Nhiệm Thể Chúa Ki-tô trong quan điểm của ĐHY Robert Bellarmine

Ngay sau khi rời bỏ Giáo Hội Công Giáo, Johann Dollinger đã buông lời cay đắng khi khiển trách Công đồng Vaticanô I là “không làm điều gì khác ngoài việc xác định quan điểm riêng tư của một cá nhân – Đức Hồng Y Robert Bellarmine”. Lời buộc tội này là sai nhưng có tác dụng gợi ý, vì nó dẫn chúng ta đến việc nghiên cứu lại giáo huấn của Thánh Robert về tổ chức của Giáo Hội Công Giáo với tư cách là Nhiệm Thể Chúa Ki-tô. Phần lớn nhiệm vụ trong các công việc mà Công đồng phải làm là giải quyết vấn đề nguồn gốc và bản chất của một Giáo Hội chân chính duy nhất. Hơn nữa, Giáo Hội học của ĐHY Bellarmine là nguồn chính mà từ đó, các Nghị phụ tham dự Công đồng đã rút ra các sắc lệnh và định tín. Do đó, với mối quan tâm hiện tại ở ngay cả những người không Công Giáo trong Giáo Hội của Chúa Ki-tô, là Nhiệm Thể của Người, chúng ta không nên bỏ qua những gì Thánh Robert đã nói về một đề tài mà chính ngài đã được Giáo Hội coi là người có thẩm quyền nổi bật. Đức Giáo Hoàng Piô XII, trong Thông điệp Mystici Corporis (1943), đã xác nhận thẩm quyền này khi ngài trích dẫn Thánh Robert để củng cố cho lời giải thích của mình về lý do tại sao Thân thể xã hội của Giáo Hội nên được tôn vinh với danh Chúa Ki-tô: “Như ĐHY Bellarmine đã xác định với sự sắc bén và chính xác, việc lấy tên gọi Thân Thể Chúa Ki-tô không chỉ được giải thích bởi thực tế rằng Chúa Ki-tô phải được gọi là Đầu của Nhiệm Thể Người, mà còn bởi thực tế rằng Người nuôi dưỡng Giáo Hội, và theo một nghĩa nào đó, sống trong Giáo Hội, [chân thật và sống động đến nỗi Giáo Hội] là, và như đã là, một Chúa Ki-tô nữa.”1

Những gì tiếp theo dưới đây là sự tổng hợp giáo lý của Thánh Robert Bellarmine về Nhiệm Thể Chúa Ki-tô được trích từ các bài giảng và các bài tranh luận của ngài, hy vọng sẽ giúp mở rộng thêm một số điểm chi tiết mà Mystici Corporis chỉ gợi ý chứ không phát triển hay dành nhiều thời gian đề cập.

Nhiệm Thể Chúa Ki-tô

Nhiệm Thể Chúa Ki-tô là Giáo Hội Công Giáo

Điều mà ĐHY Bellarmine đã cố gắng nhấn mạnh, rằng Nhiệm Thể Chúa Ki-tô chính là Giáo Hội của Người, quả là quan trọng, mặc dù điều đó dường như quá hiển nhiên đối với chúng ta. Cho đến thời của ngài, chỉ có một số tương đối ít các Ki-tô hữu không hiệp thông với Rô-ma tuyên bố rằng hội đoàn của họ là Nhiệm Thể Chúa Ki-tô mà Thánh Phao-lô đã nói tới trong 1 Cr 12,27: “Anh em là thân thể Đức Ki-tô, và mỗi người là một bộ phận.” Nhưng với sự xuất hiện của Luther và Calvin, tình hình đã thay đổi. Một mặt, họ rao giảng về một Giáo Hội vô hình được thiết lập dựa trên đức tin và tiền định; mặt khác, họ gọi Giáo Hội của họ là Thân Thể Chúa Ki-tô. Đây là một ý tưởng mới lạ và đặt ra thách thức đối với nền thần học Công Giáo truyền thống.

