Tiết 1. “Tôi tin kính Đức Chúa Trời” (Giáo lý số 199 – 231)

199 2083. “Tôi tin kính Đức Chúa Trời”: lời khẳng định đầu tiên của bản tuyên xưng đức tin cũng là lời cănbản nhất. Trọn tín biểu đều nói về Thiên Chúa. Tất cả các tín điều trong Kinh Tin Kính đều tùy thuộc vào tín điều thứ nhất, cũng như các giới răn làm rõ ý giới răn thứ nhất. Những tín điều còn lại, giúp chúng ta hiểu biết Thiên Chúa hơn, như Người đã từng bước mặc khải cho con người. “Điều đầu tiên người tín hữu tuyên xưng là tin vào Thiên Chúa” (CR 1,2,2).

I. “TÔI TIN KÍNH MỘT THIÊN CHÚA”

200 2085. Kinh Tin Kính của Công đồng Ni-xê-a – Constantinôpôli bắt đầu bằng những lời trên đây: Lời tuyên xưng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, bắt nguồn từ mặc khải của Thiên Chúa trong Cựu Ước, liên kết chặt chẽ với lời tuyên xưng về sự hiện hữu của Thiên Chúa, và có cùng một giá trị căn bản như vậy. Thiên Chúa là Đấng duy nhất: chỉ có một Thiên Chúa. “Đức tin Ki-tô Giáo tuyên xưng chỉ có một Thiên Chúa, xét theo bản tính, bản thể và yếu tính” (CR 1,2,2).

201 2083. Thiên Chúa tự mặc khải là Đấng Duy Nhất cho dân Ít-ra-en, dân được tuyển chọn: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA duy nhất. Hãy yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng hết dạ, hết sức anh (em)” (Đnl 6,4-5). Qua các ngôn sứ, Thiên Chúa kêu gọi Ít-ra-en và các dân nước quay về với Người là Đấng Duy Nhất: “Nào muôn dân khắp cõi địa cầu, hãy hướng về Ta, thì các ngươi sẽ được cứu độ, vì Ta là Thiên Chúa, chẳng còn chúa nào khác. Ta lấy chính danh Ta mà thề, lời chân thật này thốt ra khỏi miệng Ta, Ta quyết chẳng bao giờ rút lại: Trước mặt Ta, mọi người sẽ quỳ gối, và mở miệng thề rằng: Chỉ mình ĐỨC CHÚA mới cứu độ và làm cho mạnh sức. Hết thảy những ai giận ghét Người sẽ phải đến với Người và thẹn thùng xấu hổ” (Is 45,22-24) (x. Pl 2,10-11).

202 446 152. Chính Đức Giê-su xác định Thiên Chúa là “Đức Chúa Duy Nhất”, và phải yêu mến Người “hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí và hết sức lực ngươi” (x. Mc 12,29-30). Đồng thời, Người cũng ngầm cho ta hiểu chính Người là “Đức Chúa” (x. Mc 12,35-37). Tuyên xưng “Đức Giê-su là Đức Chúa” là đặc tính của đức tin Ki-tô Giáo. Điều này không trái ngược với đức tin vào một Thiên Chúa Duy Nhất. Tin vào Chúa Thánh Thần là “Đức Chúa và là Đấng Ban Sự Sống” không đưa đến một sự phân chia nào nơi Thiên Chúa Duy Nhất:

42. Chúng tôi tin vững vàng và khẳng định đơn giản chỉ có một Thiên Chúa chân thực, vô hạn và bất biến, vô phương thấu hiểu, toàn năng và khôn tả, là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần: ba ngôi vị, nhưng chỉ có một bản thể hay bản tính đơn thuần (DS 800).

II. THIÊN CHÚA MẶC KHẢI DANH THÁNH NGƯỜI

203 2143. Thiên Chúa tự mặc khải cho Ít-ra-en, dân Người, bằng cách mặc khải Danh Thánh Người. Trong Thánh Kinh, tên của một người diễn tả yếu tính, căn tính và ý nghĩa đời họ. Thiên Chúa không phải là một sức mạnh vô danh. Thiên Chúa có tên. Cho biết tên tức là cho người khác biết mình; là cởi mở để người ta dễ dàng đến với mình, liên hệ mật thiết hơn và gọi được tên nhau.

