúng ta, dạy chúng ta nói ngôn ngữ đức tin nhằm giúp chúng ta hiểu biết và sống đức tin.

III. MỘT ĐỨC TIN DUY NHẤT

172 813. Từ bao thế kỷ, qua bao ngôn ngữ, bao nền văn hóa, bao dân tộc và quốc gia, Hội Thánh không ngừng tuyên xưng đức tin duy nhất, lãnh nhận từ một Chúa duy nhất, lưu truyền nhờ một Phép Rửa duy nhất, ăn sâu trong niềm xác tín rằng tất cả mọi người chỉ có một Thiên Chúa là Cha duy nhất (x. Ep 4,4-6). Thánh I-rê-nê thành Lyon, người đã làm chứng cho đức tin ấy, tuyên bố:

173 830. “Thật vậy, dù phân tán trên toàn thế giới cho tới tận cùng trái đất, nhưng vì đã lãnh nhận đức tin từ các Tông đồ và môn đệcác ngài, nên Hội Thánh ân cần gìn giữ lời rao giảng và đức tin đó như thể chỉ ở trong một ngôi nhà duy nhất, cùng tin một cách như nhau, như thế chỉ có một tâm hồn và một trái tim duy nhất,đồng thanh rao giảng, dạy dỗ và lưu truyền lại lời rao giảng và đức tin ấy, như thể chỉ có một miệng lưỡi duy nhất”[3].

174 78. “Vì, nếu trên toàn thế giới, các ngôn ngữ có khác nhau, nội dung Thánh Truyền vẫn là một và đồng nhất. Và các Giáo Đoàn được thiết lập tại Đức không hề có một đức tin hay một Truyền Thống nào khác, cả các Giáo đoàn I-be-rơ (Tây Ban Nha cổ), các Giáo đoàn người Xen-tơ (Pháp cổ), các Giáo đoàn ở Đông phương, ở Ai-cập, ở Li-by-a hay tại trung tâm thế giới cũng vậy,…”[4]. “Như thế sứ điệp của Hội Thánh là chân thật và vững chắc, bởi chính trong Hội Thánh mà con đường cứu độ duy nhất xuất hiện trên khắp thế giới”.

175. Đức tin mà chúng ta đã lãnh nhận từ Hội Thánh, chúng ta phải ân cần gìn giữ. Ví như một kho tàng quý giá chứa đựng trong một bình quý dưới tác động của Thánh Thần Thiên Chúa, đứctin luôn luôn tươi trẻ và làm tươi trẻ chính bình chứa là Hội Thánh[5].

TÓM LƯỢC

176. Tin là gắn bó bản thân con người cả trí khôn và ý chí với Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải qua các việc làm và lời nói của Người.

177. “Tin” quy chiếu vào hai điểm: Đấng mặc khải và chân lý mặc khải. Chúng ta tin chân lý mặc khải vì tin tưởng ở Đấng mặc khải.

178. Chúng ta không được tin ai khác ngoài Thiên Chúa, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

179. Đức tin là một hồng ân siêu nhiên của Thiên Chúa. Để tin, con người cần đến những trợ lực bên trong của Thánh Thần.

180. “Tin” là hành vi của con người, có ý thức và tự do, xứng hợp với phẩm giá con người.

181. “Tin” là hành vi có chiều kích Hội Thánh. Đức tin của Hội Thánh đi trước, sinh ra, nâng đỡ và dưỡng nuôi đức tin của chúng ta. Hội Thánh là Mẹ của mọi tín hữu. “Không thể có Thiên Chúa là Cha nếu không nhận Hội Thánh là mẹ”[6].

182. “Chúng ta tin tất cả những gì chứa đựng trong Lời Thiên Chúa, được viết hoặc lưu truyền, và do Hội Thánh dạy chúng ta tin như chân lý được Thiên Chúa mặc khải” (SPF 20).

183. Đức tin cần thiết để được cứu độ. Chính Chúa khẳng định: “Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ: còn ai không tin thì sẽ bị kết án” (Mc 16,16).

184. “Đức tin là nếm trước điều chúng ta sẽ được hưởng trong cuộc sống hạnh phúc mai sau”[7].


Chú thích

[1] Thánh Faustus thành Riez – De Spiritu Sancto 1,2.

[2] Thánh Tô-ma A-qui-nô – Tổng luận thần học 2-2,1,2, ad 2.

[3] Thánh I-rê-nê – Chống lạc giáo 1,10,1-2.

[4] Thánh I-rê-nê – Chống lạc giáo 1,10,2.

[5] Thánh I-rê-nê – Chống lạc giáo 3,24,1.

[6] Thánh Cyprianô – De Ecclesiae catholicae unitate 6.

[7] Thánh Tô-ma A-qui-nô – Compendium theologiae (Thần học toát yếu) 1,2.