Nhiệm Thể Chúa Ki-tô, theo lập luận của những người theo thuyết tiền định, cũng không khác gì Thân Thể vật chất mà người ta có thể đụng chạm của Người. Và vì toàn bộ Thân Thể vật chất của Người ngự trên Thiên Đàng và được tôn vinh cùng với mọi cơ quan cấu thành, nên Nhiệm Thể cũng sẽ đạt tới vinh quang Nước Trời nơi tất cả các chi thể. Tuyên bố này nghe có vẻ vô hại cho đến khi chúng ta phân tích hàm ý của nó. Nếu mọi thành viên của Nhiệm Thể sẽ được cứu độ và Giáo Hội của Chúa Ki-tô là Thân Thể Người, thì chỉ những ai được Thiên Chúa tiền định lên Thiên Đàng mới là thành viên của Giáo Hội. Và như thế, tất cả những người còn lại chỉ là những thành viên giả đã bị Chúa đánh lừa và tự đánh lừa chính mình, ít nhất là về thân phận Ki-tô hữu, vốn chỉ là một bộ phận rất nhỏ nơi Nhiệm Thể.

ĐHY Bellarmine nhận xét: “Phản ứng đầu tiên của tôi đối với giáo lý này là những người đối lập [với Đức tin Công Giáo] đã đẩy sự tương đồng giữa Thân Thể mầu nhiệm và Thân Thể vật chất của Chúa Ki-tô vượt xa khỏi giới hạn mà Thánh Phao-lô từng dành cho chúng. Nhìn chung, cả hai Thân Thể chắc chắn vẫn sống động, nhưng không phải vậy trong từng chi thể. Vả lại, ngay cả Thân Thể vật chất của Chúa Ki-tô đã bước vào Thiên Đàng chỉ được tôn vinh trong các thành phần cấu tạo chính thức, chứ không phải trong tất cả các bộ phận tự nhiên của nó, nhiều bộ phận trong số đó đã bị mất hoặc thay đổi theo thời gian, như chúng ta cũng nhận thấy trong chính thân thể của mình vậy. Vì thế, có đủ chính xác khi nói rằng toàn bộ Nhiệm Thể sẽ được cứu độ trong các bộ phận cấu thành của nó, vì rằng mọi phẩm trật trong Giáo Hội Công Giáo – tông đồ, ngôn sứ, thầy giảng, cha giải tội, trinh nữ,… – sẽ đại diện cho những người được cứu độ. Tuy nhiên, không phải tất cả các phần tử hữu hình của nó, tức là mọi thành viên đếm được của Nhiệm Thể, sẽ đạt tới ơn cứu độ này.”2

Phái Calvin và Nhiệm Thể

Một lập luận khác, đặc biệt là của những người thuộc phái Calvin, cho rằng Giáo Hội duy nhất có thể đặt Chúa Ki-tô làm Đầu, là Giáo Hội mà cuối cùng Người sẽ cứu và “đứng trước nhan Người trong Ngày Phán Xét – [ở một tình trạng] vinh quang và không hề có nếp nhăn hay tỳ ố” như đã được Thánh Phao-lô mô tả trong Ep 1,22-23. Tuy nhiên, vì chỉ những người được Thiên Chúa tiền định mới được cứu độ và được tôn vinh, nên chỉ có họ mới được coi là thành viên trong Hội Thánh Chúa Ki-tô.

ĐHY Bellarmine trả lời: “Tất cả tùy thuộc vào cách bạn hiểu [về danh xưng] ‘Hội Thánh của Người.’ Nếu nó được hiểu là Chúa Ki-tô chỉ làm Đầu của ‘Hội Thánh’ mà Người sẽ cứu, thì mệnh đề đó là sai. Chúa Ki-tô là Đầu của toàn bộ Nhiệm Thể, bất chấp thực tế bi thảm là một số người hiện đang là thành viên trong đó, sẽ hư mất đời đời. Nhưng nếu ‘Hội Thánh của Người’ được hiểu là bao gồm toàn thể tín hữu được phân biệt với xã hội của những người không tin Chúa, thì mệnh đề này là đúng, trong khi kết luận được suy ra từ đó là sai. Vì mặc dù một số thành viên của Hội Thánh này sẽ không được cứu độ, nhưng thật sai lầm khi kết luận rằng do đó, Chúa Ki-tô không cứu Hội Thánh mà Người là Đầu.”3

