Tiết 3. Các mầu nhiệm trong cuộc đời Chúa Ki-tô (Giáo lý số 512 – 570)

512 1163. Khi đề cập đến cuộc đời của Đức Ki-tô, kinh Tin Kính chỉ nói về mầu nhiệm Nhập Thể (tượng thai và sinh ra) và mầu nhiệm Vượt Qua (khổ nạn – đóng đinh – chịu chết – mai táng – xuống ngục tổ tông – sống lại – lên trời), mà không nói cách minh nhiên về các mầu nhiệm cuộc đời ẩn dật và công khai của Đức Giê-su. Tuy nhiên, những tín điều liên quan đến Nhập Thể và Vượt Qua của Đức Giê-su lại soi sáng toàn bộ cuộc đời trần thế của Đức Ki-tô. “Tất cả những việc Đức Giê-su làm và những điều Người dạy, kể từ đầu cho tới ngày Người được rước lên trời” (Cv 1,1-2) cần phải được nhìn dưới ánh sáng các mầu nhiệm Giáng Sinh và Phục Sinh.

513 426 561. Tùy theo hoàn cảnh, huấn giáo sẽ đề cập đến tất cả sự phong phú trong các mầu nhiệm của Đức Giê-su. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên một vài điểm chung cho tất cả mọi mầu nhiệm cuộc đời của Người (I). Sau đó sẽ bàn sơ lược về các mầu nhiệm chính yếu trong cuộc đời ẩn dật (II) và công khai (III) của Đức Giê-su.

I. TOÀN BỘ CUỘC ĐỜI ĐỨC GIÊ-SU LÀ MẦU NHIỆM

514. Có nhiều điều liên quan đến Đức Giê-su mà loài người tò mò muốn biết, nhưng lại không được các Tin Mừng nói đến. Tin Mừng hầu như không nói gì về cuộc sống của Người ở Na-da-rét, và một phần lớn cuộc đời công khai của Người cũng không được nhắc đến (x. Ga 20,30). Tất cả những gì được viết ra trong các Tin Mừng là “để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,31).

515 126 609 477. Các Tin Mừng đã được những người thuộc số các tín hữu đầu tiên viết ra (x. Mc 1,1; Ga 21,24) vì muốn chia sẻ đức tin cho kẻ khác. Được nhận biết Đức Giê- su nhờ đức tin, họ thấy và chỉ cho thấy những dấu tích về mầu nhiệm của Người trong suốt thời gian Người sống trên dương thế. Từ những tấm tã lót ngày Giáng Sinh (x. Lc 2,7), cho đến chút dấm lúc chịu khổ hình (x. Mt 27,48), và tấm khăn liệm ngày Phục Sinh (x. Ga 20,7), mọi sự trong cuộc đời Đức Giê-su đều là dấu tích cho mầu nhiệm của Người. Qua những cử chỉ, phép lạ, lời nói, Người mặc khải cho biết “nơi Người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể” (Cl 2,9). Như vậy nhân tính của Người xuất hiện như một “bí tích”, nghĩa là như một dấu chỉ và công cụ cho thiên tính và ơn cứu độ Người mang lại: những gì hữu hình trong cuộc đời trần thế của Người dẫn chúng ta đến với mầu nhiệm vô hình về địa vị Con Thiên Chúa và sứ mạng cứu chuộc của Người.

Những điểm chung trong các mầu nhiệm của Đức Giê-su

516 65 2708. Toàn bộ cuộc đời Đức Ki-tô là mặc khải về Chúa Cha: những lời Người nói, những việc Người làm, những lúc Người im lặng, những đau khổ Người chịu, cách thế Người sống và giảng dạy. Đức Giê-su có thể nói: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9), và Chúa Cha nói: “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người!” (Lc 9,35). Vì Chúa Ki-tô đã làm người để chu toàn ý muốn của Chúa Cha (x. Dt 10,5-7), nên ngay cả những điểm nhỏ nhặt nhất trong các mầu nhiệm của Người đều biểu lộ cho chúng ta thấy “tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta” (1 Ga 4,9).

517 606 1115. Toàn bộ cuộc đời Đức Ki-tô là mầu nhiệm Cứu Chuộc. Ơn Cứu Chuộc đến với chúng ta trước hết nhờ Máu Người đổ ra trên Thánh Giá (x. Ep 1,7; Cl 1,13-14; 1 Pr 1,18-19), nhưng mầu nhiệm này đã hoạt động trong toàn bộ cuộc đời Đức Ki-tô: trong việc Nhập Thể, khi Ngưòi trở thành nghèo khó để lấy cái nghèo của mình làm cho chúng ta nên giàu có (x. 2 Cr 8,9); trong cuộc sống ẩn dật, khi Người vâng phục (x. Lc 2,51) để sửa lại sự bất phục tùng của chúng ta; trong lời Người nói để làm cho kẻ lắng nghe nên thanh sạch (x. Ga 15,3); trong các việc chữa bệnh và trừ qủy, “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17) (x. Is 53,4); trong việc phục sinh, để chúng ta được nên công chính (x. Rm 4,25).

518. Toàn bộ cuộc đời Đức Ki-tô là mầu nhiệm Quy tụ, tất cả mọi điều Đức Giê-su đã nói, đã làm, đã chịu,… đều hướng tới mục đích đưa con người sa ngã trở về ơn gọi ban đầu:

Khi nhập thể làm người, Đức Ki-tô đã quy tụ nơi mình toàn bộ lịch sử nhân loại và ban cho chúng ta ơn cứu độ, để những gì xưa kia chúng ta đã mất nơi A-đam, tức là không còn là hình ảnh và giống như Thiên Chúa nữa, thì nay chúng ta tìm lại được trong Đức Ki-tô Giê-su[1]. Chính vì thế Đức Ki-tô đã trải qua các lứa tuổi của đời người, nhờ đó làm cho mọi người được hiệp thông với Thiên Chúa[2].

