Mục 2. Khi thời gian đã viên mãn (Giáo lý số 2598 – 2622)

2598. “Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta” đã mặc khải trọn vẹn về cầu nguyện. Khi tìm hiểu Chúa Giê-su cầu nguyện qua những gì các nhân chứng kể lại trong Tin Mừng, chúng ta được đến gần Chúa Giê-su Cực Thánh như Mô-sê đến gần Bụi Gai Rực Cháy: trước tiên chúng ta cùng chiêm ngưỡng Người cầu nguyện, rồi lắng nghe Người dạy ta cầu nguyện, và sau cùng, để nhận biết cách Người nhận lời cầu nguyện của chúng ta.

Đức Giê-su cầu nguyện

2599 470-473 534. Con Một Thiên Chúa, một khi trở thành Con Đức Trinh Nữ, đã học cầu nguyện theo tâm tình nhân loại, Đức Giê-su đã học những công thức cầu nguyện nơi Mẹ là người hằng ghi nhớ và luôn suy niệm trong lòng về “những điều cao cả Đấng Toàn Năng đã thực hiện (Lc 1,49; 2,19; 2,51). Người đã học từ những lời kinh và những cách thức cầu nguyện của dân tộc, tại hội đường Na-da-rét và tại Đền Thờ. Nhưng kinh nguyện của Người còn phát xuất từ một nguồn mạch bí ẩn khác, như Người đã hé mở cho thấy lúc Người lên mười hai tuổi: “Con có bổn phận ở nhà Cha của con” (Lc 2,49). Từ đây chúng ta được biết nét mới mẻ của kinh nguyện trong “thời kỳ viên mãn”: là lời cầu của Người Con, lời kinh mà Chúa Cha hằng mong đợi nơi con cái mình, và sau cùng được chính Người Con Một duy nhất thể hiện trong nhân tính với con người và cho mọi người.

2600 535 554 612 858 443. Tin Mừng theo thánh Lu-ca nhấn mạnh tác động của Thánh Thần và ý nghĩa cầu nguyện trong thừa tác vụ của Đức Ki-tô. Đức Giê-su cầu nguyện trước những thời điểm quyết định của sứ vụ: trước khi Chúa Cha làm chứng về Người lúc Người chịu phép rửa (x. Lc 3,21) và Hiển Dung (x. Lc 9,28); trước khi hoàn thành ý định yêu thương của Chúa Cha nhờ cuộc khổ nạn. Người cũng cầu nguyện trước những thời điểm quyết định đối với sứ vụ của các tông đồ: trước khi chọn và gọi nhóm Mười Hai (x. Lc 6,12); trước khi Phê-rô tuyên xưng Người là “Đức Ki-tô của Thiên Chúa” (x. Lc 9,18-20); và cầu nguyện cho vị thủ lãnh các tông đồ khỏi mất lòng tin (x. Lc 22,32). Khi cầu nguyện trước các biến cố cứu độ mà Chúa Cha trao phó cho Người thực thi, Đức Giê-su khiêm tốn và tin tưởng hòa hợp ý chí nhân loại của mình với thánh ý yêu thương của Chúa Cha.

2601 2765. “Một hôm, Đức Giê-su cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: “Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11,1). Khi nhìn Thầy mình cầu nguyện, người môn đệ của Đức Ki-tô cũng muốn cầu nguyện, và học cầu nguyện với Thầy. Chính khi chiêm ngưỡng và lắng nghe Chúa Con, con cái Thiên Chúa học biết cầu khẩn Chúa Cha.

2602 616. Đức Giê-su thường vào nơi thanh vắng để cầu nguyện một mình trên núi, thường là vào ban đêm. Vì đã làm người khi Nhập Thể, Đức Giê-su “mang lấy mọi người” trong lời cầu nguyện và dâng nhân loại lên Chúa Cha khi hiến dâng chính mình. Ngôi Lời “đã làm Người” đưa tất cả những gì “anh em Người” đang sống vào lời cầu nguyện (Dt 2,12). Người đã cảm thông được những yếu đuối của họ để giải thoát họ. Chính vì thế Chúa Cha đã cử Người đến (x. Dt 2,15; 4,15). Những lời nói và việc làm của Người bộc lộ những gì Người cầu nguyện trong thầm kín.