Tuy nhiên, ĐHY Bellarmine không giới hạn khái niệm của ngài về Nhiệm Thể trong phạm vi Giáo Hội hữu hình trên trái đất. Nhiệm Thể của Chúa Ki-tô bao gồm ba “Giáo hội” – Giáo Hội Tại Thế, Giáo Hội Đau Khổ và Giáo Hội Khải Hoàn. Ngài có ít thiện cảm với những người từ chối tư cách thành viên trong Thân Thể Chúa Ki-tô so với các linh hồn trong Luyện ngục và các Thánh trên Thiên Đàng, giống như [thái độ] ngài đã có đối với bất cứ ai hạn chế tư cách thành viên đó trong phạm vi những người được tiền định, những người được chọn hoặc mở rộng quyền cho những người chỉ được hiệp nhất bởi một đức tin chung chung, đức tin tại tâm vào Chúa Ki-tô.

ĐHY Bellarmine bảo vệ việc tôn vinh các Thánh

Để bảo vệ Chúa Giê-su Thánh Thể trước sự công kích của những người thuộc phái Calvin, Thánh Robert đã phải trả lời một số cáo buộc của họ về thói quen truyền thống là dâng Của Lễ Hy Sinh để tôn vinh các vị Thánh. Ngài giải thích rằng thành kiến ​​của những người Tin Lành chống lại thực hành này xuất phát từ hai sai lầm căn bản trong thần học của họ: thứ nhất, họ hiểu sai về Giáo lý Công Giáo, nơi họ cho rằng chúng ta dâng Thánh lễ giống như một hành động tôn thờ các Thánh thay vì Thiên Chúa; thứ hai, họ đặt ra giới hạn không chính đáng đối với tư cách thành viên trong Nhiệm Thể. Ngài nói: “Thực hành dâng Thánh lễ để tôn vinh các Thánh đặc biệt thích hợp như một sự bày tỏ công khai niềm tin của chúng ta vào sự Thông công của các ngài. Sự hy sinh của Thân Thể vật chất của Chúa Ki-tô cũng chính là sự hiến dâng của Nhiệm Thể được hiệp nhất của Người. Hơn nữa, vì chúng ta không ngần ngại nhắc đến tên của những người còn đang sống, chẳng hạn như Giáo Hoàng và Giám mục, trong nghi thức Thánh lễ, tại sao chúng ta lại không nhớ đến những người tín hữu đã qua đời đang ở trên Thiên Đàng hay trong Luyện ngục, khi tất cả họ đều thuộc về cùng một Thân Thể của Chúa chúng ta? Theo Thánh Augustinô, không có cách nào tốt hơn để hoàn tất mục đích cao cả duy nhất của Hy Lễ Thánh Thể hơn là nó có thể tượng trưng cho hy lễ phổ quát, trong đó, toàn bộ Nhiệm Thể Chúa Ki-tô – toàn bộ Thành phố của Chúa đã được khôi phục – được dâng lên bởi bàn tay của Vị Thượng Tế vĩ đại để tôn vinh Cha Trên Trời. Một khi chúng ta nhận ra các Thánh, không kém hơn chúng ta, được hiệp nhất một cách hữu cơ với Nhiệm Thể, thì việc tưởng nhớ các ngài không chỉ thích hợp, mà còn rất cần thiết trong thời gian cử hành Hy Tế Thánh.”4

