Tiết 2. Đức Giê-su chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá (Giáo lý số 595 – 623)

I. VỤ ÁN ĐỨC GIÊ-SU

Chia rẽ giữa các nhà chức trách Do-thái về Đức Giê-su

595. Đức Giê-su luôn là cớ gây chia rẽ giữa các nhà chức trách tôn giáo ở Giê-ru-sa-lem. Thế nhưng vẫn có những người âm thầm theo làm môn đệ Chúa Giê-su như: ông Ni-cô-đê-mô (x. Ga 7,50) thuộc nhóm Pha-ri-sêu và Gio-sép thành A-ri-ma-tha (x. Ga 19,38-39); cho nên trước ngày Người chịu khổ nạn, thánh Gio-an có thể nói về họ rằng: “Ngay cả trong giới lãnh đạo Do-thái, cũng có nhiều người đã tin vào Đức Giê-su, nhưng họ không dám xưng ra, kẻo bị khai trừ khỏi Hội Đường” (Ga 12,42). Điều này không có gì lạ, vì sau lễ Hiện Xuống “có nhiều tư tế đón nhận đức tin” (Cv 6,7) và “có những người nhóm Pha-ri-sêu đã trở thành tín hữu” (Cv 15,5), đến nỗi thánh Gia-cô-bê có thể nói với thánh Phao-lô rằng: “Có hàng vạn người Do-thái đã tin theo và tất cả đều nhiệt thành đối với luật Mô-sê” (Cv 21,20).

596 1753. Các nhà chức trách tôn giáo ở Giê-ru-sa-lem đã không nhất trí với nhau trong cách xử sự đối với Đức Giê- su (x. Ga 9,16; 10,19). Nhóm Pha-ri-sêu dọa tuyệt thông những ai theo Người (x. Ga 9,22). Với những người sợ rằng “mọi người sẽ tin vào Đức Giê-su, rồi người Rô-ma sẽ đến phá hủy cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta” (Ga 11,48), Thượng Tế Cai-pha đã nói tiên tri khi đề nghị: “Điều có lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân, còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11,49-50). Thượng Hội Đồng tuyên bố Đức Giê-su “đáng chết” (Mt 26,66) vì tội phạm thượng, nhưng vì đã mất quyền xử tử (x. Ga 18,31), Thượng Hội Đồng đã nộp Đức Giê-su cho người Rô-ma, tố cáo Người về tội xách động chính trị, và liệt Người đồng hàng với Ba-ra-ba và bị tố cáo là “phiến loạn” (Lc 23,19). Các thượng tế cũng đưa ra những lời đe dọa chính trị như vậy để buộc Phi-la-tô kết án tử hình Đức Giê-su (x. Ga 19,12.15,21).

Người Do-thái không phải chịu trách nhiệm tập thể về cái chết của Đức Giê-su

597 1735. Vì tính cách phức tạp về lịch sử trong vụ án Chúa Giê-su được các Tin Mừng thuật lại, cũng như lỗi lầm cá nhân của những người tra tay vào vụ án (Giu-đa, Thượng Hội Đồng, Phi-la-tô). Chỉ mình Thiên Chúa biết, nên chúng ta không thể quy trách nhiệm của tội đó cho toàn thể người Do-thái ở Giê-ru-sa-lem, mặc dù đám đông có bị xúi giục la ó (x. Mc 15,11), và trong những bài giảng kêu gọi hoán cải sau lễ Hiện Xuống (x. Cv 2,23.36; 3,13-14; 4,10; 5,30; 7,52; 10,39; 13,27 28; 2 Tx 2,14-15), các tông đồ có trách móc cả tập thể người Do-thái đi nữa. Chính Đức Giê-su trên thập giá đã tha thứ cho họ rồi (x. Lc 23,34), sau đó thánh Phê-rô cũng coi những người Do-thái ở Giê- ru-sa-lem và cả các thủ lãnh của họ đã hành động vì “không biết” (Cv 3,17). Chúng ta lại càng không thể dựa trên tiếng hò hét của dân chúng: “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi” (Mt 27,25), chỉ có nghĩa như một công thức thừa nhận bản án (x. Cv 5,28; 18,6), mà nới rộng trách nhiệm cho những người Do thái khác mọi thời và mọi nơi:

839. Hội Thánh tuyên bố tại Công đồng Va-ti-ca-nô II: “Không thể quy trách nhiệm một cách hàm hồ những tội ác đã phạm trong khi Đức Giê-su bị khổ nạn cho hết mọi người Do-thái thời đó, cũng như cho người Do-thái thời nay,… Từ Thánh Kinh (x. NA 4), không thể rút ra kết luận: “Thiên Chúa đã loại bỏ người Do-thái hoặc đã chúc dữ họ.”

Mọi kẻ tội lỗi là thủ phạm gây ra cuộc khổ nạn của Đức Ki-tô

598. Qua Huấn quyền của mình và chứng từ của các thánh, Hội Thánh không bao giờ quên rằng chính những “kẻ phạm tội là thủ phạm và như là dụng cụ thực hiện những cực hình mà Chúa Cứu Thế phải chịu” (Giáo lý Rô-ma 1,5.11; x. Dt 12,3). Vì tội lỗi chúng ta xúc phạm đến chính Đức Ki-tô (x. Mt 25,45; Cv 9,4-5), nên Hội Thánh không ngần ngại quy cho các Ki-tô hữu trách nhiệm nặng nhất về cực hình Đức Giê-su phải chịu, trách nhiệm mà họ thường trút đổ trên người Do-thái mà thôi:

1851. Chúng ta phải coi những kẻ sa đi ngã lại trong tội lỗi là những người đã phạm lỗi tầy trời ấy. Bởi lẽ, chính tội ác của chúng ta đã làm Đức Giê-su Ki-tô phải chịu khổ hình thập giá, thì chắc chắn rằng những ai chìm đắm trong gian tà cũng “tự tay đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa, và đã công khai sĩ nhục Người” (Dt 6,6). Và phải nhìn nhận rằng, tội ác của chúng ta trong trường hợp này nặng hơn tội của người Do-thái. Vì theo thánh Phao-lô, “nếu họ đã được biết Vua vinh hiển, họ đã chẳng đóng đinh Người vào thập giá” (1 Cr 2,8). Trái lại, chúng ta tuyên xưng rằng chúng ta biết Người, nên khi chúng ta chối bỏ Người bằng những hành động, có thể nói được rằng chúng ta đã tra tay giết Người (Giáo lý Rô-ma 1,5,11).

Không phải quỷ dữ đã đóng đinh Người trên thập giá; chính bạn cùng với chúng đã đóng đinh Người vào thập giá; và còn đang đóng đinh Người nữa, khi bạn thích thú trong thói xấu và tội lỗi (Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di, khuyến dụ 5,3).

II. CÁI CHẾT CỨU CHUỘC CỦA ĐỨC KI-TÔ TRONG Ý ĐỊNH CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA

“Đức Giê-su đã bị nộp theo ý định của Thiên Chúa”

599 517. Cái chết đau thương của Đức Giê-su không phải là hậu quả của ngẫu nhiên do các hoàn cảnh bất ngờ hợp lại. Điều này thuộc về mầu nhiệm của ý định Thiên Chúa, như thánh Phê-rô giải thích cho người Do-thái ở Giê-ru-sa-lem ngay từ bài giảng đầu tiên trong ngày lễ Hiện Xuống: “Người đã bị nộp theo ý Thiên Chúa đã định và biết trước” (Cv 2,23). Kinh Thánh nói như vậy không có nghĩa là những kẻ đã “nộp Đức Giê-su” (Cv 3,13) chỉ thụ động nhập vai trong một kịch bản do Thiên Chúa đã viết trước.