204 63. Thiên Chúa đã từng bước mặc khải chính mình ra cho dân Người dưới nhiều danh thánh khác nhau. Tuy nhiên, việc mặc khải danh thánh cho Mô-sê trong cuộc thần hiện nơi bụi gai bốc lửa, trước cuộc Xuất Hành và Giao Ước tại Xi-nai, đã được nhận là mặc khải căn bản cho Cựu và Tân Ước.

Thiên Chúa hằng sống

205 2575 268. Thiên Chúa gọi Mô-sê từ giữa bụi gai đang cháy nhưngkhông tàn lụi. Thiên Chúa nói với Mô-sê:

“Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp” (Xh 3,6). Thiên Chúa là Thiên Chúa của tổ tiên, Đấng kêu gọi và hướng dẫn các tổ phụ trong các cuộc hành trình của họ. Người là Thiên Chúa trung tín và giàu lòng thương cảm, luôn nhớ tới họ và các lời Người đã hứa; Người đến để giải thoát con cháu họ khỏi ách nô lệ. Người là vị Thiên Chúa có khả năng và muốn thực hiện ý định đó bất chấp không gian và thời gian; Người sẽ dùng quyền năng vô tận để thực hiện chương trình này.

“Ta là Đấng Hiện Hữu”

Ông Mô-sê thưa với Thiên Chúa: “Bây giờ, con đến gặp con cái Ít-ra-en và nói với họ: Thiên Chúa của cha ông anh em sai tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con: Tên Đấng ấy là gì? Thì con sẽ nói với họ làm sao?” Thiên Chúa phán với ông Mô-sê: “Ta là Đấng Hiện Hữu.” Người phán: “Ngươi nói với con cái Ít-ra-en thế này: “Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em.” Thiên Chúa lại phán với ông Mô-sê: “Ngươi sẽ nói với con cái Ít-ra-en thế này: ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của cha ông anh em, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp, sai tôi đến với anh em. Đó là danh Ta cho đến muôn thuở, đó là danh hiệu các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu Ta từ đời nọ đến đời kia” (Xh 3,13-15).

206 43. Khi mặc khải danh thánh huyền bí của Người, YHWH (Gia-vê), có nghĩa: “Ta là Đấng Hiện Hữu” hoặc “Ta là Đấng Tự Hữu” hoặc “Ta là Ta”, Thiên Chúa nói Người là ai và phải gọi tên Người như thế nào. Danh Thánh Thiên Chúa huyền bí cũng như Thiên Chúa là huyền nhiệm. Đó vừa là một mặc khải danh thánh, vừa là một khước từ danh xưng. Do đó, qua danh thánh này, chúng ta hiểu rõ về Thiên Chúa, Đấng nghìn trùng vượt trổi mọi khả năng hiểu biết và diễn tả của con người: Người là “Thiên Chúa ẩn mình” (Is 45,15); danh thánh Người khôn tả (x. Tl 13,18); và Người là vị Thiên Chúa trở nên gần gũi với con người:

207. Khi mặc khải danh thánh, Thiên Chúa đồng thời mặc khải lòng trung tín của Người từ muôn thuở và cho tới muôn đời, có giá trị trong quá khứ (“Ta là Thiên Chúa của cha ngươi”: Xh 3,6) cũng như trong tương lai (“Ta sẽ ở với ngươi”: Xh 3,12). Thiên Chúa mặc khải danh thánh mình là “Đấng Hiện Hữu” thì cũng tự mặc khải mình như vị Thiên Chúa luôn hiện diện, có mặt bên cạnh để giải cứu dân mình.

208 724 448 388. Trước sự hiện diện hấp dẫn và huyền bí của Thiên Chúa, con người nhận ra sự nhỏ bé của mình. Đứng trước bụi gai bốc cháy, Mô-sê cởi dép và che mặt (x. Xh 3,5-6) khi đối diện với Thiên Chúa Chí Thánh. Đứng trước vinh quang của Thiên Chúa Chí Thánh, ngôn sứ I-sai-a thốt lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người môi miệng ô uế” (Is 6,5). Trước những dấu lạ Chúa Giê-su làm, Thánh Phê-rô thốt lên: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5,8). Nhưng bởi Thiên Chúa là Đấng Thánh, Người có thể tha thứ cho kẻ nhận biết mình tội lỗi trước mặt Người: “Ta sẽ không hành động theo cơn nóng giận,… vì Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm. Ở giữa ngươi, Ta là Đấng Thánh…” (Hs 11,9).