Tư cách thành viên trong Nhiệm Thể

Tuy nhiên, nói chung, khi ĐHY Bellarmine nói về Nhiệm Thể, ngài chỉ nghĩ tới nhánh đầu tiên trong số ba nhánh của nó, Giáo Hội Tại Thế – hay nói cách khác, là tổ chức hữu hình của Giáo Hội Công Giáo Rô-ma. Chính vì thế, khi trả lời câu hỏi tinh vi của những người dị đoan chống Công Giáo, ngài đã bác bỏ học thuyết của Calvin, người cho rằng những ai đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội rồi lại đánh mất đức tin, thì bất chấp lời tuyên xưng bên ngoài và những hành vi phù hợp với thực hành Ki-tô Giáo của mình, người đó không còn là thành viên trong Thân Thể hữu cơ của Chúa Ki-tô nữa. Ngài nhìn nhận: “Quả nhiên là đúng khi cho rằng một đức tin chân thành chứ không phải lời tuyên xưng đơn thuần bề ngoài là bắt buộc nếu chúng ta muốn kết hiệp nội tại với Thân Thể Chúa Ki-tô, tức là Giáo Hội… Nhưng ngay cả với người chỉ đưa ra một lời tuyên xưng bề ngoài cùng với các tín hữu còn lại – những chi thể đích thực, thì người ấy cũng vẫn là một chi thể, mặc dù khô bại, trong Thân Thể của Giáo Hội.”5 Theo đó, Nhiệm Thể của Chúa Ki-tô, tức Giáo Hội Công Giáo Rô-ma, sẽ bao gồm các thành viên là tất cả những người đã được rửa tội và những người chí ít đã thực hành và tuyên xưng đức tin chân chính ra bên ngoài. Các nhà chú giải Mystici Corporis đặc biệt lưu ý đến thực tế rằng, sau nhiều thế kỷ tranh cãi về chủ đề này, ĐGH Piô XII đã chấp thuận một cách có thẩm quyền đối với giáo lý của ĐHY Bellarmine về những điều cần thiết tối thiểu để trở thành chi thể trong Nhiệm Thể Chúa Ki-tô – giống như một diễn giải trong cuốn De Conciliis vol. III của vị Tiến sĩ Hội Thánh. Theo lời Đức Giáo Hoàng, “chỉ những người thực sự được kết nạp làm thành viên của Giáo Hội, những người đã được rửa tội và tuyên xưng đức tin chân chính và không rút khỏi sự hiệp nhất với Thân Thể, hoặc bị thẩm quyền hợp pháp khai trừ vì những lỗi nghiêm trọng. Bởi trong cùng một Thần Khí duy nhất, tất cả chúng ta đã được rửa tội để bước vào một Thân Thể duy nhất.”6

Tội nhân là những chi thể của Nhiệm Thể

John Wyclif và sau ông là những người theo đạo Tin Lành nói chung, cho rằng tất cả những người được nên công chính trong tình trạng ân sủng, và chỉ họ, mới là thành viên của Nhiệm Thể. Ngay cả các nhà thần học Công giáo như de Soto và Cano, khi giải thích để cho thấy tội nhân là chi thể của Thân Thể Chúa Ki-tô, cũng đưa ra một kiểu tư cách thành viên tương tự. Họ thừa nhận rằng những người được rửa tội nhưng sống trong tình trạng tội lỗi có thể được gọi là “tín hữu” và “Ki-tô hữu”, nhưng chỉ theo nghĩa là họ được gắn lại bề ngoài cách nào đó với Thân Thể Giáo Hội. Họ lập luận: “Không chỉ các cơ quan và tứ chi, mà cả các chất do cơ thể bài tiết ra, răng, tóc, và những thứ tương tự, tất cả đều thuộc về cơ thể.” ĐHY Bellarmine không chấp nhận quan điểm này. “Nếu những gì họ nói là đúng, thì hậu quả thật là khôn lường. Một Giáo Hoàng gian ác sẽ không phải là người đứng đầu Giáo Hội, và các Giám mục khác, nếu có tội, cũng không phải là người đứng đầu Giáo phận tương ứng của mình. Vì người đứng đầu không phải là chất bài tiết hay tóc được, nhưng là một chi thể của cơ thể – mà thực sự, chính là chi thể quan trọng nhất.”

“Vì thế, để giải quyết khó khăn, chúng ta phải phân biệt hai nghĩa khác nhau có thể được hiểu về từ ‘chi thể’. Nó có thể được hiểu theo nghĩa hẹp [mạnh và khắc] để chỉ chi thể tự nó, trong bản chất (essence) và bản thể (substance). Hoặc nó cũng có thể được hiểu theo nghĩa là một môi thể (medium) trong hoạt động mà cơ thể vận hành. Do đó, lấy ví dụ, mắt của một con người và mắt của một con ngựa là khác nhau cách rõ ràng về mặt bản thể hay thực thể (entity), vì chúng được đặt để trên những linh hồn đặc biệt khác nhau. Nhưng nếu xét như những khí cụ động lực học, chúng rõ ràng rất giống nhau, vì cả hai đều có chung mục đích và đối tượng hoạt động — cả hai đều hướng đến sự nhận biết cảm quan về màu sắc.