Chúng ta hiệp thông với các mầu nhiệm của Đức Giê-su

519 793 602 1085. Ai cũng “được mời gọi thừa hưởng gia sản và sự phong phú của Đức Ki-tô” (x. RH 11). Đức Ki-tô không sống cho riêng mình, nhưng cho chúng ta: từ lúc nhập thể “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”, cho đến khi chết “vì tội lỗi chúng ta” (1 Cr 15,3) và phục sinh “để chúng ta được nên công chính” (Rm 4,25). Cả bây giờ nữa, Người vẫn là “Đấng Bảo Trợ cho chúng ta trước mặt Chúa Cha” (x. 1 Ga 2,1), “vì Người hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta” (x. Dt 7,25). Với tất cả những gì Người đã sống và chịu vì chúng ta một lần dứt khoát, giờ đây Người luôn hiện diện “trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta” (Dt 9,24).

520 459 359 2607. Suốt đời Đức Giê-su đã nên mẫu mực cho chúng ta: chính Người là “con người hoàn hảo” (x. GS 38). Người mời gọi chúng ta trở nên môn đệ và bước theo Người. Người tự hạ và nêu gương cho chúng ta noi theo (x. Ga 13,15), Người cầu nguyện và lôi cuốn chúng ta đến đời sống cầu nguyện. Người sống nghèo để kêu mời chúng ta tự do đón nhận thiếu thốn và bách hại (x. Mt 5,11-12).

521 2715 1391. Đức Ki-tô giúp chúng ta sống như Người đã sống: Người sống trong chúng ta và chúng ta sống trong Người. “Con Thiên Chúa khi nhập thể, đã kết hợp một cách nào đó với mọi người” (x. GS 22,2). Chúng ta được kêu gọi nên một với Người; những gì Người đã sống trong thân xác Người vì chúng ta và nên mẫu mực cho chúng ta, thì Người cũng cho chúng ta được hiệp thông, như là chi thể của Thân Mình Người.

Chúng ta phải tiếp nối và thực hiện nơi bản thân các giai đoạn cuộc đời và mầu nhiệm của Đức Giê-su, và thường xuyên cầu xin Người hoàn tất và kiện toàn những điều ấy nơi chúng ta, cũng như nơi toàn thể Hội Thánh,… Vì Con Thiên Chúa có ý cho chúng ta tham dự, mở rộng và tiếp nối các mầu nhiệm của Người nơi bản thân chúng ta cũng như nơi toàn thể Hội Thánh, nhờ các ân sủng Người thông ban cho chúng ta và nhờ những hiệu quả của các mầu nhiệm Người thực hiện nơi chúng ta. Theo phương thế đó, Người muốn hoàn tất các mầu nhiệm của Người nơi chúng ta[3].

II. CÁC MẦU NHIỆM THỜI THƠ ẤU VÀ ẨN DẬT CỦA ĐỨC GIÊ-SU

Chuẩn bị

522 711 762. Việc Con Thiên Chúa xuống thế gian là một biến cố lớn lao đến nỗi Thiên Chúa đã muốn chuẩn bị từ bao thế kỷ. Tế tự và hiến lễ, hình tượng và biểu trưng trong “Giao Ước Cũ” (Dt 9,15), đều được Thiên Chúa cho quy hướng về Đức Ki-tô. Người loan báo biến cố ấy qua các ngôn sứ kế tiếp nhau ở Ít-ra-en. Người còn khơi dậy nơi tâm hồn lương dân niềm mong đợi chưa rõ nét về việc Con Thiên Chúa đến.

523 712 720. Thánh Gio-an Tẩy Giả đã được sai đến (x. Cv 13,24) để trực tiếp dọn đường cho Đức Ki-tô (x. Mt 3,3). Thánh nhân là “ngôn sứ của Đấng Tối Cao” (Lc 1,76), trổi vượt tất cả mọi ngôn sứ (x. Lc 7,26) và là ngôn sứ cuối cùng ( x.Mt 11,13) khai mạc thời Tin Mừng (x. Cv 1,22; Lc 16,16). Ngay từ trong dạ mẹ, thánh nhân đón chào Đức Ki-tô đến ( x.Lc 1,41), rồi vui mừng được làm “bạn của chú rể” (Ga 3,29), Đấng mà thánh nhân gọi là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29). “Đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Ê-li-a” (Lc 1,17), thánh nhân xuất hiện trước Đức Giê-su và làm chứng cho Người bằng lời rao giảng, bằng phép rửa sám hối và cuối cùng bằng cuộc tử đạo (x. Mc 6,17-29).

524 1171. Hằng năm khi cử hành phụng vụ Mùa Vọng, Hội Thánh hiện tại hóa niềm mong đợi Đấng Mê-si-a: khi hiệp thông với việc chuẩn bị lâu dài cho Đấng Cứu Thế đến lần thứ nhất, các tín hữu làm bừng sáng niềm khát khao mong mỏi Người đến lần thứ hai (x. Kh 22,17). Khi mừng sinh nhật và cuộc tử đạo của vị Tiền Hô, Hội Thánh cũng hợp ý với thánh nhân: “gười phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3,30).

Mầu nhiệm Giáng Sinh

525 437 2443. Đức Giê-su được sinh hạ khiêm tốn trong chuồng súc vật, thuộc một gia đình nghèo. Các mục đồng chất phác là những chứng nhân đầu tiên của biến cố. Chính trong cảnh nghèo hèn này mà vinh quang Thiên Chúa được tỏ lộ (x. Lc 2,8-20). Hội Thánh không ngừng hoan hỉ hát mừng vinh quang đêm ấy như sau:

Hôm nay Đức Trinh Nữ hạ sinh Đấng Hằng Hữu
và thế gian dâng tặng hang đá cho Đấng Vô Biên.
Thiên thần và mục đồng ca tụng
và đạo sĩ tiến bước theo ánh sao,
Bởi Người sinh ra cho chúng con,
Lạy Chúa Hài Nhi, Chúa Trời hằng hữu![4]