600 312. Đối với Thiên Chúa mọi thời điểm đều là hiện tại. Khi tiền định một điều gì đó trong kế hoạch vĩnh cửu, Người cũng “tiền định” tùy theo quyền của mỗi người tự do đáp trả ân sủng của Người: “Đúng vậy, Hê-rô-đê, Phong-xi-ô Phi-la-tô, cùng với các dân ngoại và dân chúng Ít-ra-en đã toa rập trong thành này, chống lại tôi tớ thánh của Người là Đức Giê-su, Đấng Người đã xức dầu. (x. Tv 2,1-2) Như thế họ đã thực hiện tất cả những gì quyền năng và sự khôn ngoan của Người đã định trước” (Cv 4,27-28). Thiên Chúa cho phép xảy ra những hành vi do sự mù quáng của họ (x. Mt 26,54; Ga 18,36;19,11), để thực hiện ý định cứu độ của Người (x. Cv 3,17-18).

“Chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Thánh Kinh”

601 652 713. Ý định cứu độ của Thiên Chúa là giải thoát con người khỏi nô lệ tội lỗi nhờ cái chết của “Người Tôi Tớ, Đấng Công Chính” (Is 53,11) (x. Cv 3,14), ý định này đã được báo trước trong Kinh Thánh như là mầu nhiệm cứu chuộc phổ quát (x. Is 53,11-12; Ga 8,34-36). Thánh Phao-lô tuyên xưng đức tin mà Người đã “lãnh nhận” (1 Cr 15,3): “Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, “Vì chúng ta, Thiên Chúa đã coi Người như hiện thân của tội lỗi”

602 400 519. Vì thế, thánh Phê-rô có thể trình bày đức tin tông truyền về ý định cứu độ của Thiên Chúa như sau: “Anh em đã được giải thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại. Anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tì tích, là Đức Ki-tô. Người là Đấng Thiên Chúa đã biết từ trước khi chưa có vũ trụ, và đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này” (1 Pr 1,18-20). Con người phải chết vì những tội lỗi xuất phát từ nguyên tội (x. Rm 5,12; 1 Cr 15,56). Khi cử chính Con Một Người đến trong thân phận tôi đòi (x. Pl 2,7), thân phận loài người sa đọa và phải chết vì tội lỗi (x. Rm 8,3), “Thiên Chúa vì chúng ta, đã coi Đức Ki-tô, Đấng không hề biết tội là gì, như hiện thân của tội lỗi, để trong Người, chúng ta được trở nên công chính trước mặt Thiên Chúa” (2 Cr 5,21).

603. Vì không hề phạm tội, Đức Giê-su không bao giờ bị Thiên Chúa ruồng bỏ (x. Ga 8,46). Đức Giê-su đã đón nhận chúng ta trong tình yêu cứu chuộc hằng liên kết Người với Chúa Cha (x. Ga 8,29), cho đến độ Người xem như bị tách lìa Thiên Chúa vì tội chúng ta, nên Người thay chúng ta mà thốt lên trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Chúa nỡ bỏ con!” (Mc 15,34;Tv 22,1). Vì đã muốn liên kết Đức Ki-tô với chúng ta là những kẻ tội lỗi, nên Thiên Chúa “đã chẳng dung tha, nhưng đã trao nộp chính Con Một của Người vì hết thảy chúng ta” (Rm 8,32), để chúng ta “được hòa giải với Người nhờ cái chết của Con Một Người” (Rm 5,10).

Vì yêu thương, Thiên Chúa đi bước trước để cứu chuộc mọi người

604 211 2009 1825. Khi trao nộp Con của Người vì tội lỗi chúng ta, Thiên Chúa cho thấy ý định yêu thương của Người đi trước mọi công trạng của chúng ta: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, và đã cử Con của Người đến hy sinh làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10) (x. 4,19). “Bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, là Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là tội nhân” (Rm 5,8).

605 402 634 2793. Tình thương này không loại trừ một ai, Đức Giê-su nhắc lại điều này để kết luận dụ ngôn về con chiên lạc: “Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,14). Người khẳng định “sẽ hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28). Thuật ngữ này không có ý thu hẹp số người được cứu độ, nhưng chỉ muốn đối chiếu toàn thể nhân loại đông đảo với một mình Đấng Cứu Độ, tự hiến để cứu chuộc muôn người (x. Rm 5,18-19). Hội Thánh nối gót các tông đồ dạy rằng: (x. 2 Cr 5,15; 1 Ga 2,2) Đức Ki-tô đã chết cho hết thảy mọi người không trừ một ai. “Trước kia, hiện nay cũng như sau này, không có một ai mà Đức Giê-su không chịu chết cho họ” (x. Công đồngQuierey năm 853: DS 624).