“Một Giám mục gian ác, một linh mục xấu xa, một giáo dân trong tình trạng tội lỗi nghiêm trọng là những chi thể đã chết của Thân Thể Chúa Ki-tô, và do đó, không phải là chi thể thực sự, nếu chúng ta hiểu từ ‘chi thể’ theo nghĩa hẹp của một bộ phận thiết yếu cấu thành cơ thể sống. Tuy nhiên, chính những ‘chi thể đã chết’ này lại là những chi thể rất quan trọng nếu chúng ta coi họ như những khí cụ trong hoạt động của Giáo Hội. Vì vậy, Đức Giáo Hoàng và các vị Giám mục là những người đứng đầu thực sự; các giáo lý viên, các nhà truyền giáo là mắt và lưỡi thực sự của Thân Thể Chúa Ki-tô, ngay cả khi họ đã đánh mất ân sủng của Thiên Chúa. Vì trong khi một Ki-tô hữu trở thành chi thể sống động của Thân Thể Chúa Ki-tô nhờ Đức ái, thì trong sự Quan phòng của Đấng Sáng Tạo, các khí cụ vận hành trong Giáo Hội được tạo nên bởi quyền lực tới từ phẩm trật và quyền hạn — vốn là những thứ có thể đạt được và thi hành ngay cả bởi một người, dưới tư cách cá nhân, là thù địch của Thiên Chúa.

“Do đó, có sự khác biệt rất lớn giữa một cơ thể vật lý, nơi một chi thể đã chết không thể đóng vai trò như một khí cụ quan trọng, và Nhiệm Thể siêu nhiên, nơi điều đó không những có thể xảy ra, mà còn thực sự xảy ra. Để giải thích nghịch lý, chúng ta nên nhớ lại rằng trong các cơ thể tự nhiên, hoạt động của chúng hoàn toàn phụ thuộc vào sức khỏe và sự lành mạnh của các cơ quan mà chúng điều khiển. Còn Nhiệm Thể của Chúa Ki-tô có thể vận hành độc lập với nhân đức và sinh khí của các chi thể, vì linh hồn của Thân Thể này, tức Chúa Thánh Thần, có thể hoạt động như nhau qua những khí cụ tốt cũng như xấu, qua những khí cụ còn sống cũng như đã chết.”7

Chúa Ki-tô và Đức Ma-ri-a trong Nhiệm Thể

Trong bảy năm, từ năm 1568, ĐHY Bellarmine giảng dạy thần học tại Đại học Louvain, nơi ngài đã gặp gỡ và dẫn dắt thành công Michael de Bay, cha đẻ phái Baian và là tác giả của học thuyết nguy hiểm cho rằng con người có thể sống đời bạn hữu với Thiên Chúa ngay cả trước khi được rửa tội và không cần phải lãnh nhận ơn tha thứ. Trong thời gian này, ngài cũng giảng lễ hàng tuần tại Nhà thờ chính tòa Louvain cho một cộng đoàn hỗn hợp bao gồm cả người Công Giáo và người không Công Giáo, có những người đã lặn lội từ nước Anh xa xôi tới Louvain chỉ để được nghe lời ngài. Khoảng một trăm bài giảng trong số này đã được ghi chép lại cho chúng ta, trong đó, có một bài giảng về Đức Trinh Nữ Ma-ri-a nhân ngày Lễ Sinh Nhật Mẹ. Theo lời Thánh Robert, đây là bài giảng nhắm tới một bài giảng khác của Martin Luther cách đó không lâu, khi ông ta công kích sự thánh thiện của Mẹ Thiên Chúa cách bất xứng: “Bà ấy không có quyền năng cầu bầu cùng Chúa hơn bạn hay tôi, vì bà ấy không có gì thánh thiện hơn chúng ta cả.” Và ĐHY Bellarmine đã tung ra đòn phản công có lẽ là đau điếng nhất mà người ta có thể tìm thấy trong tất cả các tác phẩm còn được lưu giữ của ngài. Tuy nhiên, tuyệt vời hơn cả, đây chính là dịp mà vị Tiến sĩ Hội Thánh đã tận dụng nhằm bày tỏ vị trí siêu vượt của Đức Ma-ri-a trong Nhiệm Thể Con của Mẹ.