526. “Trở nên trẻ nhỏ” trong tương quan với Thiên Chúa là điều kiện để vào Nước Trời (x. Mt 18,3-4). Muốn thế, cần phải tự hạ (x Mt 23,12), phải trở nên bé mọn; hơn nữa, còn phải “sinh ra một lần nữa bởi ơn trên” (Ga 3,7) “do bởi Thiên Chúa” (Ga 1,13) để “trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,12). Mầu nhiệm Giáng Sinh được thực hiện nơi chúng ta khi Đức Ki-tô “thành hình” nơi chúng ta (Ga 4,19). Giáng Sinh là mầu nhiệm của việc “trao đổi kỳ diệu” này:

460. Ôi việc trao đổi diệu kỳ! Đấng sáng tạo loài người, đã đoái thương sinh làm con một Trinh Nữ, đảm nhận một xác thể và một linh hồn, và đã ban cho chúng ta thiên tính của Người khi làm người mà không cần đến sự can thiệp của con người![5]

Các mầu nhiệm thời thơ ấu của Đức Giê-su

527 580 1214. Việc Đức Giê-su chịu cắt bì ngày thứ tám sau khi sinh (x. Lc 2,21) là dấu chỉ việc Người tháp nhập vào dòng dõi Áp-ra-ham, vào dân của Giao Ước; là dấu chỉ việc Người phục tùng lề luật (x. Gl 4,4) và đến với phụng tự Ít-ra-en, nền phụng tự Người sẽ tham dự suốt đời. Dấu chỉ này báo trước “phép cắt bì của Đức Ki-tô” là Bí tích Thánh Tẩy (Cl 2,11-13).

528 439 711-716 122. Hiển Linh là biến cố Đức Giê-su tỏ mình là Đấng Mê-si-a của Ít-ra-en, là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ trần gian. Cùng với việc Đức Giê-su chịu phép rửa ở sông Gio-đan và tiệc cưới Ca-na[6], mầu nhiệm này mừng kính việc “các nhà chiêm tinh” từ Phương Đông đến thờ lạy Đức Giê-su (Mt 2,1). Qua các “nhà chiêm tinh”, đại diện cho các tôn giáo lương dân chung quanh, Tin Mừng đã thấy đây là hoa quả đầu mùa của các dân tộc sẽ đón nhận Tin Mừng cứu độ nhờ Chúa Con nhập thể. Việc các nhà chiêm tinh đến Giê-ru-sa-lem để “bái lạy Vua dân Do-thái” (Mt 2,2) cho thấy: theo ánh sáng của ngôi sao Đa-vít (Ds 24,17; Kh 22,16) loan báo Đấng Mê-si-a, họ tìm kiếm ở Ít-ra-en Đấng sẽ là vua mọi dân nước (Ds 24,17-19). Việc họ đến còn cho thấy các dân ngoại chỉ có thể nhận ra Đức Giê-su và thờ lạy Người là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu Thế bằng cách hướng về dân Do-thái ( x.Ga 4,22) và lãnh nhận nơi họ lời hứa về ơn cứu độ chứa đựng trong Cựu Ước (x. Mt 2,4-6). Mầu nhiệm Hiển Linh cho thấy đông đảo các dân ngoại được gia nhập vào gia đình các tổ phụ[7], và được hưởng phẩm giá của Ít-ra-en[8].

529 583 439 614. Việc dâng Đức Giê-su vào đền thờ (x. Lc 2,22-39) cho thấy Người là con đầu lòng thuộc về Thiên Chúa (x. Xh 13,12-13). Cùng với ông Si-mê-ôn và bà An-na, toàn thể Ít-ra-en đang mong đợi đến gặp Đấng Cứu Độ của mình. Đức Giê-su được nhận biết là Đấng Mê-si-a hằng mong đợi, là “ánh sáng soi đường cho dân ngoại”, là “vinh quang của Ít-ra-en”, nhưng cũng là “dấu hiệu cho người đời chống báng”. Lưỡi gươm mà ông Si-mê-on tiên báo sẽ đâm thâu tâm hồn Đức Ma-ri-a loan báo hiến lễ hoàn hảo và duy nhất trên Thánh Giá, hiến lễ sẽ mang lại ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã “dành sẵn cho muôn dân”.

530 574. Việc trốn sang Ai-cập và cuộc tàn sát các anh hài (x. Mt 2,13-18) cho thấy bóng tối đang chống lại ánh sáng: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11). Đức Ki-tô sẽ phải chịu bách hại suốt cuộc đời. Những kẻ theo Người cũng vậy (x. Ga 15,20). Việc Người từ Ai-cập (x Mt 2,15) trở về, gợi lại cuộc Xuất Hành (x. Hs 11,1) và giới thiệu Đức Giê-su là Đấng Giải Phóng tối hậu.

Các mầu nhiệm thời ẩn dật của Chúa Giê-su

531 2427. Gần như suốt đời, Đức Giê-su đã chia sẻ thân phận của đại đa số loài người: một cuộc sống thường nhật, bề ngoài không có gì là vĩ đại, với lao động tay chân; một đời sống tôn giáo Do-thái phục tùng Luật Thiên Chúa (x. Gl 4,4), đời sống trong cộng đồng. Về giai đoạn này, chúng ta được biết rằng Đức Giê-su “vâng phục” cha mẹ và “ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,51-52).

532 2214-2220 612. Việc Đức Giê-su tùng phục mẹ Người và cha nuôi chứng tỏ Người đã chu toàn điều răn thứ tư. Đó là hình ảnh của việc Người vâng phục Cha trên trời như con thảo. Việc Đức Giê-su mỗi ngày vâng phục thánh Giu-se và Mẹ Ma-ri-a báo trước việc vâng phục vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh: “Xin đừng làm theo ý con” (Lc 22,42). Sự vâng phục của Đức Ki-tô trong cuộc sống ẩn dật thường ngày đã khởi đầu công trình tái lập những gì mà A-đam đã phá đổ vì bất tuân phục (x. Rm 5,19).