III. ĐỨC KI-TÔ ĐÃ HIẾN DÂNG CHÍNH MÌNH CHO CHÚA CHA VÌ TỘI LỖI CHÚNG TA

Tất cả cuộc sống của Đức Ki-tô là của lễ dâng hiến Chúa Cha

606 517 536. Con Thiên Chúa, Đấng “từ trời xuống, không phải để làm theo ý Người, nhưng để làm theo ý Đấng đã cử Người” (Ga 6,38),”khi vào trần gian, Người nói:,… Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài,… Chính theo ý đó của Thiên Chúa, mà chúng ta được thánh hóa nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ” (Dt 10,5-10). Ngay từ phút đầu tiên khi nhập thể, Chúa Con sống chết với ý định cứu độ của Thiên Chúa trong sứ vụ cứu thế của mình: “Lương thực nuôi sống Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất tốt đẹp công trình của Người” (Ga 4,34). Lễ hy sinh của Đức Giê-su “đền bù tội lỗi cả thế gian” (1 Ga 2,2) là cách diễn tả sự thông hiệp tình yêu với Chúa Cha: “Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, chính vì tôi hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,17). “Thế gian phải biết rằng tôi yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho tôi” (Ga 14,31).

607 457. Ước muốn sống chết với ý định yêu thương cứu chuộc của Chúa Cha là động lực cho cả cuộc đời Đức Giê-su (x. Lc 12,50; 22,15; Mt 16,21-23), vì cuộc khổ nạn cứu thế là lý do khiến Người nhập thể: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này! Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến” (Ga 12,27). “Chén đắng Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” (Ga 18,11). Và trên Thập Giá, trước khi “mọi sự đã hoàn tất” (Ga19,30), Người còn nói: “Tôi khát!” (Ga 19,28).

“Chiên con xóa bỏ tội trần gian”

608 523 517. Sau khi chấp nhận ban phép rửa cho Đức Giê- su giữa những kẻ tội lỗi (x. Lc 3,21; Mt 3,14-15), Gio-an Tẩy Giả đã thấy và giới thiệu Người: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29) (x. Ga 1,36). Như vậy ông cho thấy rằng Đức Giê-su vừa là Người Tôi Tớ đau khổ, im lặng chịu dẫn đến lò sát sinh (Is 53,7) (x. Gr 11,19) và gánh tội lỗi muôn dân (x. Is 53,12), vừa là Chiên Vượt Qua biểu tượng cho việc Ít-ra-en được cứu chuộc trong cuộc Vượt Qua lần đầu (Xh 12,3-14) (x. Ga 19,36; 1 Cr 5,7). Toàn bộ cuộc đời của Đức Ki-tô diễn tả sứ mạng của Người là “hầu hạ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45).

Đức Giê-su tự nguyện sống chết theo tình thương cứu chuộc của Chúa Cha

609 478 515 272 539. Khi sống chết với tình thương của Chúa Cha dành cho con người bằng trọn trái tim nhân loại của mình, Đức Giê-su “đã thương yêu họ đến cùng” (Ga 13,1) “vì không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15,13). Như vậy, trong đau khổ và cái chết, nhân tính của Người đã trở thành dụng cụ tự do và hoàn hảo cho tình yêu Thiên Chúa luôn ước muốn cứu chuộc loài người (x. Dt 2,10,17-18; 4,15; 5,7-9). Quả thật, Người đã tự do chấp nhận chịu nạn và chịu chết vì yêu mến Chúa Cha và yêu mến loài người mà Chúa Cha muốn cứu độ: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Do đó, Chúa Con đã tự do tột bực khi hiến thân chịu chết (x. Ga 18,4-6; Mt 26,53).