“Hội Thánh là Thân Thể đẹp đẽ và oai nghiêm nhất, nơi Chúa Ki-tô, Đấng vừa là Thiên Chúa, vừa là con người, đóng vai trò là Đầu. Như Tông đồ Phao-lô quả quyết: ‘Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh’ (Ep 1,22). Nhưng Đầu là gì? Vâng, đó là khởi nguồn (principle) và là sức mạnh [có chức năng] điều khiển[, chi phối toàn bộ] Thân Thể. Vì thế, Chúa Ki-tô chính là Đầu, như Người nói với chúng ta: ‘Thầy là khởi nguồn, người đang nói với con đây’. Vậy đầu trổi vượt hơn các chi thể khác của cơ thể ở điểm nào? Ở đây, đó là, trong khi phần còn lại của cơ thể chỉ sở hữu một giác quan thể lý và là giác quan thấp kém nhất, thì đầu lại được tặng ban với tất cả các giác quan, bao gồm xúc giác. Do đó, Chúa Ki-tô là Đầu trong Đấng là mắt của sự Quan Phòng, nhờ đó, Người để mắt tới chúng ta; là tai của Lòng Thương Xót, nhờ đó, Người lắng nghe những lời chúng ta cầu nguyện; là mũi của sự Công Bình, nhờ đó, sau giờ lâm tử, Người sẽ tách biệt người lành khỏi kẻ dữ, tìm ra kẻ sống trong hàng ngũ chúng ta; và là miệng là của kinh nghiệm, nhờ đó, Người thử luyện các nhân đức và lòng trung thành của mọi con người, từ kẻ nhỏ nhất đến người lớn nhất.

“Chức năng đặc biệt của đầu là gì? Là mang lại cảm giác và chuyển động cho các chi thể khác. Vậy, Chúa Ki-tô là Đầu vì Người tự do trao ban sự sống và chuyển động, tức là Đức tin, Đức ái và mọi nhân đức khác cho các tín hữu trung thành, những người hợp thành Thân Thể. Và mặc dù đôi khi, ở một mức độ hạn chế, Người cho phép, hay đúng hơn, ủy thác, cho con người thực hiện chức năng của một số giác quan (như thị giác đối với các giáo lý viên; tiếng nói đối với các nhà truyền giáo; thị giác, khứu giác, thính giác đối với các vị mục tử), Người luôn dành cho chính mình quyền năng trao ban sự sống và chuyển động, đó là đặc quyền dành riêng cho đầu của mọi cơ thể.”8

[Sau khi chất vấn Luther về việc ông tự đặt mình ngang hàng về mặt nhân đức với Mẹ Thiên Chúa dù đã bỏ cả ba lời khấn khó nghèo, vâng phục và khiết tịnh], ĐHY Bellarmine chỉ ra rằng, “Đầu của Giáo Hội Công Giáo là Chúa Ki-tô, và Đức Ma-ri-a chính là phần cổ để nối liền Đầu với Thân Thể Hội Thánh.” Chính “Thiên Chúa đã lệnh cho mọi ân huệ và ân sủng, vốn phát xuất từ Chúa Ki-tô là Đầu, phải truyền qua Đức Ma-ri-a để tuôn xuống Thân Thể Hội Thánh. Ngay cả cơ thể vật lý cũng có nhiều chi thể ở các bộ phận khác nhau — như hai bàn tay, đôi vai và hai bàn chân — nhưng chỉ có một đầu và một cổ. Do đó, [mặc dù] Hội Thánh có nhiều vị Tông đồ, nhiều chứng nhân tử đạo, nhiều vị tuyên tín và nhiều trinh nữ, nhưng chỉ có một Đầu, là Con Thiên Chúa, và một mối dây liên kết giữa Đầu với các chi thể, là Mẹ Thiên Chúa. Nhờ những công phúc trổi vượt của mình trước mặt Chúa, Đức Trinh Nữ Ma-ri-a có vị trí gần với Đầu của Nhiệm Thể hơn bất cứ thụ tạo nào khác; quả không ngoa khi nói rằng Mẹ kết hiệp Đầu với Thân Thể, và vì thế, qua Mẹ, trước tất cả các chi thể khác, những phúc lộc trên trời từ Chúa Ki-tô, Đấng là Đầu, tuôn đổ xuống chúng ta, những người là chi thể của Chúa.”9

