Những “nhà thần học hàng đầu”

“Học giả hàng đầu”, “nhà văn hàng đầu” hay một kiểu “hàng đầu” nào khác tương tự như vậy, là những thuật ngữ đã quen thuộc với chúng ta ngày nay. Chúng có tác dụng gợi ý cho người nghe về sự khác biệt và thành tựu của nhân vật được nói tới so với phần còn lại trong lĩnh vực của mình. Nhưng hình ảnh mà chúng truyền tải không đầy đủ. Để trở thành hàng đầu, dẫn đầu hay dẫn đường, xét cho cùng, là phải dẫn dắt ai đó hoặc điều gì đó trong một vấn đề nào đó. Quả thế, việc gọi ai đó là “nhân vật hàng đầu” không chỉ đơn giản là để công nhận thành tựu của người ấy mà còn mang trong nó một hàm ý trách nhiệm. Và trách nhiệm của một người dẫn đầu đích thực là gì? Nghịch lý thay, đó là một người đi theo đích thực – tức là bước theo con đường chân chính để từ đó, dẫn dắt người khác cùng đi đúng hướng với mình.

Những “nhà thần học hàng đầu” và lòng đạo đức bình dân

Trong Giáo Hội Công Giáo, chúng ta có những “nhà thần học hàng đầu”, và trong ba thập kỉ qua, những người giáo dân, ngay cả khi không biết gì về thuyết Nhất tính, thuyết Nhị nguyên, Công đồng Chalcedon hay Công đồng Trentô, cũng đã học được cách phải tự hỏi xem rốt cuộc các chuyên gia hàng đầu của mình đang dẫn mình đi đâu. Tôi nhớ vào năm 1967, khi tôi tham gia một lớp đào tạo cho các giáo dân – những người tương lai sẽ đảm nhận việc giảng dạy các lớp Ái hữu Học thuyết Ki-tô Giáo (CCD) cho trẻ em. Người hướng dẫn chúng tôi là một nhà thần học được Giáo phận bổ nhiệm, ông đã đưa ra một tuyên bố kỳ lạ ngay từ giai đoạn đầu của khóa học. Ông cho chúng tôi biết rằng một điều thiếu sót ở “những người Công Giáo ngày nay” là họ có xu hướng quá nhấn mạnh đến Thiên tính của Chúa Ki-tô mà bỏ quên Nhân tính của Ngài. Theo đó, trong việc dạy giáo lý hiện đại, cần phải dành cho bản tính này sự nhấn mạnh nhiều hơn.

Điều này đối với tôi có vẻ không chỉ sai, mà còn sai hoàn toàn. Ông ấy đã nhìn ra xung quanh mình chưa? Thế giới hiện đại, bị thuyết phục bởi một chủ nghĩa duy vật dễ dãi – xây dựng từ chủ nghĩa khoa học sai lầm tự xưng là khoa học chân chính – một cách kiêu ngạo, chỉ chấp nhận những gì có vẻ đã được kiểm chứng bằng kinh nghiệm. Sự khẳng định của Giáo Hội về Thiên tính của Chúa Giê-su, nói một cách chính xác, không thể được xác minh về mặt khoa học cũng như lịch sử (mà nếu được, có lẽ tất cả mọi người đã trở thành Ki-tô hữu), và thậm chí ngay cả Nhân tính của Ngài cũng đã bị tấn công bởi những lập luận hoài nghi dai dẳng cho rằng Ngài chỉ là một huyền thoại. Nhân tính của Chúa Giê-su có thể là điều mà con người hiện đại sẽ thừa nhận ở Ngài, nhưng chắc chắn họ sẽ chỉ dừng lại ở đó mà không có gì hơn, vậy tại sao việc giảng dạy giáo lý lại phải nhấn mạnh đến Nhân tính này? Đối với tôi lúc đó (và dường như cho tới bây giờ), việc giúp cho mọi người tin vào Thiên tính của Chúa Ki-tô là điều căn bản nhất trong tất cả các nhiệm vụ của việc biện hộ và truyền bá Đức tin Ki-tô Giáo. Cảm thấy thực sự bối rối khi nghe một giáo lý viên Công Giáo khẳng định rằng việc nhấn mạnh Thiên tính của Chúa Ki-tô lại là một “vấn đề”, tôi đã cố gắng chuyển tải mối quan tâm của mình với ông ấy qua một cuộc đối thoại. Nhưng ông ấy chỉ đơn giản là không quan tâm gì đến quan điểm của tôi.

Và chỉ đến gần đây, tôi mới hiểu rằng người giáo lý viên này đã bị dẫn vào một niềm tin không thể lay chuyển khi đi theo các nhà thần học hàng đầu của thế hệ trước. Cuốn sách A New Song for the Lord (Một bài ca mới cho Chúa), một tác phẩm xuất sắc của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger (Đức Bê-nê-đích-tô XVI), đã cung cấp cho tôi cái nhìn sâu sắc này, đồng thời, gợi ra một câu hỏi hấp dẫn rằng: Rốt cuộc các “nhà thần học hàng đầu” đã dẫn người ta đi đâu, ai là người theo họ và tại sao họ lại đi theo? Đức Hồng Y Ratzinger kể lại rằng các nhà thần học của thế hệ ngay trước Công đồng Vaticanô II như Karl Adam (1876-1966), Josef Andreas Jungmann (1889-1975) và xuất sắc hơn cả là Karl Rahner (1904-1984), đều viết rằng lòng sùng kính và các thực hành đạo đức của những người Công Giáo bình thường có xu hướng tập trung rất ít vào hình ảnh con người sống động của Chúa Ki-tô trong Tin Mừng, và rằng sự tập trung của lòng đạo đức bình dân vào một Đức Ki-tô thần thánh như vậy là hiện thân của một “mối nguy hiểm” đối với Đức tin. Họ cảnh báo rằng đây là sự mất cân bằng trong niềm tin đúng đắn vào Thiên Chúa Ba Ngôi và dẫn đến một kiểu thực hành theo phái Nhất tính (Nhất tính hay Monophysite là lạc giáo cho rằng trong Chúa Ki-tô chỉ có Thiên tính thay vì có cả Nhân tính). Theo Đức Hồng Y Ratzinger, Jungmann đã cảm thấy một cách tường tận rằng trong lời cầu nguyện của các Ki-tô hữu, luôn có “một loại động lực Nhất tính mà ông đã không ngừng cố gắng để đưa ra trong phân tích của mình về lòng đạo đức bình dân ở thời đại của ông.”

