Phần thứ ba: Sự sống trong Chúa Ki-tô (Giáo lý số 1691 – 1698)

Tượng Đức Giê-su đạp lên đầu thần Ouranos trong hầm mộ Junius Bassus

Phần chính của thạch mộ Junius Bassus được tìm thấy phía dưới tòa giải tội của đền thờ thánh Phê-rô tại Rô- ma, đề năm 359. Đức Ki-tô vinh hiển, được trình bày rất trẻ (dấu chỉ thiên tính của Người), ngồi trên ngai trời, đạp trên thần trời Ouranos của dân ngoại. Vây quanh Người là hai tông đồ Phê- rô và Phao-lô. Cả hai hướng về Đức Ki-tô và nhận lãnh hai cuốn Luật mới.

Như xưa ông Mô-sê đã nhận lãnh Luật cũ nơi Thiên Chúa trên núi Xi-nai, nay các tông đồ, được đại diện bởi hai vị đứng đầu, nhận nơi Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Chúa trời đất, Luật Mới, không còn được viết trên những bia đá nữa nhưng được Thánh Thần khắc ghi trong tâm hồn các tín hữu. Đức Ki-tô ban cho ta sức mạnh để sống “đời sống mới” (k. 1697). Người đến để kiện toàn trong ta điều Người đã dạy vì thiện ích của ta (x. k 2074)

1691 790. “Hỡi các Ki-tô hữu, hãy nhận biết phẩm giá của mình. Nay anh em đã được tham dự vào bản tính Thiên Chúa, đừng quay lại cuộc sống thấp hèn trước kia. Hãy nhớ Thủ Lãnh của anh em là Đức Ki-tô và anh em là chi thể của Hội Thánh. Đừng quên anh em đã được giải thoát khỏi quyền lực tối tăm và được đưa vào trong ánh sáng Nước Thiên Chúa” (Thánh Lê-ô Cả, bài giảng 21,2-3).

1692. Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng công trình sáng tạo là hồng ân cao cả Thiên Chúa ban cho con người, nhưng hồng ân cứu chuộc và thánh hóa còn cao cả hơn nữa. Các bí tích thông ban cho chúng ta điều chúng ta tin tưởng tuyên xưng: nhờ “các bí tích tái sinh”, các Ki-tô hữu trở nên “con cái Thiên Chúa” (x. Ga 1,12; 1 Ga 3,1), “tham dự vào bản tính Thiên Chúa” (x. 2 Pr 1,4). Khi lấy đức tin mà nhìn nhận phẩm giá mới của mình, các Ki-tô hữu được mời gọi “ăn ở xứng đáng với Tin Mừng” (x. Pl 1,27). Nhờ các bí tích và kinh nguyện, họ nhận được ân sủng của Đức Ki-tô và các hồng ân Chúa Thánh Thần, để có thể sống đời sống mới này.

1693. Đức Giê-su Ki-tô luôn làm điều đẹp lòng Chúa Cha (x. Ga 8,29). Người luôn sống hiệp thông trọn vẹn với Cha. Cũng vậy, Người mời gọi các môn đệ sống trước thánh nhan Cha, “Đấng thấu suốt những gì bí ẩn” (x. Mt 6,6), để trở nên “hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).

1694 1267. Nhờ bí tích Thánh Tẩy (x. Rm 6,5), các Ki-tô hữu được tháp nhập vào Đức Ki-tô; họ “chết đối với tội lỗi nhưng sống cho Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô Giê-su” (x. Rm 6,11. ). Như thế, họ tham dự vào sự sống của Đấng Phục Sinh. Khi bước theo Đức Ki-tô và kết hiệp với Người (x. Ga 15,5), các tín hữu “bắt chước Thiên Chúa, vì là con cái được Người yêu thương và sống trong tình bác ái” (Ep 5,1), bằng việc uốn nắn ý nghĩ, lời nói và việc làm của mình theo “những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su” (Pl 2,5) và noi gương bắt chước Người (x. Ga 13,12-16).

1695. Các Ki-tô hữu được “nên công chính nhờ danh Đức Giê-su Ki-tô và nhờ Thánh Thần của Thiên Chúa” (x 1 Cr 6,11), được “thánh hóa” và “được kêu gọi nên thánh” (x. 1 Cr 1,2), họ trở nên “đền thờ Chúa Thánh Thần” (1 Cr 6,19). Chính “Thánh Thần của Chúa Con “dạy họ cầu nguyện với Chúa Cha (x. Ga 4,6). Khi trở nên sự sống của họ, Người thúc đẩy họ hành động (x. Ga 5,25) để mang lại “hoa quả của Thánh Thần” (Gl 5,22) nhờ thể hiện đức ái. Khi Chúa Thánh Thần chữa chúng ta khỏi các vết thương do tội lỗi, Người canh tân nội tâm chúng ta “trong Thần Khí” (x. Ep 4,23), soi sáng và củng cố để chúng ta sống như “con cái sự sáng” (x. Ep 5,8), nhờ “lương thiện, công chính và chân thật” trong mọi chuyện (Ep 5,9).