Chúa Thánh Thần trong Nhiệm Thể

Từ ba thế kỷ trước Thông điệp Mystici Corporis, nơi ĐGH Piô XII xác định Chúa Thánh Thần là nguyên lý vô hình của sự sống trong Nhiệm Thể, ĐHY Bellarmine đã tuyên bố: “Trái Tim, nằm ở trung tâm của Cơ Thể, –và mặc dù không nhìn thấy được, lại nuôi dưỡng một cách mầu nhiệm những bộ phận được nhìn thấy,– chính là Chúa Thánh Thần. Vì Người không mặc lấy xác phàm, và do đó, không hiện diện hữu hình, giống như Đầu, là Đức Ki-tô Chúa chúng ta. Thế nên, sẽ là rỗng tuếch khi có người liều lĩnh khẳng định rằng ông Men-ki-xê-đê hay một trong các vị ngôn sứ là Chúa Thánh Thần. Không, Thần Khí của Chúa Ki-tô không được nhìn thấy bằng đôi mắt trần tục của con người, nhưng chính Người là Đấng cai quản, nuôi dưỡng và giữ gìn Thân Thể Chúa Ki-tô, tức là Giáo Hội Công Giáo.”10

Các chi thể khác trong Nhiệm Thể

Nếu Giáo Hội mà Chúa Ki-tô thiết lập là Thân Thể của Người, thì Thân Thể này phải có đôi vai, và theo ĐHY Bellarmine, đôi vai này chính là các Tông đồ và các Đức Giáo Hoàng, các Giám mục và linh mục kế vị họ. Ngài viết: “Chúng ta đã quen với việc đặt gánh nặng lên vai mình, và Chúa Ki-tô cũng làm như vậy, bằng cách đặt gánh nặng của việc quản trị Giáo Hội lên vai các Tông đồ và những người kế vị họ trong chức tư tế. Do đó, điều xảy ra tiếp theo, như các Giáo phụ đã luôn nhắc nhở chúng ta, là chức vụ Giám mục không cốt ở phẩm giá cao trọng, nhưng là một trách nhiệm nặng nề. Vì vậy, Vị Mục Tử Tối Cao của các linh hồn, người mang gánh nặng nặng nề nhất, đã tự xưng mình là tôi tớ của các tôi tớ của Thiên Chúa.”11

Ngoài ra, về phần những người đã hy sinh để bảo vệ Giáo Hội trước các cuộc tấn công từ bên ngoài bởi những người ngoại giáo và từ bên trong bởi những kẻ lạc giáo, ĐHY Bellarmine cho rằng: “Các vị tử đạo là gì, nếu không phải là những cánh tay của Thân Thể Chúa Ki-tô – những người nam cũng như nữ đã chiến đấu với thanh gươm Lời Chúa để giành chiến thắng trước những kẻ đối nghịch với Danh Người, bằng cách đổ máu chính họ? Và không riêng các vị tử đạo, cả các giáo lý viên của Chúa Ki-tô cũng là những cánh tay của Thân Thể Người. Cả hai nhóm đều cần thiết như nhau trong việc chiến đấu nhằm chống lại các thế lực tà ác. Trong khi những người ngoại giáo, với tinh thần thờ ngẫu tượng, đã phải chạm trán và bị đánh bại bởi các vị tử đạo; thì những kẻ lạc giáo và bội giáo lại bị khuất phục bởi các giáo lý viên. Nếu kiểu chết đau đớn nhất là tử đạo, thì kiểu sống nguy hiểm nhất chính là giảng dạy sự thật. Chúa Ki-tô đã hứa ban phần thưởng chiến thắng cho cả hai nhóm người này, không chỉ ở trên trời, mà còn ngay trước kẻ thù của họ nơi dương thế.”12

