Đoạn thứ hai: Tuyên xưng đức tin Ki-tô Giáo, các Kinh Tin Kính (Giáo lý số 185 – 197)

185. Nói “Tôi tin” nghĩa là “tôi nhập cuộc vào những điều chúng tôi tin”. Sự thông hiệp trong đức tin cần có một ngôn ngữ chung của đức tin, làm chuẩn mực cho tất cả và kết hợp mọi người khi cùng tuyên xưng đức tin.

186. Ngay từ đầu, Hội Thánh của các tông đồ đã diễn đạt và thông truyền đức tin của mình trong những công thức ngắn và chuẩn mực cho mọi người (x. Rm 10,9; 1 Cr 15,3-5;…). Chỉ ít lâu sau, Hội Thánh cũng muốn thu thập những điểm cốt yếu của đức tin vào những bản tóm lược có hệ thống, phân chia thành điều khoản, chủ yếu dành cho những người chuẩn bị lãnh Bí tích Thánh Tẩy.

Bản tổng hợp đức tin này được soạn thảo không dựa theo ý kiến loài người, nhưng dựa trên những giáo lý quan trọng nhất của toàn bộ Thánh Kinh, để tạo nên một giáo huấn đức tin duy nhất. Như hạt giống mang mầm sống của cả một cây lớn, bản tóm lược đức tin ấy chứa đựng trong ít lời, toàn bộ tri thức về lòng đạo chân thật của Cựu Ước và Tân Ước (Giáo lý Thánh Xy-ri-lô thành Giê-ru-sa-lem 5,12).

187. Chúng ta gọi các bản tổng hợp đức tin ấy là bản “tuyên xưng đức tin”, vì chúng tóm lược đức tin mà các Ki-tô hữu tuyên xưng; gọi là Kinh “Tin Kính” vì thường bắt đầu bằng câu “Tôi tin kính”, có khi còn gọi là bản “tín biểu” nữa.

188. “Tín biểu” là chữ tắt của “biểu tượng đức tin”. Chúng ta dùng chữ “biểu, biểu tượng” được dịch từ “Symbolon” của tiếng Hi-lạp có nghĩa là phân nửa một vật được bẻ ra (chẳng hạn: đồng tiền bẻ đôi) mà người ta xuất trình như một dấu hiệu để nhận ra nhau. “Tín biểu” là một dấu hiệu để các tín hữu nhận ra nhau, hiệp thông với nhau. “Symbolon” cũng có nghĩa là một sưu tập, hay là bản tóm lược. Do đó Tín biểu là sưu tập những chân lý chính yếu của đức tin và trở thành điểm quy chiếu thứ nhất và căn bản của huấn giáo.

189. Lời “tuyên xưng đức tin” đầu tiên được thực hiện khi nhận phép rửa tội. “Tín biểu” trước hết là tín biểu của Bí tích Thánh Tẩy. Vì Bí tích Thánh Tẩy được ban “nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19) nên những chân lý của đức tin tuyên xưng trong phép rửa tội, được sắp xếp quy về Ba Ngôi Thiên Chúa.

190. Do đó Tín biểu được chia làm ba phần: “Trước hết, nói về Thiên Chúa Ngôi Nhất và công trình sáng tạo kỳ diệu; kế đến Thiên Chúa Ngôi Hai và mầu nhiệm Cứu chuộc con người; sau hết Thiên Chúa Ngôi Ba, cội nguồn và nguyên lý thánh hóa chúng ta” (Giáo lý Rô-ma 1,1,3). Đó là “ba chương của ấn tín (rửa tội)” (Thánh I-rê nê, Dem 100).