1696 1970. Đường của Đức Ki-tô “dẫn đến sự sống”, trong khi con đường đối nghịch “đưa đến diệt vong” (Mt 7,13) (x. Đnl 30,15-20). Dụ ngôn Tin Mừng về hai con đường luôn luôn hiện diện trong huấn giáo của Hội Thánh. Nó cho thấy những quyết định luân lý quan trọng thế nào đối với phần rỗi của chúng ta. “Có hai con đường, một dẫn đến sự sống, một dẫn đến sự chết: hai bên khác nhau một trời một vực (Didaché 1,1)”.

1697. Trong huấn giáo, cần phải làm nổi bật niềm vui gặp được cũng như những đòi hỏi mà con đường của Đức Ki-tô đặt ra (x. CT 29). Huấn giáo về “đời sống mới” (x. Rm 6,4) trong Đức Ki-tô phải là:

737tt. – Một huấn giáo về Chúa Thánh Thần, vị Thầy nội tâm về đời sống theo Đức Ki-tô, người khách trọ dịu hiền và người bạn soi sáng, hướng dẫn, sữa chữa và củng cố đời sống mới này.

1938tt. – Một huấn giáo về ân sủng, vì chính nhờ ân sủng mà chúng ta được cứu độ, cũng chính nhờ ân sủng mà các hoạt động của chúng ta mang lại hoa trái cho đời sống vĩnh cửu.

1716tt. – Một huấn giáo về các mối phúc thật: Các mối phúc thật tóm tắt con đường của Đức Ki-tô, con đường duy nhất dẫn đến hạnh phúc đời đời mà lòng người hằng khao khát.

184tt. – Một huấn giáo về tội lỗi và ơn tha thứ. Nếu không nhận biết mình là tội nhân, con người không thể nhận ra chân lý về bản thân. Chân lý này là điều kiện để hành động đúng. Nếu Thiên Chúa không ban ơn tha thứ, con người không thể chấp nhận nổi chân lý này.

1803tt. – Một huấn giáo về các đức tính nhân bản giúp con người nhận ra nét đẹp và hấp dẫn của việc sẵn sàng làm điều tốt.

1812. – Một huấn giáo về các nhân đức Ki-tô Giáo: tin cậy, mến – được khởi hứng cách tuyệt vời bằng gương mẫu các thánh.

2067. – Một huấn giáo về giới răn mến Chúa yêu người được khai triển trong Thập Giới.

946tt. – Một huấn giáo về Hội Thánh, vì chính nhờ những trao đổi đa dạng “các gia sản thiêng liêng” trong mầu nhiệm “các thánh thông công” mà đời sống Ki-tô hữu được tăng trưởng, phát triển và thông truyền cho nhau.

1698 426. Điểm quy chiếu đầu tiên và cuối cùng của một huấn giáo như vậy luôn luôn phải là chính Đức Giê-su Ki-tô, Đấng là “con đường, là sự thật, và là sự sống” (Ga 14,6). Khi lấy đức tin mà nhìn Đức Ki-tô, các tín hữu có thể hy vọng chính Người sẽ thực hiện nơi họ những điều Người đã hứa. Còn khi yêu mến Người bằng tình yêu Người đã yêu mến họ, họ thực hiện được những việc phù hợp với phẩm giá của mình:

“Tôi xin anh em hãy coi Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, là thủ lãnh thật của anh em và anh em là chi thể của Người. Người thuộc về anh em như đầu thuộc về các chi thể. Mọi sự của Người là của anh em. Tinh Thần của Người, trái tim của Người, thân thể của Người, linh hồn và tất cả khả năng của Người. Anh em phải sử dụng những gì của Người như của riêng anh em để phục vụ, ca ngợi, yêu mến và tôn vinh Thiên Chúa. Anh em thuộc về Người, như chi thể thuộc về đầu. Cũng vậy, Người ao ước sử dụng tất cả những gì của anh em, như thể là của riêng Người để phục vụ và tôn vinh Cha của Người (Thánh Gioan Eude,Thánh Tâm Chúa Giê-su, 1,5)”.

“Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô” (Pl 1,21).