Sau cùng, khi nói về các trinh nữ tận hiến, trong bối cảnh mà Luther không ngừng kêu gọi “các tù nhân của đời sống tu viện” phá bỏ những “xiềng xích” trói buộc họ để sống đời hôn nhân, ĐHY Bellarmine nhận định: “Các trinh nữ là những chi thể quan trọng trong Nhiệm Thể, và một cách tương đồng, họ gần với Thiên Chúa như những bộ phận quan trọng trong cơ thể gần với trái tim. Giá mà những kẻ dâm ô, đam mê và phóng đãng trong số những tên lạc giáo hiểu được đức khiết tịnh trong mắt Thiên Chúa đẹp lòng Người thế nào, giá mà chúng hiểu làm sao họ có thể ‘hát một bài ca mới trước ngai Thiên Chúa mà không ai có thể học được’, và ‘Con Chiên đi đâu, họ cũng đi theo đó’ (Kh 14,3-4). Giá mà chúng đọc được lời Chúa đã phán hứa qua miệng ngôn sứ I-sai-a: ‘Người bị hoạn chớ nói: “Chính tôi đây là một cây khô.” Quả vậy, ĐỨC CHÚA phán như sau: Nếu những người bị hoạn mà vẫn giữ các ngày sa-bát Ta truyền, và lựa chọn điều Ta ưa thích, cùng tuân thủ giao ước của Ta, thì trong nhà và trong tường lũy của Ta, Ta sẽ cho chúng được lưu danh và có đài kỷ niệm; như thế còn quý hơn con trai con gái. Ta sẽ cho tên tuổi chúng trường tồn, không bao giờ bị ai xóa bỏ.’(Is 56,3-5). Nhưng những kẻ thù địch với Giáo Hội sẽ không đọc và sẽ không hiểu. Giá mà chúng nhận ra rằng, bằng cách ép buộc các trinh nữ đã thánh hiến phải kết hôn, chúng đang xé nát chính những khúc ruột nơi Nhiệm Thể và cướp đi những gì thân yêu nhất mà Nhiệm Thể sở hữu. Tôi nói, giá mà chúng nhận ra điều này, chúng sẽ không dễ dàng làm hư đầu óc của giới trẻ bằng thứ giáo lý hiểm ác từ những kẻ phản Ki-tô Giáo về đời sống độc thân.”13

Kết luận

Thần học của ĐHY Bellarmine về Nhiệm thể Chúa Ki-tô rõ ràng không phải là môn thần học khô khan trên sách vở, một trong số những hệ quả thực tiễn mà ngài thu được từ việc kết hiệp chúng ta trong Chúa Ki-tô chính là động cơ để thúc đẩy thực thi tình bác ái huynh đệ.

Ngài nói: các Thánh trên Thiên Đàng cầu bầu cho các linh hồn trong Luyện ngục, vì cả hai đều là chi thể trong cùng một Thân Thể. Các linh hồn trong Luyện ngục cầu nguyện cho nhau; các Thánh và các linh hồn đáng thương cầu bầu cho chúng ta; và chúng ta lại cầu nguyện cho nhau dưới đất, cũng như cầu xin những ân huệ từ các Thánh trên trời, và cầu nguyện cho các linh hồn trong Luyện ngục vì “cùng với họ, chúng ta tạo thành một Giáo Hội và một Thân Thể, được liên kết bởi mối dây của cùng một Đức ái trong Vương quốc của Chúa Ki-tô.”14


Chú thích

1 Mystici Corporis, English Translation (American Press, 1943), p. 24.

2 De Ecclesia Militante, lib. III, cap. 7.

3 Ibid.

4 De Eucharistia, lib. VI, cap. 8.

5 De Conciliis, lib. III, cap. 10.

6 Mystici Corporis, p. 12.

7 De Ecclesia Militante, lib. III, cap. 7.

8 Concio xlii de Nativitate B.V.M.

9 Ibid.

10 Ibid.

11 Ibid.

12 Ibid.

13 Ibid.

14 De Indulgentis, lib. I, cap. 14.


Lược dịch từ bài viết “St. Robert Bellarmine on the Mystical Body of Christ” của Tôi tớ Chúa John Anthony Hardon S.J. trên Ignatius Press năm 2000.