Tiết 2. Đức Giê-su chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá (Giáo lý số 595 – 623)

I. VỤ ÁN ĐỨC GIÊ-SU

Chia rẽ giữa các nhà chức trách Do-thái về Đức Giê-su

595. Đức Giê-su luôn là cớ gây chia rẽ giữa các nhà chức trách tôn giáo ở Giê-ru-sa-lem. Thế nhưng vẫn có những người âm thầm theo làm môn đệ Chúa Giê-su như: ông Ni-cô-đê-mô (x. Ga 7,50) thuộc nhóm Pha-ri-sêu và ông Giô-xếp người A-ri-ma-thê (x. Ga 19,38-39); cho nên, trước ngày Người chịu khổ nạn, thánh Gio-an có thể nói về họ rằng: “Ngay cả trong giới lãnh đạo Do-thái cũng có nhiều người đã tin vào Đức Giê-su. Nhưng họ không dám xưng ra, vì sợ bị nhóm Pha-ri-sêu khai trừ khỏi hội đường” (Ga 12,42). Điều này không có gì lạ, vì sau lễ Hiện Xuống “có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin” (Cv 6,7) và “có những người thuộc phái Pha-ri-sêu đã trở thành tín hữu” (Cv 15,5), đến nỗi thánh Gia-cô-bê có thể nói với thánh Phao-lô rằng: “Có hàng vạn người Do-thái đã tin theo và tất cả đều nhiệt thành đối với Luật Mô-sê” (Cv 21,20).

596 1753. Các nhà chức trách tôn giáo ở Giê-ru-sa-lem đã không nhất trí với nhau trong cách xử sự đối với Đức Giê-su (x. Ga 9,16; 10,19). Nhóm Pha-ri-sêu dọa khai trừ những ai theo Người (x. Ga 9,22). Với những người sợ rằng “mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rô-ma sẽ đến phá hủy cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta” (Ga 11,48), thượng tế Cai-pha đã nói tiên tri khi đề nghị: “Điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11,49-50). Thượng Hội Đồng tuyên bố Đức Giê-su “đáng chết” (Mt 26,66) vì tội phạm thượng, nhưng vì đã mất quyền xử tử (x. Ga 18,31), Thượng Hội Đồng đã nộp Đức Giê-su cho người Rô-ma, tố cáo Người về tội xách động chính trị, và liệt Người đồng hàng với Ba-ra-ba và bị tố cáo là “phiến loạn” (Lc 23,19). Các thượng tế cũng đưa ra những lời đe dọa chính trị như vậy để buộc Phi-la-tô kết án tử hình Đức Giê-su (x. Ga 19,12.15.21).

Người Do-thái không phải chịu trách nhiệm tập thể về cái chết của Đức Giê-su

597 1735. Vì tính cách phức tạp về lịch sử trong vụ án Chúa Giê-su được các Tin Mừng thuật lại, cũng như lỗi lầm cá nhân của những người tra tay vào vụ án (Giu-đa, Thượng Hội Đồng, Phi-la-tô). Chỉ mình Thiên Chúa biết, nên chúng ta không thể quy trách nhiệm của tội đó cho toàn thể người Do-thái ở Giê-ru-sa-lem, mặc dù đám đông có bị xúi giục la ó (x. Mc 15,11), và trong những bài giảng kêu gọi hoán cải sau lễ Hiện Xuống (x. Cv 2,23.36; 3,13-14; 4,10; 5,30; 7,52; 10,39; 13,27 28; 2 Tx 2,14-15), các tông đồ có trách móc cả tập thể người Do-thái đi nữa. Chính Đức Giê-su trên thập giá đã tha thứ cho họ rồi (x. Lc 23,34), sau đó thánh Phê-rô cũng coi những người Do-thái ở Giê-ru-sa-lem và cả các thủ lãnh của họ đã hành động vì “không biết” (Cv 3,17). Chúng ta lại càng không thể dựa trên tiếng hò hét của dân chúng: “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi!” (Mt 27,25), chỉ có nghĩa như một công thức thừa nhận bản án (x. Cv 5,28; 18,6), mà nới rộng trách nhiệm cho những người Do thái khác mọi thời và mọi nơi:

839. Hội Thánh tuyên bố tại Công đồng Va-ti-ca-nô II: “Không thể quy trách nhiệm một cách hàm hồ những tội ác đã phạm trong khi Đức Giê-su bị khổ nạn cho hết mọi người Do-thái thời đó, cũng như cho người Do-thái thời nay,… Từ Thánh Kinh (x. NA 4), không thể rút ra kết luận: “Thiên Chúa đã loại bỏ người Do-thái hoặc đã chúc dữ họ.”

Mọi tội nhân đều là thủ phạm gây ra cuộc khổ nạn của Đức Ki-tô

598. Qua Huấn quyền của mình và chứng từ của các thánh, Hội Thánh không bao giờ quên rằng chính những “tội nhân là thủ phạm và cộng tác viên gây ra những cực hình mà Chúa Cứu Thế phải chịu” (CR 1,5,11; x. Dt 12,3). Vì tội lỗi chúng ta xúc phạm đến chính Đức Ki-tô (x. Mt 25,45; Cv 9,4-5), nên Hội Thánh không ngần ngại quy cho các Ki-tô hữu trách nhiệm nặng nhất về cực hình Đức Giê-su phải chịu, trách nhiệm mà họ thường trút đổ trên người Do-thái mà thôi:

1851. Chúng ta phải coi những kẻ sa đi ngã lại trong tội lỗi là những người đã phạm lỗi tày trời ấy. Bởi lẽ, chính tội ác của chúng ta đã làm Đức Giê-su Ki-tô phải chịu khổ hình thập giá, thì chắc chắn rằng những ai chìm đắm trong gian tà cũng “đã tự tay đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa và đã công khai sỉ nhục Người” (Dt 6,6). Và phải nhìn nhận rằng, tội ác của chúng ta trong trường hợp này nặng hơn tội của người Do-thái. Vì theo thánh Phao-lô, “nếu biết, họ đã chẳng đóng đinh Đức Chúa hiển vinh vào thập giá” (1 Cr 2,8). Trái lại, chúng ta tuyên xưng rằng chúng ta biết Người, nên khi chúng ta chối bỏ Người bằng những hành động, có thể nói rằng chúng ta đã tra tay giết Người (CR 1,5,11).

Không phải ma quỷ đóng đinh Chúa Kitô, nhưng chính anh em đã và đang vẫn đóng đinh Người, khi anh em đắm chìm trong tội lỗi và nết xấu của anh em.[1]

II. CÁI CHẾT CỨU CHUỘC CỦA ĐỨC KI-TÔ TRONG Ý ĐỊNH CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA

“Đức Giê-su bị nộp theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước”

599 517. Cái chết đau thương của Đức Giê-su không phải là hậu quả ngẫu nhiên do các hoàn cảnh bất ngờ hợp lại. Điều này thuộc về mầu nhiệm của ý định Thiên Chúa, như thánh Phê-rô giải thích cho người Do-thái ở Giê-ru-sa-lem ngay từ bài giảng đầu tiên trong ngày lễ Hiện Xuống: “Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giê-su ấy đã bị nộp” (Cv 2,23). Kinh Thánh nói như vậy không có nghĩa là những kẻ đã “nộp” Đức Giê-su (Cv 3,13) chỉ thụ động nhập vai trong một kịch bản do Thiên Chúa viết trước.

600 312. Đối với Thiên Chúa mọi thời điểm đều là hiện tại. Khi tiền định một điều gì đó trong kế hoạch vĩnh cửu, Người cũng “tiền định” tùy theo quyền của mỗi người tự do đáp trả ân sủng của Người: “Đúng vậy, Hê-rô-đê, Phong-xi-ô Phi-la-tô, cùng với chư dân và dân Ít-ra-en đã toa rập trong thành này, chống lại tôi tớ thánh của Ngài là Đức Giê-su, Đấng Ngài đã xức dầu. (x. Tv 2,1-2) Như thế họ đã thực hiện tất cả những gì quyền năng và ý muốn của Ngài đã định trước” (Cv 4,27-28). Thiên Chúa cho phép xảy ra những hành vi do sự mù quáng của họ (x. Mt 26,54; Ga 18,36; 19,11), để thực hiện ý định cứu độ của Người (x. Cv 3,17-18).

“Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh”

601 652 713. Ý định cứu độ của Thiên Chúa là giải thoát con người khỏi nô lệ tội lỗi nhờ cái chết của “Người Tôi Trung, Đấng Công Chính” (Is 53,11) (x. Cv 3,14), ý định này đã được báo trước trong Kinh Thánh như là mầu nhiệm cứu chuộc phổ quát (x. Is 53,11-12; Ga 8,34-36). Thánh Phao-lô tuyên xưng đức tin mà ngài đã “lãnh nhận” (1 Cr 15,3): “Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh.” Sự chết mang lại ôn cứu chuộc của Đức Ki-tô hoàn thành một cách đặc biệt lời tiên tri về Người Tôi Trung đau khổ (x. Is 53,7-8; Cv 8,32-35). Chính Chúa Giê-su đã trình bày ý nghĩa cuộc đời và sự chết của Người dưới ánh sáng về Người Tôi Trung đau khổ (x. Mt 20,28). Sau khi Người sống lại, Người đã giải thích Kinh Thánh như vậy cho các môn đệ Em-mau (x. Lc 24,25-27), rồi cho chính các Tông Đồ (x. Lc 24,44-45).

“Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta”

602 400 519. Vì thế, thánh Phê-rô có thể trình bày đức tin tông truyền về ý định cứu độ của Thiên Chúa như sau: “Anh em hãy biết rằng không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại. Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Ki-tô. Người là Đấng Thiên Chúa đã biết từ trước, khi vũ trụ chưa được dựng nên, và Người đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này” (1 Pr 1,18-20). Con người phải chết vì những tội lỗi xuất phát từ nguyên tội (x. Rm 5,12; 1 Cr 15,56). Khi cử chính Con Một Người đến trong thân phận tôi đòi (x. Pl 2,7), thân phận loài người sa đọa và phải chết vì tội lỗi (x. Rm 8,3), Thiên Chúa vì chúng ta, đã biến Đức Ki-tô, “Đấng chẳng hề biết tội là gì”, “thành hiện thân của tội lỗi, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (x. 2 Cr 5,21).

603. Vì không hề phạm tội, Đức Giê-su không bao giờ bị Thiên Chúa ruồng bỏ (x. Ga 8,46). Nhưng trong tình yêu cứu chuộc hằng kết hợp Người với Chúa Cha (x. Ga 8,29), Người đã đảm nhận lấy chúng ta, những kẻ đang vì tội lỗi mà lạc đường lìa xa Thiên Chúa, đến độ trên thập giá, Người có thể thốt lên thay chúng ta: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34; Tv 22,1). Vì đã muốn liên kết Đức Ki-tô với chúng ta là những kẻ tội lỗi, nên “đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha [tiếc], nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta” (Rm 8,32), để chúng ta, nhờ cái chết của Con Một Thiên Chúa, mà “được hòa giải với Người” (Rm 5,10).

Vì yêu thương, Thiên Chúa đi bước trước để cứu chuộc mọi người

604 211 2009 1825. Khi trao nộp Con của Người vì tội lỗi chúng ta, Thiên Chúa cho thấy ý định yêu thương của Người đi trước mọi công trạng của chúng ta: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10) (x. 4,19). “Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,8).

605 402 634 2793. Tình thương này không loại trừ một ai, Đức Giê-su nhắc lại điều này để kết luận dụ ngôn về con chiên lạc: “Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,14). Người khẳng định sẽ “hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28). Thuật ngữ này không có ý thu hẹp, nhưng đối chiếu toàn thể nhân loại đông đảo với một mình Đấng Cứu Độ, Đấng tự hiến để cứu chuộc muôn người (x. Rm 5,18-19). Nối gót các tông đồ, Hội Thánh dạy rằng: (x. 2 Cr 5,15; 1 Ga 2,2) Đức Ki-tô đã chết cho hết thảy mọi người không trừ một ai. “Trước kia, hiện nay cũng như sau này, không có một ai mà Đức Giê-su không chịu chết cho họ” (x. DS 624).