2603 2637 2546 494. Các tác giả Tin Mừng ghi lại hai lần Chúa Giê-su cầu nguyện rõ tiếng trong thời kỳ Người rao giảng. Cả hai đều khởi đầu bằng lời tạ ơn. Trong lời nguyện thứ nhất (x. Mt 11,25-27; Lc 10,21-23), Đức Giê-su tuyên xưng, nhìn nhận và chúc tụng Chúa Cha “vì điều Chúa Cha đã giấu không cho các bậc khôn ngoan thông thái biết, thì Cha lại mặc khải cho những người bé mọn” (những người nghèo khó theo các mối phúc). Lời thưa “Vâng, lạy Cha” bộc lộ những gì tận đáy lòng Người, bộc lộ ước muốn “làm đẹp lòng Cha”, như vọng lại tiếng “xin vâng” của mẹ Người ngày thụ thai và như khúc dạo đầu cho lời Người sẽ dâng lên Cha trong cơn hấp hối. Toàn thể kinh nguyện của Đức Giê-su đều chất chứa tâm tình gắn bó yêu thương đối với “mầu nhiệm thánh ý Cha” (Ep 1,9), bằng cả trái tim con người của mình.

2604 478. Lời kinh thứ hai được thánh Gio-an lưu truyền cho chúng ta. Trước khi cho La-da-rô sống lại, “Đức Giê-su ngước mắt lên và nói: Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhận lời con”. Lời cám ơn đi trước biến cố chứng tỏ Chúa Cha luôn nghe lời cầu xin của Người. Ngay sau đó, Đức Giê- su thêm: “Con biết Cha hằng nhận lời Con”; lời này cho thấy Đức Giê-su vẫn luôn cầu nguyện với Cha, lời cầu nguyện đầy tâm tình tạ ơn của Đức Giê-su dạy ta cách cầu xin: trước khi được nhận ơn, Đức Giê-su đã gắn bó với Đấng ban ơn, cũng là Đấng ban chính mình qua các hồng ân. Đấng ban ơn thì quý trọng hơn ơn được ban. Người là “kho báu” đích thực và lòng Chúa Con luôn hướng về Người. Hồng ân chỉ là điều “được ban thêm”.

2746. Lời nguyện “tư tế” của Đức Giê-su có một vị trí độc đáo trong nhiệm cục cứu độ (chúng ta sẽ suy niệm ở cuối đoạn thứ nhất). Lời nguyện này cho thấy kinh nguyện của Đức Ki-tô Thượng Tế luôn là lời cầu nguyện của ngày hôm nay; đồng thời cũng dạy ta cách cầu nguyện cùng Chúa Cha, vấn đề sẽ bàn đến ở đoạn thứ hai.

2605 614. Khi đến giờ Người phải chu toàn ý định yêu thương của Chúa Cha, Đức Giê-su hé mở cho thấy chiều sâu khôn dò trong kinh nguyện của người con, không chỉ trước khi tự nguyện hiến mình. (“Lạy Cha,… xin đừng làm theo ý Con, mà xin theo ý Cha” (x. Lc 22,42)); mà ngay cả trong những lời cuối cùng của Người trên thập giá, khi cầu nguyện và tự hiến chỉ còn là một. (“Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm,… .Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng” (x. Lc 23,34;24,43); “Thưa Bà, đây là con của Bà,… Đây là Mẹ của anh,… Tôi khát” (x. Ga 19,26.27.28); “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Chúa nỡ bỏ con” (x. Mc 15,34; Tv 22,2); “Mọi sự đã hoàn tất” (x. Ga 19,30); “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46); kể cả “tiếng kêu lớn” của Người khi trút hơi thở (x. Mc 15,37; Ga 19,30b)

2606 403 653 2587. Tất cả những đau khổ của nhân loại ở mọi thời sống dưới ách nô lệ tội lỗi và sự chết, tất cả mọi lời van xin và chuyển cầu trong toàn lịch sử cứu độ, đều được quy tụ trong Tiếng Kêu Lớn của Ngôi Lời Nhập Thể. Chúa Cha đã đón nhận tất cả và Người đã nhận lời vượt quá mọi hy vọng của chúng ta khi cho Chúa Con sống lại. Như thế, toàn thể kinh nguyện trong nhiệm cục sáng tạo và cứu độ đã được thực hiện và hoàn tất. Tập Thánh Vịnh mở ngỏ cho chúng ta cầu nguyện trong Đức Ki-tô. Chính trong “Ngày hôm nay” của cuộc Phục sinh, chúng ta nghe Chúa Cha phán: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con. Con cứ xin, rồi Cha ban tặng muôn dân nước làm sản nghiệp riêng, toàn cõi đất làm phần lãnh địa” (Tv 2,7-8).