Sau này Thánh Gio-an Tông đồ cũng nói: “chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa. Vì nếu lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết hết mọi sự” (1 Ga 3,19-20).

209 446. Vì tôn kính Thiên Chúa Chí Thánh, dân Ít-ra-en không nêu danh thánh Người khi đọc Thánh Kinh; danh thánh mặc khải được thay thế bằng tước hiệu của Thiên Chúa: “Đức Chúa” (tiếng Híp-ri là Adonai; tiếng Hy-lạp là Kyrios).

Để tuyên xưng thiên tính của Đức Giê-su, các tín hữu cũng sử dụng tước hiệu đó: “ĐỨC GIÊ-SU là CHÚA”.

“Thiên Chúa của tình yêu thương và từ bi”

210 2116 2577. Sau khi dân Ít-ra-en phạm tội, chối bỏ Thiên Chúa để thờ con bê bằng vàng (x. Xh 32), Thiên Chúa nghe lời cầu khẩn của Mô-sê và chấp nhận đồng hành giữa đám dân bất trung, để tỏ lòng yêu thương của Người (x. Xh 33,12-17). Khi Mô-sê xin được thấy vinh quang Thiên Chúa, Người trả lời: “Ta sẽ cho tất cả vẻ đẹp của Ta đi qua trước mặt ngươi, và sẽ xưng danh Ta là ĐỨC CHÚA trước mặt ngươi” (Xh 33,18-19). Đức Chúa đi qua trước mặt Mô-sê và nói: “ĐỨC CHÚA! ĐỨC CHÚA! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,5-6). Bấy giờ, Mô-sê tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa thứ tha (x. Xh 34,9).

211 604. Danh thánh “Ta Hiện Hữu” hoặc “Đấng Hiện Hữu” diễn tả sự trung tín của Thiên Chúa, Đấng vẫn “giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ” (Xh 34,7), cho dù con người có bất trung, tội lỗi đáng phải trừng phạt. Thiên Chúa tỏ cho thấy Người “giàu lòng thương xót” (Ep 2,4) đến nỗi trao ban chính Con của Người. Khi hiến mạng sống mình để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi, Đức Giê-su sẽ mặc khải cho thấy, chính Người mang danh thánh của Thiên Chúa: “Khi các ông đưa Con Người lên cao, bấy giờ các ông sẽ biết là “Ta Hiện Hữu”” (Ga 8,28).

Chỉ mình Thiên Chúa là Đấng HIỆN HỮU

212 42 469 2086. Trải qua các thời đại, đức tin của Ít-ra-en đã khai triển và đào sâu sự phong phú chứa đựng trong mặc khải danh thánh này. Thiên Chúa là duy nhất, ngoài Người ra không có thần nào hết. Người siêu vượt thế giới và lịch sử. Chính Người tạo dựng trời đất. “Chúng tiêu tan, Chúa còn hoài; chúng như áo cũ thay rồi mòn hao,… Nhưng chính Ngài tiền hậu y nguyên, tháng năm Ngài vẫn triền miên” (Tv 102,27-28). Nơi Người, “không hề có sự thay đổi, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng” (Gc 1,17). Người là “Đấng Hiện Hữu” từ muôn thuở đến muôn đời, và như vậy Người luôn trung tín với chính mình và với các lời Người hứa.

213 41. Vì thế, măc khải danh thánh khôn tả “Ta là Đấng Hiện Hữu” chứa đựng chân lý: chỉ mình Thiên Chúa là Đấng HIỆN HỮU. Bản dịch Bảy Mươi và kế đó là truyền thống Hội Thánh đã hiểu danh thánh của Thiên Chúa theo nghĩa đó: Thiên Chúa là sự viên mãn của hiện hữu và của mọi sự trọn hảo, không khởi nguyên, không cùng tận. Trong khi các thụ tạo là gì, và có gì, đều phải lãnh nhận từ nơi Thiên Chúa, thì duy chỉ mình Người là tự hữu và Người thế nào là do chính Người.