III. ĐỨC KI-TÔ ĐÃ HIẾN DÂNG CHÍNH MÌNH CHO CHÚA CHA VÌ TỘI LỖI CHÚNG TA

Cả cuộc đời Đức Ki-tô là của lễ dâng hiến Chúa Cha

606 517 536. Con Thiên Chúa, Đấng “tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý Người, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai Người” (x. Ga 6,38), khi vào trần gian, đã nói: “… Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài… Theo ý đó, chúng ta được thánh hóa nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ” (Dt 10,5-10). Ngay từ giây phút đầu tiên khi nhập thể, Chúa Con sống chết với ý định cứu độ của Thiên Chúa trong sứ vụ cứu thế của mình: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34). Lễ hy sinh của Đức Giê-su “đền bù… tội lỗi cả thế gian” (1 Ga 2,2) là cách diễn tả sự thông hiệp tình yêu với Chúa Cha: “Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,17). “Chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy” (Ga 14,31).

607 457. Ước muốn sống chết với ý định yêu thương cứu chuộc của Chúa Cha là động lực cho cả cuộc đời Đức Giê-su (x. Lc 12,50; 22,15; Mt 16,21-23), vì cuộc khổ nạn cứu thế là lý do khiến Người nhập thể: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến” (Ga 12,27). “Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” (Ga 18,11). Và trên thập giá, trước khi mọi sự “hoàn tất” (Ga 19,30), Người còn nói: “Tôi khát!” (Ga 19,28).

“Chiên xóa bỏ tội trần gian”

608 523 517. Sau khi chấp nhận ban phép rửa cho Đức Giê- su giữa những kẻ tội lỗi (x. Lc 3,21; Mt 3,14-15), Gio-an Tẩy Giả đã thấy và giới thiệu Người: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29) (x. Ga 1,36). Như vậy, ông cho thấy rằng Đức Giê-su vừa là Người Tôi Trung đau khổ, im lặng khi bị đem đi làm thịt (Is 53,7) (x. Gr 11,19) và mang lấy tội muôn người (x. Is 53,12), vừa là Chiên Vượt Qua, biểu tượng cho việc Ít-ra-en được cứu chuộc trong cuộc Vượt Qua lần đầu (Xh 12,3-14) (x. Ga 19,36; 1 Cr 5,7). Toàn bộ cuộc đời của Đức Ki-tô diễn tả sứ mạng của Người là “phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45).

Đức Giê-su tự nguyện ôm lấy tình yêu cứu chuộc của Chúa Cha

609 478 515 272 539. Khi ôm lấy tình yêu của Chúa Cha dành cho con người bằng trọn trái tim nhân loại của mình, Đức Giê-su đã “yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1) vì “không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Như vậy, trong đau khổ và cái chết, nhân tính của Người đã trở thành khí cụ tự do và hoàn hảo cho tình yêu Thiên Chúa, tình yêu muốn cứu chuộc loài người (x. Dt 2,10,17-18; 4,15; 5,7-9). Quả vậy Người đã tự do chấp nhận chịu nạn và chịu chết vì yêu mến Chúa Cha và yêu mến loài người mà Chúa Cha muốn cứu độ: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Do đó, Chúa Con đã tự do tột bậc khi hiến thân chịu chết (x. Ga 18,4-6; Mt 26,53).