Trong bữa Tiệc Ly, Đức Giê-su đã tự do hiến dâng mạng sống của mình trước

610 766 1337. Vào “đêm bị nộp” (1 Cr 11,23) Đức Giê-su diễn tả tột độ việc tự hiến bản thân Người trong bữa tiệc với mười hai tông đồ (x. Mt 26,20). Hôm trước ngày chịu nạn, khi còn hoàn toàn tự do, Đức Giê-su đã biến buổi Tiệc Ly với các tông đồ thành lễ tưởng niệm việc Người tự nguyện hiến dâng cho Chúa Cha (x. 1 Cr 5,7) để cứu độ nhân loại: “Đây là Mình Thầy hiến tế vì anh em” (Lc 22,19). “Đây là Máu Thầy, Máu để lập Giao ước sẽ đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28).

611 1364 1341 1566. Bí tích Thánh Thể Chúa Giê-su thiết lập sẽ là “lễ tưởng niệm” (1 Cr 11,25) hy tế của Người. Người hội nhập các tông đồ vào lễ hiến dâng của Người và yêu cầu họ lưu truyền hy lễ này mãi mãi (x. Lc 22,19). Như thế, Đức Giê-su đặt các tông đồ làm tư tế Giao Ước mới: “Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để trong chân lý, họ cũng được thánh hiến” (Ga 17,19) (x. Công đồngTrente: DS 1752;1764).

Đức Giê-su hấp hối trong vườn Giết-sê-ma-ni

612 533 2600 1009. Chén Giao Ước mới mà Đức Giê-su đã dâng trước trong bữa Tiệc Ly, giờ đây, Người lãnh nhận từ tay Cha trong cơn hấp hối tại Giết-sê-ma-ni (x. Mt 26,42), khi Người “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết” (Pl 2,8; Dt 5,7-8). Đức Giê-su cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu được, xin cho con khỏi uống chén đắng này,…” (Mt 26,39). Người diễn tả nỗi khiếp sợ mà nhân tính của Người cảm nghiệm trước cái chết. Thật vậy, nhân tính của Đức Giê-su cũng như của chúng ta được Thiên Chúa dựng nên để sống đời đời, nhưng khác với chúng ta, nhân tính này hoàn toàn không có tội (x. Dt 4,15), mà tội mới gây nên sự chết (x. Rm 5,12); nhất là nhân tính này đã được Ngôi Vị Thiên Chúa của “Đấng khơi nguồn sự sống” (Cv 3,15), “Đấng hằng sống” (Kh 1,17) (x Ga 1,4;5,26) đảm nhận. Với ý chí nhân loại, Đức Giê-su chấp nhận thánh ý Chúa Cha (x. Mt 26,42), đón nhận cái chết để cứu độ con người, nhờ đó “tội lỗi chúng ta, chính Người mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá” (1 Pr 2,24).

Đức Giê-su chịu chết làm hy lễ duy nhất và chung cuộc

613 1366 2009. Đức Ki-tô chịu chết vừa là hy tế Vượt Qua hoàn tất việc cứu độ chung cuộc loài người (x. 1 Cr 5,7; Ga 8,34-36) vì “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29) (x. 1 Pr 1,19), vừa là hy tế của Giao Ước Mới (x. 1 Cr 11,25) cho con người hiệp thông lại với Thiên Chúa ( x.Xh 24,8), bằng cách giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ “máu được đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28) (x. Lv 16,15-16).

614 529 1330 2100. Hy tế của Đức Ki-tô là duy nhất, hoàn tất và vượt trên mọi hy tế (x. Dt 10,10). Trước hết hy tế này là một hồng ân của chính Chúa Cha: Chúa Cha phó nộp Con Mình để giao hòa chúng ta với Người (x. 1 Ga 4,10). Kế đến, đây cũng là việc Chúa Con làm người, với ý chí tự do và vì mến yêu (x. Ga 15,13), hiến dâng mạng sống mình (x. Ga 10,17-18) cho Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần (x. Dt 9,14), để đền bù sự bất tuân của chúng ta.

Đức Giê-su thay thế sự bất tuân của chúng ta bằng sự vâng phục của Người

615 1850 433 411. “Cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người bị liệt vào hàng tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ được kể là công chính” (Rm 5,19). Nhờ vâng phục cho đến chết, Đức Giê-su đảm nhận hoàn toàn vai trò Người Tôi Tớ đau khổ, “hiến mạng sống mình làm Của lễ đền tội muôn dân”, “khi làm cho họ nên công chính bằng cách chính Người gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53,10-12). Đức Giê- su đã đền bù và đền tạ thỏa đáng cho Chúa Cha vì tội lỗi của chúng ta (Công đồng Tren-tô: DS 1529).