533. Cuộc sống ẩn dật của Đức Giê-su ở Na-da-rét cho phép mỗi người chúng ta hiệp thông với Người bằng những phương thế thông thường nhất:

2717 2204 2427. Na-da-rét là trường học, nơi đó chúng ta bắt đầu hiểu về cuộc đời Đức Giê-su; đó là trường dạy của Tin Mừng,… Trước hết là bài học về thinh lặng. Ước gì chúng ta biết quý chuộng sự thinh lặng, vì đó là bầu khí tuyệt vời và tối cần cho tâm hồn,… Kế đến là bài học về đời sống gia đình: Ước gì Na-da-rét dạy chúng ta biết thế nào là gia đình, là hòa hợp yêu thương, là nét đẹp của đời sống đạm bạc và đơn sơ, cùng tính thánh thiêng và bền vững của gia đình,… Tiếp theo là bài học về lao động. Ôi Na-da-rét, ngôi nhà của “con bác thợ mộc”, chính tại đây, chúng ta ước ao được thấu hiểu và đề cao bổn phận lao động của con người, tuy nhọc nhằn nhưng đem lại ơn cứu chuộc Sau hết, chúng tôi ước ao được chào mừng ở đây mọi người lao động trên toàn thế giới, và chỉ cho họ mẫu mực vĩ đại, người anh thần linh của họ[9].

534 583 2599 964. Tìm được Đức Giê-su trong Đền Thờ (x. Lc 2,41-52) là biến cố duy nhất phá vỡ sự im lặng của các Tin Mừng về những năm tháng ẩn dật của Đức Giê-su. Ở đây, Đức Giê-su hé lộ mầu nhiệm mà Người tận hiến để thi hành, một sứ mạng xuất phát từ tư cách làm Con Thiên Chúa. “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se “không hiểu”, nhưng đón nhận lời ấy trong đức tin, và Đức Ma-ri-a “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” suốt những năm dài Đức Giê-su ẩn mình thinh lặng sống bình thường như mọi người.

III. CÁC MẦU NHIỆM CUỘC ĐỜI CÔNG KHAI CỦA ĐỨC GIÊ-SU

Đức Giê-su chịu phép rửa

535 719-720 701 438. Đức Giê-su khởi đầu (x. Lc 3,23) cuộc đời công khai bằng phép rửa của Gio-an Tẩy Giả trên sông Gio-đan (x. Cv 1,22). Ông Gio-an rao giảng “phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3,3). Rất nhiều người tội lỗi, thu thuế, lính tráng (x. Lc 3,10-14), Pha-ri-sêu và Xa-đốc (x. Mt 3,7), cùng gái điếm (x. Mt 21,32) đến xin ông làm phép rửa cho họ. “Bấy giờ, Đức Giê-su từ miền Ga-li-lê đến sông Gio-đan”. Vị Tẩy Giả ngần ngại, nhưng Đức Giê-su tha thiết yêu cầu, và ông đã làm phép rửa cho Người. Lúc ấy, Thánh Thần dưới hình dáng chim bồ câu ngự xuống trên Người và có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta” (Mt 3,13-17). Qua biến cố này, Đức Giê-su tỏ mình (Hiển Linh) là Đấng Mê-si-a của Ít-ra-en và là Con Thiên Chúa.

536 606 1224 444 727 739. Đối với Đức Giê-su, phép rửa chính là việc Người chấp nhận và khởi đầu sứ mạng làm người Tôi Trung Đau Khổ. Người đặt mình vào hàng ngũ tội nhân (x. Is 53,12); Người là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29); như thế Người đã tham dự trước “phép rửa bằng máu” (x. Mc 10,38; Lc 12,50). Người đến để “giữ trọn đức công chính” (Mt 3,15), nghĩa là hoàn toàn vâng phục Thánh ý Chúa Cha: vì tình yêu, Người bằng lòng chịu phép rửa bằng máu để tha thứ tội lỗi chúng ta (x. Mt 26,39). Đáp lại sự vâng phục này, Chúa Cha bày tỏ sự hài lòng đối với Chúa Con (x. Lc 3,22; Is 42,1). Thánh Thần mà Đức Giê-su đã được đầy tràn lúc tượng thai “ngự trên Người” (Ga 1,32-33) (x. Is, 11,2). Người sẽ là nguồn mạch Thánh Thần cho toàn thể nhân loại. Lúc Người chịu Phép Rửa, các tầng trời mà tội A-đam đã đóng lại, nay “được mở ra” (Mt 3,16), và dòng nước được thánh hóa do việc Đức Giê-su và Thánh Thần ngự xuống báo hiệu cuộc sáng tạo mới.

537 1262. Nhờ bí tích Thánh Tẩy, người Ki-tô hữu được đồng hình đồng dạng với Đức Giê-su một cách bí tích, Đấng đã tham dự trước cái chết và sự phục sinh của mình ngay trong phép rửa. Người tín hữu cũng phải dấn thân vào mầu nhiệm tự hạ và hoán cải này, bước xuống nước với Đức Giê-su để bước lên với Người, tái sinh bởi nước và Thánh Thần để trong Chúa Con, trở nên con yêu dấu của Chúa Cha và “sống một đời sống mới” (Rm 6,4):

628. “Chúng ta hãy cùng chịu mai táng với Đức Ki-tô bằng phép rửa, để cùng được phục sinh với Người. Hãy cùng bước xuống với Người, để cùng được đưa lên với Người. Hãy cùng đi lên với Người, để cùng được tôn vinh trong Người”[10].

Tất cả những gì xảy ra nơi Đức Ki-tô cho biết: sau khi chúng ta được dìm trong nước, Chúa Thánh Thần từ trời ngự xuống trên chúng ta và Chúa Cha lên tiếng chấp nhận để chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa[11].