Trong bữa Tiệc Ly, Đức Giê-su đã thực hiện trước việc tự do hiến dâng mạng sống mình

610 766 1337. “Trong đêm bị nộp” (1 Cr 11,23), Đức Giê-su đã diễn tả hết sức rõ ràng việc tự hiến bản thân mình, tại bữa tiệc với mười hai tông đồ (x. Mt 26,20). Hôm trước ngày chịu nạn, khi còn hoàn toàn tự do, Đức Giê-su đã biến bữa Tiệc Ly với các tông đồ thành lễ tưởng niệm việc Người tự nguyện hiến dâng cho Chúa Cha (x. 1 Cr 5,7) để cứu độ nhân loại: “Đây là Mình Thầy hiến tế vì anh em” (Lc 22,19). “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28).

611 1364 1341 1566. Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giê-su thiết lập sẽ là việc “tưởng nhớ” (1 Cr 11,25) hy tế của Người. Người hội nhập các tông đồ vào lễ hiến dâng của Người và yêu cầu họ lưu truyền hy lễ này mãi mãi (x. Lc 22,19). Như thế, Đức Giê-su đặt các tông đồ làm tư tế Giao Ước mới: “Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến” (Ga 17,19) (x. DS 1752; 1764).

Cơn hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-ni

612 533 2600 1009. Chén Giao Ước mới mà Đức Giê-su đã dâng trước trong bữa Tiệc Ly, giờ đây, Người lãnh nhận từ tay Cha trong cơn hấp hối tại Ghết-sê-ma-ni (x. Mt 26,42), khi Người “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết” (Pl 2,8; Dt 5,7-8). Đức Giê-su cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này…” (Mt 26,39). Người diễn tả nỗi khiếp sợ mà nhân tính của Người cảm nghiệm trước cái chết. Thật vậy, nhân tính của Đức Giê-su cũng như của chúng ta, được Thiên Chúa dựng nên để sống đời đời, nhưng khác với chúng ta, nhân tính này hoàn toàn không có tội (x. Dt 4,15), mà tội mới gây nên sự chết (x. Rm 5,12); nhất là nhân tính này đã được Ngôi Vị Thiên Chúa của “Đấng khơi nguồn sự sống” (Cv 3,15), “Đấng Hằng Sống” (Kh 1,18) (x Ga 1,4; 5,26) đảm nhận. Với ý chí nhân loại, Đức Giê-su chấp nhận thánh ý Chúa Cha (x. Mt 26,42), đón nhận cái chết để cứu độ con người, nhờ đó “tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá” (1 Pr 2,24).

Cái chết của Đức Giê-su là hy lễ duy nhất và chung cuộc

613 1366 2009. Đức Ki-tô chịu chết vừa là hy tế Vượt Qua hoàn tất việc cứu độ chung cuộc loài người (x. 1 Cr 5,7; Ga 8,34-36) nhờ “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29) (x. 1 Pr 1,19), vừa là hy tế của Giao Ước Mới (x. 1 Cr 11,25) cho con người hiệp thông trở lại với Thiên Chúa ( x. Xh 24,8), bằng cách giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ “máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28) (x. Lv 16,15-16).

614 529 1330 2100. Hy tế của Đức Ki-tô là duy nhất, nó hoàn tất và trổi vượt trên mọi hy tế (x. Dt 10,10). Trước hết, hy tế này là một hồng ân của chính Chúa Cha, khi Chúa Cha trao nộp Con Mình để giao hòa chúng ta với Người (x. 1 Ga 4,10). Đồng thời, cũng là sự dâng hiến của Chúa Con làm người, Đấng, với sự tự do và tình yêu (x. Ga 15,13), đã hiến dâng mạng sống mình (x. Ga 10,17-18) cho Cha của Người nhờ Chúa Thánh Thần (x. Dt 9,14), để đền bù sự bất tuân của chúng ta.

Đức Giê-su thay thế sự bất tuân của chúng ta bằng sự vâng phục của Người

615 1850 433 411. “Cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính” (Rm 5,19). Nhờ vâng phục cho đến chết, Đức Giê-su đảm nhận hoàn toàn vai trò Người Tôi Trung đau khổ, Đấng “hiến thân làm lễ vật đền tội” khi “mang lấy tội muôn người”, và là Đấng “sẽ làm cho muôn người nên công chính” (Is 53,10-12). Đức Giê- su đã đền bù và đền tạ thỏa đáng cho Chúa Cha vì tội lỗi của chúng ta (DS 1529).