191. “Ba phần đó tuy khác biệt nhưng nối kết với nhau. Dựa theo các Giáo Phụ chúng ta gọi đó là các tín điều phải tin. Như thân thể con người gồm nhiều chi thể, bản tuyên xưng đức tin gồm những chân lý chúng ta phải tin từng điều một, được gọi là “tín điều” (Sách Giáo lý Rô-ma 1,1,4). Theo một truyền thống xưa, được thánh Am-brô-si-ô xác nhận, người ta quen liệt kê mười hai tín điều của kinh Tin Kính, dựa theo số mười hai tông đồ để tượng trưng cho toàn bộ đức tin tông truyền (x. Kinh Tin Kính 8).

192. Suốt chiều dài lịch sử, để đáp ứng những nhu cầu các thời đại khác nhau, chúng ta có nhiều bản tuyên xưng đức tin hay tín biểu: những bản tín biểu của các Giáo Hội thời các tông đồ và thời cổ (DS 1-64), bản tín biểu “Quicumque” còn gọi là của thánh A-ta-na-si-ô (DS 75-76), những bản tín biểu của một số Công đồng Tô-lê-đô (DS 525-541), La-tê-ra-nô (DS 800-802), Lyon (Ds 851-861), Tren-tô (DS 1862-1870) hay của một số Giáo Hoàng như bản Tuyên Xưng của Đức Giáo Hoàng Đa-ma-si-ô (DS 71-72), bản “Kinh Tin Kính Của Dân Thiên Chúa” (SPF) của Đức Phao-lô VI (1968).

193. Không một tín biểu nào xuất phát từ những giai đoạn khác nhau của đời sống Hội Thánh có thể bị coi là lỗi thời và vô ích. Các bản này giúp chúng ta ngày nay thấu hiểu và đào sâu đức tin ngàn đời của Hội Thánh qua các bản tóm lược khác nhau ấy.

Trong tất cả các tín biểu, có hai bản chiếm một địa vị rất đặc biệt trong đời sống Hội Thánh:

194. Kinh Tin Kính của các Tông đồ: gọi như thế, vì bản này được xem như bản tóm lược trung thành đức tin của các Tông đồ. Đây là “tín biểu” rất cổ, được Giáo Hội Rô-ma sử dụng trong Bí tích Thánh Tẩy. Hội Thánh coi trọng bản này, vì “đây là tín biểu được bảo tồn trong Giáo Hội Rô-ma,nơi thánh Phê-rô, thủ lãnh các tông đồ, đã đặt tông tòa và đã đem lại sự nhất trí trong toàn Hội Thánh” (Thánh Am-brô-si-ô, Kinh Tin Kính 7).

195. Kinh Tin Kính Công đồng Nicea – Constantinopoli (Ni-xê-a – Con-tan-ti-nô-pô-li) được coi trọng vì phát xuất từ hai Công đồng đầu tiên (325 và 381). Cho đến nay, bản này vẫn còn là bản chung cho tất cả các Giáo Hội lớn của Phương Đông và Phương Tây.

196. Sách Giáo Lý này trình bày đức tin theo Kinh Tin Kính của các tông đồ, vì kinh này được kể là “bản giáo lý Rô-ma cổ xưa nhất”. Tuy nhiên, để bổ túc, chúng tôi sẽ luôn tham chiếu Kinh Tin Kính của công đồng Ni-xê-a Con-tan-ti-nô-pô-li thường minh bạch và chi tiết hơn.

197. Như trong ngày lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, khi trọn cuộc sống của chúng ta được đưa vào “quy luật đạo lý” (Rm 6,17), chúng ta hãy đón nhận bản Kinh Tin Kính, để nhờ đó chúng ta được sống. Khi đọc kinh “Tin kính” với lòng tin, chúng ta được thông hiệp với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và cũng được thông hiệp với toàn thể Hội Thánh. Chính Hội Thánh truyền đạt đức tin cho chúng ta, và (chính trong lòng) Hội Thánh mà chúng ta tin.

Kinh Tin Kính này là dấu ấn tín thiêng liêng, là điều tâm niệm, là người canh giữ luôn luôn hiện diện; chắc chắn đó là kho tàng của linh hồn chúng ta (Thánh Am-brô-si-ô, Kinh Tin Kính 1).