Đức Giê-su chịu cám dỗ

538 394 518. Các Tin Mừng đều nói đến thời gian Đức Giê-su sống cô tịch trong hoang địa, ngay sau khi nhận phép rửa của Gio-an Tẩy Giả. Được Thần Khí đẩy vào hoang địa, Đức Giê-su ở lại đó, nhịn đói bốn mươi ngày, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người (x. Mc 1,12-13). Cuối thời gian này, Xa-tan đã ba lần cám dỗ Đức Giê-su hòng lung lạc thái độ con thảo của Người đối với Thiên Chúa. Đức Giê-su đẩy lui những cuộc tấn công ấy, chúng được xem như thu tóm các cám dỗ của A-đam trong vườn địa đàng và của Ít-ra-en trong hoang địa. Ma quỷ bỏ Người mà đi, “chờ đợi thời cơ” (Lc 4,13).

539 397 609. Các tác giả Tin Mừng cho thấy ý nghĩa cứu độ của biến cố huyền nhiệm này. Đức Giê-su là A-đam mới, vẫn trung thành trong khi A-đam cũ sa ngã. Đức Giê-su chu toàn ơn gọi của Ít-ra-en: khác hẳn với dân xưa kia đã thách thức Thiên Chúa suốt bốn mươi năm trong hoang địa (x. Tv 95,10), Đức Giê-su tỏ ra mình là Người Tôi Trung hoàn toàn vâng phục Thánh ý Thiên Chúa. Như thế, Đức Giê-su toàn thắng ma quỷ: Người đã “trói kẻ mạnh” và thu lại tài sản nó đã cướp (x. Mc 3,27). Việc Đức Giê-su chiến thắng tên cám dỗ trong hoang địa báo trước chiến thắng trong cuộc khổ nạn, khi Người tuyệt đối vâng phục Chúa Cha với tình con thảo.

540 2119 519 2849 1438. Cơn cám dỗ cho thấy cách thế Con Thiên Chúa thực hiện chức năng Mê-si-a, khác hẳn đề nghị của Xa-tan và mong muốn của con người (x. Mt 16,21-23). Vì chúng ta, Đức Ki-tô đã chiến thắng tên cám dỗ: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4,15). Hằng năm, bằng bốn mươi ngày của Mùa Chay, Hội Thánh kết hiệp với mầu nhiệm Đức Giê-su trong hoang địa.

“Nước Thiên Chúa đã đến gần”

541 2816 763 669 768 865. “Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1,14-15). “Để chu toàn Thánh ý Chúa Cha, Đức Ki-tô đã khai mở Nước Trời nơi trần gian” (LG 3). Và đây là Thánh ý Chúa Cha: “Nâng loài người lên để họ được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa” (LG 2) bằng cách quy tụ mọi người quanh Con của Người, Đức Giê-su Ki-tô. Sự quy tụ này, chính là Hội Thánh, là “mầm mống và là khởi đầu của Nước Thiên Chúa” trên trần gian (LG 5).

542 2233 789. Đức Ki-tô là trung tâm của đoàn người được quy tụ trong gia đình Thiên Chúa. Người triệu tập họ quanh Người bằng lời nói, bằng những dấu chỉ chứng tỏ nước Thiên Chúa đang hiện diện, bằng việc sai phái các môn đệ. Người sẽ làm cho Vương Quốc Người hiển trị bằng mầu nhiệm Vượt Qua của Người: cái chết trên Thập Giá và Phục Sinh. “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32). Mọi người đều được mời gọi kết hiệp với Đức Ki-tô (x. LG 3).

Đức Giê-su loan báo Nước Thiên Chúa

543 764. Mọi người đều được mời gọi gia nhập Nước Thiên Chúa. Vương Triều của Đấng Mê-si-a trước tiên được loan báo cho con cái Ít-ra-en (x. Mt 10,5-7), nhưng cũng để tiếp nhận mọi dân tộc (x. Mt 8,11; 28,19). Để được vào Nước Thiên Chúa, con người phải đón nhận lời của Đức Giê-su:

Lời Chúa ví như hạt giống gieo trong ruộng: ai tin nghe Lời Chúa và gia nhập đàn chiên nhỏ của Đức Ki-tô thì đã đón nhận chính nước Người; rồi tự sức mình, hạt giống nảy mầm và lớn lên cho tới mùa gặt (x. LG 5).

544 709 2443 2546. Nước Thiên Chúa thuộc về những người nghèo hèn bé mọn, nghĩa là những người đón nhận với lòng khiêm hạ. Đức Ki-tô được cử đến để “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,18) (x. Lc 7,22). Người tuyên bố rằng họ có phúc, bởi vì “Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Chúa Cha đã đoái thương mặc khải cho những kẻ bé mọn điều Người giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết (x. Mt 11,25). Đức Giê-su đã chia sẻ kiếp sống của những kẻ nghèo hèn, từ máng cỏ cho tới thập giá. Người đã từng chịu đói (x. Mc 2,23-26; Mt 21,18), chịu khát (x. Ga 4,6-7; 19,28), chịu túng cực (x. Lc 9,58). Hơn thế nữa, Người đồng hóa mình với mọi hạng người nghèo hèn và dạy rằng, muốn được vào Nước Người, cần phải tích cực yêu mến những người nghèo hèn ấy (x. Mt 25,31- 46).

545 1443 588 1846 1439. Đức Giê-su mời những kẻ tội lỗi dự tiệc trong Nước Thiên Chúa: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17) (x. 1 Tm 1,15). Người mời gọi họ hoán cải, vì không hoán cải thì không thể vào Nước Người. Người cũng dùng lời nói và hành động để cho họ thấy lòng thương xót vô biên mà Chúa Cha dành cho họ (x. Lc 15,11-32), cũng như niềm vui lớn lao trên trời “vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15,7). Bằng chứng cao cả nhất của tình yêu này là việc Người dâng hiến mạng sống “cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28).