Thư Do-thái dùng những lời tha thiết để diễn tả cách Đức Giê-su đem lại chiến thắng cứu độ: “Khi còn sống kiếp phàm nhân Đức Giê-su đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền cứu Người khỏi chết. Thiên Chúa đã nhận lời Người, vì Người đã tôn kính Thiên Chúa. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người đã trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho những ai tùng phục người” (Dt 5,7-9).

Đức Giê-su dạy cầu nguyện

2607 520. Khi Đức Giê-su cầu nguyện, Người đã dạy ta cầu nguyện. Cách Đức Giê-su cầu nguyện với Cha bằng tin cậy mến là mẫu mực cho chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa. Ngoài ra, Tin Mừng còn ghi lại cho chúng ta một lời dạy rõ ràng của Đức Giê-su về cầu nguyện. Với tài sư phạm, Người bắt đầu từ tình trạng hiện tại của chúng ta, để từng bước dẫn chúng ta đến cùng Chúa Cha. Khi nói với đám đông dân chúng đang theo Người, Người bắt đầu từ những gì họ đã biết về cầu nguyện theo Cựu Ước, rồi mở ra cho họ thấy nét mới mẻ của Nước Trời đang đến. Kế đó, Người mặc khải cho họ nét mới này qua các dụ ngôn. Sau cùng, đối với các môn đệ là những người sẽ phải dạy cầu nguyện trong Hội Thánh, Người nói rõ về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

2608 541 1430. Ngay từ Bài Giảng Trên Núi, Đức Giê-su đã nhấn mạnh đến việc hoán cải tâm hồn: phải làm hòa với anh em trước khi đến dâng lễ vật trên bàn thờ (x. Mt 5,23-24) phải yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bách hại mình (x. Mt 5,44-45) phải “cầu nguyện cùng Chúa Cha, Đấng hiện diện nơi kín đáo” (x. Mt 6,6); khi cầu nguyện đừng lải nhải nhiều lời (x. Mt 6,7) thật lòng tha thứ cho tha nhân (x. Mt 6,14-15), giữ tâm hồn trong sạch và lo tìm kiếm Nước Trời (x. Mt 6,21.25.33). Cuộc hoán cải này hoàn toàn hướng về Chúa Cha, đượm tình con thảo.

2609 153 1814. Khi lòng mình đã quyết tâm hoán cải, con người sẽ học biết cầu nguyện trong đức tin. Tin là gắn bó với Thiên Chúa bằng tình con thảo, vượt trên những gì thuộc giác quan và nhận thức. Chúng ta được như thế vì Con yêu dấu của Thiên Chúa đã mở đường cho ta đến cùng Chúa Cha. Chúa Con có quyền đòi chúng ta phải “tìm kiếm” và “gõ cửa”, vì chính Người là cửa và là đường (Mt 7,7-11.13-14).

2610 165. Đức Giê-su đã cầu nguyện và cảm tạ Chúa Cha trước khi nhận được ơn, Người cũng dạy cho chúng ta dạn dĩ như người con: “Tất cả những gì anh em xin khi cầu nguyện, anh em cứ tin là mình đã được rồi” (Mc 11,24). Đó chính là sức mạnh của lời cầu nguyện: “cái gì cũng có thể, đối với người có lòng tin” (Mc 9,23); sức mạnh của một đức tin “không chút nghi nan” (Mt 21,22). Đức Giê-su đã rất buồn khi thấy “đám bà con thân thuộc Người,… không chịu tin” (Mc 6,6), và thấy các môn đệ “kém lòng tin” (Mt 8,26). Trái lại người thán phục trước “lòng tin mạnh mẽ” của viên sĩ quan Rô-ma và người phụ nữ xứ Ca-na-an (Mt 8,10; 15,28).

2611 2827. Kinh nguyện của người tín hữu không chỉ là thưa: “Lạy Chúa, Lạy Chúa”, nhưng chính là sẵn lòng thi hành thánh ý Chúa Cha (Mt 7,21). Đức Giê-su dạy các môn đệ cầu nguyện với tâm tình muốn cộng tác với thánh ý Chúa (x. Mt 9,38; Lc 10,2; Ga 4,34).