Đức Giê-su hoàn tất hy lễ của Người trên thập giá

616 478 468 519. Vì Đức Giê-su đã “yêu thương đến cùng” (Ga 13,1), nên hy tế của Người có giá trị cứu chuộc và đền bù, xá tội và đền tạ. Người biết và thương yêu hết thảy chúng ta trong việc hiến dâng mạng sống của Người (x. Ga 2,20; Ep 5,2.25). “Tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng: nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết” (2 Cr 5,14). Không ai, dù thánh thiện nhất, có thể gánh hết tội lỗi mọi người và hiến mình làm hy lễ cho mọi người. Nơi Đức Ki-tô, sự hiện hữu của Ngôi Vị Chúa Con vừa trổi vượt vừa bao gồm tất cả nhân vị, khiến Người làm Đầu của toàn thể nhân loại, và làm cho hy tế của Người có giá trị cứu chuộc cho tất cả mọi người.

617 1992 1235. Nhấn mạnh đến hy lễ duy nhất của Đức Ki-tô như “nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu” (Dt 5,9), Công đồng Tren-tô dạy (DS 1529): “Nhờ cuộc khổ nạn trên cây thập giá, Đức Ki-tô công chính hóa chúng ta”. Và khi tôn kính Thánh Giá, Hội Thánh ca ngợi: “Ôi Thánh Giá, nguồn cậy trông duy nhất của chúng con!”

Đức Ki-tô cho chúng ta tham dự vào hy tế của Người

618 1368 1460 307 2100 964. Thánh Giá là hy tế duy nhất của Đức Ki-tô, “Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người” (x. 1 Tm 2,5). Nhưng, vì khi nhập thể, Con Thiên Chúa “đã kết hợp với tất cả mọi người” (GS 22,2), nên đã “ban cho mọi người khả năng được thông phần vào mầu nhiệm Vượt Qua, theo cách Thiên Chúa biết” (GS 22,5). Người mời gọi môn đệ “vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24), vì “Đức Ki-tô đã chịu đau khổ vì (chúng ta), để lại một gương mẫu cho (chúng ta) dõi bước theo Người” (1 Pr 2,21). Thật vậy, Người muốn cho những kẻ đầu tiên được hưởng nhờ hy tế đó, cùng thông phần vào hy tế cứu độ của Người (x. Mc 10,39; Ga 21,18-19; Cl 1,24). Điều ấy được thể hiện cách cao cả nhất nơi Mẹ Người, Đấng đã thông phần vào mầu nhiệm đau thương cứu độ của Người mật thiết hơn bất cứ ai khác (x. Lc 2,35):

Ngoài thập giá, không có chiếc thang nào khác để lên trời” (Thánh Rô-sa Li-ma).

TÓM LƯỢC

619. Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh” (1 Cr 15,3).

620. Vì yêu mến, Thiên Chúa đã đi bước trước để cứu độ chúng ta. “Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10). “Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người” (2 Cr 5,19).

621. Đức Giê-su đã tự hiến một cách tự do để cứu độ chúng ta. Người cho thấy ý nghĩa và thể hiện trước sự tự hiến này trong bữa Tiệc Ly: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em” (Lc 22,19).

622. Đức Ki-tô cứu chuộc nhân loại bằng cách “hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28), nghĩa là “yêu thương [những kẻ thuộc về mình] đến cùng” (Ga 13,1), để “cứu thoát [họ] khỏi lối sống phù phiếm do cha ông truyền lại” (1 Pr 1,18).

623. Nhờ yêu thương vâng phục Chúa Cha “đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự” (Pl 2,8), Đức Giê-su hoàn tất sứ mạng đền tội của Người Tôi Trung đau khổ, “làm cho muôn người nên công chính và gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53,11; x.Rm 5,19).


Chú thích

[1] Thánh Phan-xi-cô Assisi Admonitio (Khuyến dụ) 5,3.