III. THIÊN CHÚA: “ĐẤNG HIỆN HỮU” LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ TÌNH THƯƠNG

214 1062. Thiên Chúa, “Đấng Hiện Hữu”, đã tự mặc khải cho Ít-ra-en như là Đấng “giàu ân sủng và thành tín” (Xh 34,6). Hai từ ngữ đó diễn tả một cách cô đọng những gì là phong phú của danh thánh. Trong mọi công trình của Người, Thiên Chúa biểu lộ lòng ưu ái, lòng nhân hậu,ân sửng và tình thương; Người cũng cho thấy mình là Đấng đáng tin, bền vững, trung tín, chân thật: “Xin cảm tạ danh Chúa, vì Ngài thành tín và yêu thương” (Tv 138,2; Tv 85,11). Thánh Gio-an Tông Đồ dạy: Người là Sự Thật, vì “Thiên Chúa là Ánh Sáng, nơi Người không có một chút bóng tối nào” (1 Ga 1,5); Người là “Tình Thương” (1 Ga 4,8).

Thiên Chúa là Sự Thật

215 2465 1063 156 397. “Nguyên lý lời Người là chân lý, mọi quyết định công minh của Người tồn tại muôn năm” (Tv 119,160). “Lạy Chúa Thượng là Đức Chúa, chính Ngài là Thiên Chúa, những lời Ngài phán là chân lý” (2 Sm 7,28); vì vậy những lời Thiên Chúa hứa luôn luôn được thực hiện ( x. Đnl 7,9). Thiên Chúa là chính Sự Thật, lời Người không phỉnh gạt. Vì vậy ta có thể hoàn toàn tin tưởng vào sự chân thật và sự trung tín của lời Người trong mọi sự. Khởi đầu của tội lỗi và sự sa ngã của loài người là lời dối trá của tên cám dỗ làm cho con người nghi ngờ lời Thiên Chúa, cũng như lòng nhân hậu và lòng thành tín của Người.

216 295 32. Sự thật của Thiên Chúa được biểu lộ qua việc Người khôn ngoan điều khiển toàn bộ trật tự sáng tạo và vận hành vũ tru (x. Kn 13,1-9). Một mình Thiên Chúa đã sáng tạo trời đất (x. Tv 115,15); duy chỉ mình Người mới ban cho chúng ta sự hiểu biết đích thực về mọi vật được tạo dựng trong tương quan với Người (x. Kn 7,17-21).

217 851 2466. Thiên Chúa cũng là Đấng chân thật khi Người tự mặc khải: giáo huấn phát xuất từ Thiên Chúa là “một đạo lý chân thật” (Ml 2,6). Khi Người cử Con của Mình vào trần thế, chính là để làm chứng cho Sự Thật (Ga 18,37). “Chúng ta biết rằng, Con Thiên Chúa đã đến ban cho chúng ta trí khôn để nhận biết Thiên Chúa thật” (1 Ga 5,20) (x. Ga 17,3).

Thiên Chúa là Tình Thương

218 295. Trong dòng lịch sử của mình, Ít-ra-en đã khám phá ra Thiên Chúa chỉ có một lý do duy nhất khi tự mặc khải cho họ và đã chọn họ giữa tất cả các dân khác để thuộc về Người: đó là tình thương nhưng không của Người (x. Đnl 4,37; 7,8; 10,15). Và nhờ các ngôn sứ, Ít-ra-en cũng hiểu rằng, chính vì yêu thương mà Thiên Chúa đã không ngừng giải cứu (x. Is 43,1-7) và tha thứ những bất trung và tội lỗi của họ (x. Hs 2).

219 239 796 458. Tình thương của Thiên Chúa dành cho Ít-ra-en được so sánh với tình thương của một người cha đối với con mình (Hs 11,1). Tình thương đó còn mạnh hơn tình thương của một người mẹ dành cho con cái (x. Is 49,14-15). Thiên Chúa yêu dân người hơn cả một người chồng yêu người vợ quý (x. Is 62,4-5). Tình yêu đó sẽ thắng vượt cả những bất trung tệ hại nhất (x. Ed 16; Hs 11); và sẽ đưa đến hồng ân quý giá nhất: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một Người” (Ga 3,16).

220. Tình thương của Thiên Chúa “vĩnh cửu” (Is 54,8): “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình thương của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi” (Is 54,10). “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3).