2612 672 2725. Khi Đức Giê-su đến, triều đại Thiên Chúa đã gần kề, Người kêu gọi con người hoán cải, tin và tỉnh thức. Trong cầu nguyện, người môn đệ tỉnh thức đón Đấng Hiện Có và Đang Tới, vừa tưởng nhớ việc Người đến lần thứ nhất trong xác phàm khiêm hạ vừa mong đợi Người đến lần thứ hai trong Vinh Quang (x Mc 13; Lc 21,34-36). Đối với các môn đệ của Đức Ki-tô, cầu nguyện là một cuộc chiến đấu không ngừng; nhờ hiệp thông với Thầy chí Thánh, người môn đệ sẽ chiến thắng: “Ai tỉnh thức trong cầu nguyện sẽ không sa chước cám dỗ” (Lc 22,40.46).

2613 546. Thánh Lu-ca ghi lại cho chúng ta ba dụ ngôn chính về cầu nguyện:

– Dụ ngôn thứ nhất, “người bạn quấy rầy” (Lc 11,5-13), dạy chúng ta kêu cứu “Anh em cứ xin thì sẽ được,… , cứ gõ cửa thì cửa sẽ mở ra”. Khi một người kêu cứu như vậy, Cha Trên Trời “sẽ ban cho tất cả những gì anh em cần đến”, nhất là Người sẽ ban tặng Thánh Thần, kho tàng mọi hồng ân.

– Dụ ngôn thứ hai, “Bà góa quấy rầy” (Lc 18,1-8), chú trọng đến một đặc tính của cầu nguyện: “phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”, với đức tin nhẫn nại”. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt dất nữa chăng?”

2559. – Dụ ngôn thứ ba, “Người Pha-ri-sêu và người thu thuế” (Lc 18,9-14), dạy chúng ta phải khiêm cung khi cầu nguyện “Lạy Thiên Chúa, con là kẻ tội lỗi, xin thương xót con”. Lời cầu này đã được Hội Thánh nhận làm của mình và không ngừng lặp lại: “xin Chúa thương xót chúng con”.

2614 434. Lúc dạy các môn đệ phải cầu nguyện với Chúa Cha, Đức Giê-su đã dạy các ngài và cả chúng ta cách cầu nguyện như thế nào một khi Người về cùng Chúa Cha trong Nhân Tính vinh quang. Từ đây sẽ có một điểm mới là: “nhân danh Thầy mà cầu xin” (Ga 14,13). Tin vào Người, các môn đệ sẽ nhận biết Chúa Cha, vì “chính Thầy là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6). Đức tin này sẽ trổ sinh những hoa trái trong đức mến: giữ Lời Người, giữ các điều răn của Người, ở lại với Người trong Chúa Cha là Đấng yêu mến chúng ta trong Người đến độ ở lại với chúng ta. Trong Giao Ước mới này những lời khẩn cầu của chúng ta chắc chắn sẽ được Chúa Cha nhận lời vì dựa trên lời cầu khẩn của Đức Giê-su (Ga 14,13-14).

2615 728. Hơn nữa, khi chúng ta hiệp nhất lời nguyện của mình với lời cầu của Đức Giê-su, Chúa Cha “sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác, đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thánh Thần Chân Lý” (Ga 14,16-17). Nét mới mẻ này và các điều kiện cần có khi cầu nguyện được Đức Giê-su đề cập đến trong diễn từ cáo biệt của Người (x. Ga 14,23-26; 15,7.16; 16,13-15; 16,23-27). Trong Thánh Thần, kinh nguyện Ki-tô Giáo là hiệp thông đầy yêu thương với Chúa Cha, không chỉ nhờ Đức Ki-tô mà còn trong Người: “Cho đến bây giờ, anh em đã chẳng xin gì nhân danh Thầy. Anh em cứ xin thì sẽ được trọn vẹn” (Ga,16,24).

Đức Giê-su nhận lời cầu nguyện

2616 548 2667. Trong khi thi hành tác vụ, Đức Giê-su từng nhận lời cầu khẩn Người, qua những dấu chỉ tiên báo quyền năng của Đấng chịu chết và sống lại. Người thương nhận lời cầu xin đầy tin tưởng của nhiều người, dù họ lên tiếng (người bệnh phong (x. Mc 1,40-41), ông Giai-rô (x. Mc 5,36), người phụ nữ Ca-na-an (x. Mc 7,29), người trộm lành (x. Lc 23,39-43), hay chỉ im lặng (những người khiêng người bất toại (x. Mc 2,5), người đàn bà bị bệnh loạn huyết cố sờ áo Người (x. Mc 5,28), nước mắt và dầu thơm của người phụ nữ tội lỗi (x. Lc 7,37-38). Lời khẩn cầu tha thiết của những người mù: “Lạy Con Vua Đa-vít, xin thương xót chúng tôi” (Mt 9,27) hay “Lạy Đức Giê-su, Con Vua Đa-vít, xin thương xót tôi” (Mc 10,48) sẽ được Hội Thánh lặp lại trong truyền thống lời nguyện dâng lên Đức Giê-su: “Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa, Chúa chúng con, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Dù chữa bệnh hay tha tội, Đức Giê-su luôn đáp lời kêu cầu của người tin tưởng khấn xin Người: “Cứ về bình an, lòng tin anh đã cứu chữa anh”.