546 2613 542. Đức Giê-su đã dùng các dụ ngôn kêu gọi mọi người vào Nước Trời. Dụ ngôn là nét tiêu biểu trong cách giảng dạy của Người (x. Mc 4,33-34). Qua các dụ ngôn, Người mời họ dự tiệc Nước Trời (x. Mt 22,1-14), nhưng cũng đòi họ phải có một chọn lựa triệt để: phải “bán tất cả những gì mình có” để có được Nước Trời (x. Mt 13,44-45); lời nói suông chưa đủ, cần phải hành động (x. Mt 21,28-32). Các dụ ngôn như những tấm gương mà nhờ đó, con người nhận diện chính mình: đón nhận Lời Chúa như mảnh đất khô khan hay mảnh đất mầu mỡ? (x. Mt 13,3-9) Phải làm gì với những nén bạc đã nhận? (x. Mt 25,14-30). Đức Giê-su và sự hiện diện của Nước Trời giữa thế gian là trọng tâm của các dụ ngôn. Phải trở nên môn đệ Đức Ki-tô mới “hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời” (Mt 13,11); còn đối với “những kẻ ở ngoài” (Mc 4,11), mọi sự đều bí ẩn (Mt 13,10-15).

Các dấu chỉ Nước Thiên Chúa

547 670 439. Kèm theo lời nói, Đức Giê-su đã làm “những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ” (Cv 2,22) để chứng tỏ Nước Trời đang hiện diện nơi Người và Người chính là Đấng Mê-si-a được tiên báo (x. Lc 7,18-23).

548 156 2616 574 447. Các dấu lạ do Đức Giê-su thực hiện minh chứng Chúa Cha đã cử Người đến (x. Ga 5,36; 10,25). Chúng mời gọi ta hãy tin vào Người (x. Ga 10,38). Những ai tin tưởng kêu cầu Người, đều được Người khấng nhậm (x. Mc 5,25-34; 10,52,… ). Khi đó, các phép lạ củng cố niềm tin vào Đấng thực hiện công việc của Cha Người: chúng minh chứng Người là Con Thiên Chúa (x. Ga 10,31-38). Nhưng chúng cũng có thể là “cớ vấp ngã” (Mt 11,6). Chúng không nhằm thỏa mãn những người tò mò và ưa thích ma thuật. Dù đã làm những phép lạ tỏ tường, Đức Giê-su vẫn bị một số người chối bỏ (x. Ga 11,47-48), bị kết án là hành động nhờ ma quỷ (x. Mc 3,22).

549 1503 440. Khi giải thoát một số người khỏi những đau khổ đời này như đói khát (x. Ga 6,5-15), bất công (x. Lc l9,8), tật bệnh và cái chết (x. Mt 11,5), Đức Giê-su chứng tỏ Người là Đấng Mê-si-a. Tuy nhiên, Người không đến để tiêu diệt mọi khổ đau ở trần gian này (x. Lc 12.13.14; Ga 18,36), nhưng để giải phóng con người khỏi kiếp nô lệ lầm than nhất, đó là nô lệ tội lỗi (x. Ga 8,34-36). Thứ nô lệ này ngăn cản họ làm con Thiên Chúa, cũng như gây ra mọi hình thức nô lệ hóa con người.

550 394 1673 40 2816. Nước Thiên Chúa đến làm cho nước Xa-tan sụp đổ (x. Mt 12,26) “Nếu tôi dựa vào Thần Khí của Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (Mt 12,28). Đức Giê-su trừ quỷ là giải phóng con người khỏi vòng cương tỏa của ma quỷ (x. Lc 8,26-39). Qua đó, Người thể hiện trước Người sẽ toàn thắng “thủ lãnh thế gian này” (Ga 12,31). Chính nhờ Thánh Giá Đức Ki-tô mà Nước Thiên Chúa sẽ được thiết lập vĩnh viễn: “Trên ngai Thập Giá, Thiên Chúa thống trị muôn loài”[12].

“Chìa khóa Nước Trời”

551 858 765. Ngay khi bắt đầu đời sống công khai, Đức Giê-su chọn Nhóm Mười Hai để các ông cùng ở với Người và chia sẻ sứ mạng với Người (x. Mc 3,13-19). Người cho họ dự phần vào uy quyền của Người và “sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân” (Lc 9,2). Họ sẽ vĩnh viễn liên kết với Nước của Đức Ki-tô, bởi vì Người sẽ nhờ các ông mà điều khiển Hội Thánh.

“Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự tòa xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en” (Lc 22,29-30).

552 880 153 442 424. Trong nhóm Mười Hai, Si-mon Phê-rô giữ vị trí hàng đầu (x. Mc 3,16; 9,2; Lc 24,34; 1 Cr 15,5). Đức Giê-su ủy thác cho ông sứ mạng độc nhất vô nhị. Nhờ Chúa Cha mặc khải, Phê-rô tuyên xưng “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Bấy giờ Chúa liền tuyên bố “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18). Đức Ki-tô, “Viên đá sống động” (1 Pr 2,4), bảo đảm Hội Thánh mà Người xây dựng trên Tảng Đá Phê-rô, sẽ chiến thắng quyền lực tử thần. Vì đức tin ông đã tuyên xưng, Phê-rô sẽ là Tảng Đá kiên vững của Hội Thánh. Ông có sứ mạng bảo toàn đức tin ấy khỏi suy suyển và củng cố đức tin của anh em (x. Lc 22,32).

553 381 1445 641 881. Đức Giê-su ủy thác cho thánh Phê-rô một thẩm quyền đặc biệt: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,19). Quyền nắm giữ chìa khóa là quyền cai quản Nhà Thiên Chúa, tức là Hội Thánh. Đức Giê-su, vị “Mục Tử nhân lành” (Ga 10,11) xác nhận trọng trách đó sau khi Phục Sinh: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Ga 21,15-17). Quyền “cầm buộc và tháo cởi” là quyền tha tội, đưa ra những phán quyết về giáo lý và những quyết định về kỷ luật trong Hội Thánh. Đức Giê-su ủy thác quyền này cho Hội Thánh qua thừa tác vụ của các tông đồ (x. Mt 18,18), đặc biệt là của thánh Phê-rô, người duy nhất được Chúa minh nhiên giao phó chìa khóa Nước Trời.