Đức Giê-su hoàn thành hy lễ của Người trên thập giá

616 478 468 519. Vì Đức Giê-su đã “yêu thương đến cùng” (Ga 13,1) nên hy tế của Người có giá trị cứu chuộc và đền bù, xá tội và đền tạ. Người biết và thương yêu hết thảy chúng ta trong việc hiến dâng mạng sống của Người (x. Ga 2,20; Ep. 5,2.25). “Tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi, khi chúng tôi nghĩ rằng: nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết” (2 Cr 5,14). Không ai, dù thánh thiện nhất, có thể gánh hết tội lỗi mọi người và hiến mình làm hy lễ cho mọi người. Vì là Con Thiên Chúa, Đức Ki-tô vừa vượt trổi vừa đồng thời bao gồm mọi người và là đầu toàn thể nhân loại, nên Người mới có thể dâng hy tế cứu chuộc mọi người.

617 1992 1235. Nhấn mạnh đến hy lễ duy nhất của Đức Ki-tô như “nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu” (Dt 5,9), Công đồng Tren-tô dạy (DS 1529): “Nhờ cuộc khổ nạn trên cây thập giá, Đức Ki-tô công chính hóa chúng ta”. Và khi tôn kính Thánh Giá, Hội Thánh ca ngợi: “Ôi Thánh Giá, nguồn cậy trông duy nhất của chúng con!”

Đức Ki-tô cho chúng ta tham dự vào hy tế của Người

618 1368 1460 307 2100 964. Thánh Giá là hy tế duy nhất của Đức Ki-tô, “Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người” (1 Tm 2,5). Nhưng, vì khi nhập thể, Con Thiên Chúa “đã kết hợp với tất cả mọi người” (GS 22,2), nên đã “ban cho mọi người khả năng được thông phần vào mầu nhiệm Vượt Qua cách nào đó chỉ có Chúa biết thôi” (GS 22,5). Người mời gọi môn đệ “vác thập giá mình mà theo Người” (Mt 16,24), vì “Người đã chịu đau khổ vì chúng ta, đã để lại một gương mẫu cho chúng ta dõi bước theo Người” (1 Pr 2,21). Thật vậy, Người muốn cho những kẻ đầu tiên được hưởng nhờ hy tế đó, cùng thông phần vào hy tế cứu độ của Người (x. Mc 10,39; Ga 21,18-19; Cl 1,24). Điều ấy được thể hiện tột bực nơi Thân Mẫu của Người, Đấng đã thông phần vào mầu nhiệm đau thương cứu độ của Người mật thiết hơn ai khác (x. Lc 2,35):

Ngoài thập giá, không có chiếc thang nào khác để lên trời” (Thánh Rô-sa thành Li-ma).

TÓM LƯỢC

619. Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Thánh Kinh” (1 Cr 15,3).

620. Vì yêu mến, Thiên Chúa đã đi bước trước để cứu độ chúng ta. “Người đã yêu thương chúng ta, và cử Con của Người đến hy sinh làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10). “Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người” (2 Cr 5,19).

621. Đức Giê-su tự hiến để cứu độ chúng ta. Người cho thấy ý nghĩa và thể hiện trước sự tự hiến này trong bữa Tiệc Thánh: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em” (Lc 22,19).

622. Đức Ki-tô cứu chuộc nhân loại bằng cách “hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28), nghĩa là “thương yêu những kẻ thuộc về mình đến cùng” (Ga 13,1), để “giải thoát họ khỏi lối sống phù phiếm do cha ông họ truyền lại” (1 Pr 1,18).

623. Nhờ yêu thương vâng phục Chúa Cha “đến nỗi chết trên cây thập giá” (Pl 2,8), Đức Giê-su hoàn tất sứ mạng đền tội của Người Tôi Tớ đau khổ, “làm cho muôn người nên công chính bằng cách gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53,11; x.Rm 5,19).