“Thánh Augustinô đã khéo léo tóm tắt ba chiều kích trong kinh nguyện của Đức Giê-su: “Người cầu nguyện cho chúng ta với tư cách là Đầu; Người được chúng ta kêu cầu với tư cách là Thiên Chúa. Vậy chúng ta phải nhận biết tiếng của chúng ta trong Người và tiếng của Người trong chúng ta” (x. Tv 85,1; x. IGLH 7).

Kinh nguyện của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a

2617 148 494 409. Chúng ta được biết Đức Ma-ri-a cầu nguyện vào lúc bình minh của thời Viên Mãn. Trước khi Con Thiên Chúa nhập thể và trước khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, lời cầu nguyện của Mẹ đã cộng tác một cách độc đáo vào kế hoạch nhân hậu của Chúa Cha, trong ngày Truyền Tin để Đức Ki-tô mặc lấy xác phàm (x. Lc 1,38) và trong ngày lễ Ngũ Tuần để hình thành Hội Thánh là Thân Thể Đức Ki-tô (x. Cv 1,14). Trong lòng tin của người nữ tỳ khiêm cung này, Hồng Ân Thiên Chúa đã được tiếp nhận xứng đáng, sự tiếp nhận Người đã chờ đợi từ thuở khai thiên lập địa. Con người được Đấng Toàn Năng ban “đầy ân sủng” này đã đáp lại bằng việc hiến dâng trọn xác hồn: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Lời “Xin Vâng” chính là kinh nguyện Ki-tô Giáo: xin dâng tất cả cho Chúa vì Chúa là tất cả đối với chúng ta.

2618 2674 726. Tin Mừng cho chúng ta thấy Đức Ma-ri-a đầy tin tưởng khi cầu nguyện và chuyển cầu cho những người khác: tại Ca-na (x. Ga 2,1-12), Mẹ đã xin Đức Giê-su lo đến nhu cầu của bữa tiệc cưới, đây là dấu chỉ về một Bữa Ăn khác, bữa tiệc cưới của Chiên Con hiến Mình và Máu theo lời xin của Hiền Thê là Hội Thánh. Trong giờ Giao Ước Mới, dưới chân thập giá (x. Ga 19,25-27), Đức Ma-ri-a đã được nhận lời như Người Phụ Nữ, bà E-và mới, người mẹ đích thực của chúng sinh.

2619 724. Do đó, bài ca của Đức Ma-ri-a (x. Lc 1,46-55) (bài Magnificat theo La-tinh hay Megalinaire theo Hy-lạp) vừa là bài ca của Mẹ Thiên Chúa vừa là bài ca của Hội Thánh, bài ca của Thiếu Nữ Xi-on và của Dân Mới, bài ca tạ ơn vì muôn ngàn hồng ân Thiên Chúa đã ban cho con người trong nhiệm cục cứu độ, bài ca của “những người nghèo” thấy hy vọng của mình trở thành hiện thực vì Thiên Chúa đã thi hành “như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời”.

TÓM LƯỢC

2620. Trong Tân Ước, khuôn mẫu tuyệt hảo của cầu nguyện là lời cầu nguyện đầy tình con thảo của Đức Giê-su. Người thường cầu nguyện nơi vắng vẻ, kín đáo. Kinh nguyện của Người đầy tâm tình gắn bó yêu thương, vâng phục thánh ý Chúa Cha dù phải chấp nhận Thập Giá, và tuyệt đối tin tưởng là mình sẽ được nhận lời.

2621. Đức Giê-su đã dạy các môn đệ cầu nguyện với tâm hồn trong sạch, một đức tin sống động và kiên trì, một sự dạn dĩ của người con. Người kêu gọi họ tỉnh thức và muốn họ dâng những lời khẩn cầu lên Thiên Chúa nhân danh Người. Chính Đức Giê-su Ki-tô cũng nhận lời chúng ta cầu xin.

2622. Kinh nguyện của Đức Ma-ri-a, trong lời Xin Vâng và bài ca Ngợi Khen, làm nổi bật tâm tình hiến dâng trọn bản thân trong lòng tin.