221 733 851 257. Thánh Gio-an còn đi xa hơn nữa khi xác nhận: “Thiên Chúa là Tình Thương” (1 Ga 4,8.16): Bản thể của Người là tình thương. Khi cử Con Một Người và Thánh Thần Tình Yêu đến trần thế lúc thời gian đã viên mãn, Thiên Chúa mặc khải điều bí ẩn thâm sâu nhất của Người (x. 1 Cr 2,7-16; Ep 3,9-12): Chính Người là sự trao đổi tình yêu vĩnh cửu – Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần và Người đã tiền định cho ta được dự phần vào tình thương ấy.

IV. TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỨC TIN VÀO THIÊN CHÚA DUY NHẤT

222. Tin vào Thiên Chúa, Đấng duy nhất, và yêu mến Người với cả con người có những hệ quả rất lớn cho trọn cuộc sống của chúng ta:

223 400. * Đó là nhận biết sự cao cả và uy linh của Thiên Chúa: “Phải, Thiên Chúa thật quá cao cả, Người vượt mọi thông hiểu của chúng ta” (G 36,26). Chính vì thế mà Thiên Chúa phải được “phụng thờ trên hết” (Thánh Gioanna xứ Arc).

224 2637. * Đó là sống trong niềm tạ ơn: nếu Thiên Chúa là Đấng duy nhất, thì chúng ta là gì, và có gì, đều do từ Người mà đến: “Bạn có gì mà đã không nhận lãnh?” (1 Cr 4,7). “Lấy chi đền đáp Chúa, vì mọi ơn lành Người đã ban cho?” (Tv 116,12).

225 356 360 1700 1934. * Đó là nhận biết được tính thống nhất và phẩm giá đích thực của mọi người: Mọi người đều được dựng nên “theo hình ảnh và giống Thiên Chúa” (St 1,26).

226 339 2402 2415. * Đó là biết sử dụng thích đáng những tạo vật: Vì tin vào Thiên Chúa duy nhất, chúng ta sử dụng mọi tạo vật trong mức độ chúng giúp chúng ta đến gần Chúa, và dứt bỏ khi chúng lôi kéo ta xa khỏi Chúa (x. Mt 5,29-30; 16,24; 19,23-24):

“Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, xin cất đi tất cả những gì làm con xa Chúa.
Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, xin ban cho những gì đưa con đến gần Chúa.
Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, xin giải thoát con khỏi chính mình con để tận hiến cho Chúa” (Thánh Ni-cô-la de Flue).

227 313 2090. * Đó là phó thác cho Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, kể cả nghịch cảnh. Một bản kinh của Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su diễn tả ý đó một cách tuyệt vời.

2830 1723. Đừng để điều gì làm cho bạn xao xuyến; Đừng để điều gì làm cho bạn lo sợ. Mọi sự đều qua đi, Thiên Chúa không thay đổi! Kiên nhẫn thì ta sẽ được mọi sự. Người có Chúa ở cùng thì không thiếu gì: Một mình Chúa là đủ cho ta[1].

TÓM LƯỢC

228. “Nghe đây hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất” (Đnl 6,4; Mc 12,29). “Đấng tối cao nhất thiết phải là duy nhất, nghĩa là không ai sánh bằng,… Nếu Thiên Chúa không duy nhất, thì Người không phải là Thiên Chúa”[2].

229. Đức tin vào Thiên Chúa dẫn đưa chúng ta hướng về một mình Người, như về nguồn gốc đầu tiên và về cùng đích tối hậu của chúng ta; nên không có gì quý trọng hơn Người hoặc thay thế được Người.

230. Khi tự mặc khải, Thiên Chúa vẫn là một mầu nhiệm khôn tả: “Nếu bạn hiểu được Người, Người không phải là Thiên Chúa nữa”[3].

231. Thiên Chúa mà chúng ta tin đã tự mặc khải như là Đấng Hiện Hữu; Người cho chúng ta biết Người là Đấng “giàu ân sủng và thành tín” (Xh 34,6). Bản thể của Người là Sự Thật và Yêu Thương.


Chú thích

[1] Thánh Tê-rê-sa Giê-su – Poesías 30, in The Collected Works of St. Teresa of Avila, vol. III, tr. K. Kavanaugh, OCD, and O. Rodriguez, OCD (Washington DC: Institute of Carmelite Studies, 1985), 386 no. 9, tr. by John Wall.

[2] Học giả Tertulianô – Against Marcion 1,3,5.

[3] Thánh Augustinô – Bài giảng 52,6,16.