Nếm trước hạnh phúc Nước Trời: Chúa Hiển Dung

554 697 2600 444. Từ ngày Phê-rô tuyên xưng Đức Giê- su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, Đức Giê-su “bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ…, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21). Phê-rô không chấp nhận điều đó ( x.Mt 16,22-23), các môn đệ khác cũng không hiểu gì hơn ( x. Mt 17,23; Lc 9,45). Chính trong bối cảnh này, đã xảy ra biến cố kỳ diệu: Đức Giê-su hiển dung trên núi (x. Mt 17,1-8; 2 Pr 1,16-18), trước mặt ba nhân chứng do Người lựa chọn là Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an. Dung mạo và y phục của Đức Giê-su trở nên chói sáng, ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra “nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem” (Lc 9,31). Một đám mây bao phủ các Ngài và có tiếng từ trời phán: “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người!” (Lc 9,35).

555 2576 2583 257. Đức Giê-su tỏ lộ vinh quang mình trong chốc lát, và như vậy xác nhận lời tuyên xưng của thánh Phê-rô. Người cũng cho thấy để “vào trong vinh quang” (Lc 24,26), Người phải kinh qua thập giá tại Giê-ru-sa-lem. Ông Mô-sê và Ông Ê-li-a đã thấy vinh quang Thiên Chúa trên Núi. Lề luật và các Ngôn sứ đã loan báo Đấng Mê-si-a phải chịu nhiều đau khổ (Lc 24,27). Cuộc khổ nạn của Đức Giê-su đúng là ý muốn của Chúa Cha: Chúa Con hành động như Người Tôi Trung của Thiên Chúa (x. Is 42,1); đám mây nói lên sự hiện diện của Chúa Thánh Thần: “Cả Ba Ngôi xuất hiện: Chúa Cha qua tiếng nói, Chúa Con nơi con người, Chúa Thánh Thần trong đám mây sáng chói”[13].

“Lạy Chúa Ki-tô, Người đã hiển dung trên núi, và các môn đệ chiêm ngắm vinh quang Người tùy khả năng mình, để mai sau khi thấy Người chịu đóng đinh trên Thập Giá, họ hiểu rằng Người đã tự nguyện chịu khổ hình. Rồi họ sẽ loan báo cho muôn dân biết Người chính là vinh quang Cha chiếu tỏa[14].

556 1003. Phép rửa mở đầu đời sống công khai. Hiển Dung mở đầu cuộc Vượt Qua. Qua phép rửa của Đức Giê-su, “mầu nhiệm cuộc tái sinh lần thứ nhất của chúng ta” được tỏ hiện: đó là bí tích Thánh Tẩy. Hiển Dung là “mầu nhiệm cuộc tái sinh lần thứ hai”: đó là phục sinh của chính chúng ta[15]. Ngay từ bây giờ, chúng ta thông phần vào cuộc Phục Sinh của Chúa, nhờ Chúa Thánh Thần hoạt động trong các Bí tích của Thân Mình Đức Ki-tô. Biến cố Hiển Dung cho phép chúng ta nếm trước cuộc quang lâm vinh hiển của Đức Giê-su, Người sẽ “biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,21). Nhưng biến cố ấy cũng nhắc nhở chúng ta: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa” (Cv 14,22).

Khi Phê-rô ước ao sống với Đức Ki-tô trên núi, ông chưa hiểu gì (x. Lc 9,33). Hỡi Phê-rô, Chúa sẽ dành cho ông diễm phúc này sau khi chết mà thôi. Còn hiện nay thì Chúa nói: Hãy xuống núi để chịu lao nhọc ở trần gian, để phục vụ ở trần gian, để chịu sỉ nhục, chịu đóng đinh ở trần gian. Đấng là Sự Sống đã xuống để bị giết chết; Đấng là Bánh đã xuống để chịu đói; Đấng là Đường đã xuống để chịu mệt nhọc trên đường lữ hành; Đấng là Nguồn Mạch đã xuống để chịu cơn khát; còn ông lại từ chối lao nhọc ư?[16]

Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem

557. “Khi đã tới ngày Đức Giê-su được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem” (Lc 9,51) (x. Ga 13,1). Khi nhất quyết như thế, Đức Giê-su muốn nói là Người lên Giê-ru-sa-lem để sẵn sàng chịu chết ở đó. Người loan báo đến ba lần cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Người (x. Mc 8,31-33; 9,31-32; 10,32-34). Khi tiến về Giê-ru-sa-lem, Người nói: “Một ngôn sứ mà chết ngoài thành Giê-ru-sa-lem thì không được” (Lc 13,33).

558. Đức Giê-su gợi lại việc các ngôn sứ đã bị giết ở Giê-ru-sa-lem (x. Mt 23,27a). Dù sao, Người vẫn kiên trì kêu gọi Giê-ru-sa-lem tập hợp quanh Người: “Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu” (Mt 23,37b). Khi nhìn thấy Giê-ru-sa-lem, Người khóc thương nó và thốt lên một lần nữa ước muốn nơi tâm hồn Người: “Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được” (Lc 19,41-42).

Đức Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem với tư cách là Đấng Mê-si-a

559 333 132. Giê-ru-sa-lem sẽ đón nhận Đấng Mê-si-a của mình như thế nào? Trong khi Đức Giê-su trốn tránh mọi ý đồ của dân chúng muốn tôn Người làm vua (x. Ga 6,15), thì Người lại chọn thời điểm và chuẩn bị kỹ lưỡng để tiến vào Giê-ru-sa-lem, thành của “vua Đa-vít, tổ tiên Người” (Lc 1,32) (x. Mt 21,1-11) với tư cách là Đấng Mê-si-a. Người được dân chúng hoan hô như con vua Đa-vít, Đấng mang lại ơn cứu độ (Hosanna có nghĩa là “Xin cứu chúng con”, “Xin ban ơn cứu độ!”). Nhưng “Đức Vua Vinh hiển” (Tv 24,7-10) lại “khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dcr 9,9) để tiến vào thành. Người không chinh phục Thiếu nữ Xi-on bằng mưu mẹo hay bằng bạo lực, nhưng bằng sự khiêm nhường, chứng từ của sự thật. Vì thế, ngày hôm đó, thần dân vây quanh Người là trẻ em (x. Ga 18,37; Mt 21,15-16; Tv 8,3) và những người nghèo của Thiên Chúa, họ tung hô Người như các thiên thần đã loan báo Người cho các mục đồng (x. Lc 19,38; 2,14) Lời tung hô: “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa” (x. Tv 118,26) được Hội Thánh sử dụng trong kinh “Thánh! Thánh! Thánh!”, để mở đầu phụng vụ Thánh Thể, nghi thức tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa.

560 550 2816 1169. Việc Đức Giê-su tiến vào Giê-ru-sa-lem loan báo Nước Thiên Chúa đến, Nước mà Đức Vua Mê-si-a sắp thực hiện bằng Vượt Qua từ cái chết đến phục sinh của Người. Hội Thánh long trọng khai mạc Tuần Thánh với việc cử hành biến cố Đức Giê-su tiến vào Giê-ru-sa-lem trong ngày Chúa Nhật Lễ Lá.

TÓM LƯỢC

561. “Tất cả cuộc đời Đức Ki-tô là một giáo huấn liên tục : Người thinh lặng, hành động, cầu nguyện, yêu thương con người, ưu ái kẻ bé mọn và người nghèo, chấp nhận tận hiến mình trên Thập Giá để cứu chuộc thế gian, Phục Sinh,… tất cả là để hiện thực Lời Người và hoàn tất Mặc Khải” (CT 9).

562. Các môn đệ Chúa Ki-tô phải nên đồng hình đồng dạng với Người cho đến khi Người được thành hình trong họ (x. Gl 4,19). “Vì thế, chúng ta được đảm nhận vào các mầu nhiệm cuộc sống của Người, trở nên giống Người, cùng chết và sống lại với Người, cho đến khi cùng cai trị với Người” (LG 7).

563. Là mục đồng hay nhà chiêm tinh, người ta cũng chỉ gặp được Thiên Chúa ở đời này, khi quỳ xuống trước máng cỏ Bê-lem và thờ lạy Thiên Chúa ẩn mình nơi một Hài Nhi yếu đuối.

564. Khi tuân phục Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se cũng như khiêm nhu lao động trong những năm dài ở Na-da-rét, Đức Giê-su nêu gương thánh thiện cho chúng ta trong cuộc sống gia đình và lao động hằng ngày.

565. Ngay khi bắt đầu đời sống công khai, lúc chịu phép rửa, Đức Giê-su là “Người Tôi Trung” hoàn toàn hiến thân cho công trình cứu độ sẽ được hoàn tất trong “phép rửa” là cuộc khổ nạn.

566. Cơn cám dỗ trong hoang địa cho thấy Đức Giê-su, Đấng Mê-si-a khiêm nhu, chiến thắng Xa-tan nhờ gắn bó trọn vẹn với ý định cứu độ của Chúa Cha.

567. Đức Ki-tô đã khai mạc Nước Trời dưới thế. “Nước này chiếu sáng trước mặt mọi người qua lời nói, hành động và sự hiện diện của Chúa Ki-tô” (LG 5). Hội Thánh là mầm và khởi đầu của Nước Trời. Chìa khóa Nước Trời được trao cho thánh Phê-rô.

568. Cuộc Hiển Dung của Chúa Ki-tô nhằm mục đích củng cố đức tin của các tông đồ trước cuộc khổ nạn: việc đi lên “núi cao” chuẩn bị việc đi lên Núi Sọ. Đức Ki-tô, Đầu của Hội Thánh, bày tỏ “niềm hy vọng đạt tới vinh quang” mà Thân Thể Người ấp ủ và chiếu tỏa qua các bí tích (Cl 1,27)[17].

569. Đức Giê-su tự nguyện lên Giê-ru-sa-lem dù biết rằng tại đây Người sẽ phải chết khổ nhục vì sự thù nghịch của những kẻ tội lỗi (x. Dt 12,3).

570. Việc Đức Giê-su tiến vào Giê-ru-sa-lem cho thấy Nước Trời đến. Đức Vua Mê-si-a mà trẻ em và những người có tâm hồn nghèo khó nghênh đón, sẽ hoàn tất Nước Trời bằng cuộc Vượt Qua từ Khổ Nạn đến Phục Sinh của Người.


Chú thích

[1] Thánh I-rê-nê – Chống lạc giáo 3,18,1

[2] Thánh I-rê-nê – Chống lạc giáo 3,18,7; x. 2,22,4.

[3] Thánh Gio-an Eudes – Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Thứ Sáu Tuần XXXIII Thường Niên.

[4] x. Bài ca của Thánh Rô-ma-nô Thi sĩ.

[5] Các Giờ Kinh Phụng Vụ – Điệp ca Kinh Tối ngày 01/01.

[6] x. Các Giờ Kinh Phụng Vụ – Kinh Chiều Lễ Hiển Linh, Điệp ca kinh “Magnificat”.

[7] Thánh Lê-ô Cả – Bài giảng 23.

[8] x. Sách lễ Rô-ma – Vọng Phục Sinh 26, Lời nguyện sau bài đọc 3.

[9] Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI – Diễn văn ngày 05/01/1964 tại Na-da-rét, nhân dịp Lễ Thánh Gia.

[10] Thánh Grêgôriô Thành Nazianzus – Bài giảng thần học 40,9.

[11] Thánh Hi-la-ri-ô – Chú giải Tin Mừng Mát-thêu 2,5.

[12] x. Thánh ca “Vexilla Regis”.

[13] Thánh Tô-ma A-qui-nô – Tổng luận thần học 3,45,4,ad 2.

[14] Phụng vụ Byzantine – Thánh ca Lễ Hiển Dung.

[15] Thánh Tô-ma A-qui-nô – Tổng luận thần học 3,45,4 ad.2.

[16] Thánh Augustinô – Bài giảng 78,6.

[17] x. Thánh Lê-ô Cả – Bài giảng 51,3.