Những người này, những người mà Đức Hồng Y Ratzinger gọi là “dẫn đầu trong lĩnh vực thần học”, đã viết những cuốn sách “đào tạo ra cả một thế hệ học giả và linh mục.” Rahner chắc chắn là người có ảnh hưởng lớn nhất trong số tất cả các nhà thần học tại Vaticanô II và sau đó. Các quan điểm của ông có tác động mạnh mẽ không chỉ đối với Công đồng mà còn đối với cách Công đồng được giải thích và thực hiện trong ba thập kỷ qua. Và đối với Rahner, cũng như đối với các đồng nghiệp ưu tú của ông, việc nhấn mạnh quá nhiều đến Thiên tính của Chúa Ki-tô được coi là một “vấn đề” đối với Giáo Hội. Chà, nếu như nhà thần học hàng đầu thời đó thấy nó là một vấn đề, thì chắc chắn những học trò được đào tạo qua lời dạy của ông cũng có thể có chung quan điểm như vậy. Đây chắc chắn là nơi mà người giáo lý viên 30 năm trước của tôi đã tìm ra ý tưởng khiến tôi bối rối.

Dĩ nhiên, việc các nhà thần học có ảnh hưởng trong Giáo Hội nghi ngờ về lòng đạo đức bình dân không có nghĩa là Ki-tô học của Công đồng Vaticanô II có điều gì sai. Nhưng rõ ràng, trong bầu khí sôi động của những ngày “aggiomamento” (cập nhật), người ta đã thấy sự xuất hiện của ý tưởng cho rằng lòng đạo đức bình dân và những thực hành của nó, đối với người Công Giáo, là một sai lầm. Ý tưởng này thậm chí có thể được người ta gọi là ý tưởng thời thượng và sẽ còn tồn tại dai dẳng về sau.

Cho tới ngày nay, khoảng một thế hệ sau Công đồng Vaticanô II, chúng ta đã thấy những người được đào tạo một cách tinh vi về thần học nhằm mục đích làm suy yếu lòng đạo đức bình dân truyền thống, đã thành công trong công việc đáng ngờ của họ hơn là trong việc thiết lập những cải cách tích cực và chính đáng của Công đồng. Đức Hồng Y Ratzinger nói rằng (hãy nhớ là ngài đang nói về những người cố vấn của mình):

“Họ đánh giá tình hình khi ấy, ở mức độ nào đó, có thể vẫn là một vấn đề bỏ ngỏ; nhưng mối nguy hiểm ngày nay [như chúng ta thấy], rõ ràng đã diễn tiến [theo chiều hướng] ngược lại hoàn toàn. Không phải thuyết Nhất tính đang đe dọa Ki-tô Giáo, nhưng là một lạc thuyết Arius [học thuyết phủ nhận Thiên tính của Chúa Ki-tô] hoặc… ít nhất, một lạc thuyết Nestorius [học thuyết cho rằng có hai Ngôi vị riêng biệt trong Chúa Ki-tô] kiểu mới, đã đồng thời xuất hiện cách tình cờ với một trào lưu bài trừ ảnh tượng [Iconoclasm] dưới dạng logic nội tại.”

Và quả thực, trào lưu bài trừ ảnh tượng mới mà chúng ta đang đề cập ở đây, điều mà những người Công Giáo Hoa Kỳ đã được trải nghiệm quá sâu sắc trong hàng loạt cải tiến phụng vụ và những thứ mới lạ, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hạ thấp hoặc bãi bỏ nhiều thực hành sùng đạo truyền thống. Trào lưu này đã thành công ở một mức độ lớn hơn so với những gì mà những kẻ thù công khai của Giáo Hội có thể hy vọng. Không một người Công Giáo nào sống từ cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970 có thể quên được tần suất và mức độ mà các tín hữu được dạy về việc: Lần Hạt Mân Côi, Tuần Cửu Nhật, Chầu Mình Thánh, Tháng Hoa Dâng Mẹ, Áo Đức Bà, hay thậm chí là Đi Đàng Thánh Giá,… đã không còn phù hợp và cần thiết trong kỷ nguyên của việc “tham gia tích cực” vào phụng vụ.

Một lần nữa, người ta tự hỏi rằng liệu các “nhà thần học hàng đầu” và các môn đệ của họ có mở rộng tầm mắt ra thế giới xung quanh hay không. Tại sao những thực hành sùng kính mà rất nhiều tín hữu đã tham gia một cách tích cực lại không được coi là “tham gia tích cực”? Hơn nữa, làm thế nào mà một lời cầu nguyện, chẳng hạn như Kinh Mân Côi, vốn tập trung vào các sự kiện trong cuộc đời của Chúa Giê-su Nhập Thể và Mẹ Người, lại đưa những người lần hạt đến biên giới của thuyết Nhất tính? Và làm thế nào mà việc thực hành cầu nguyện và suy gẫm khi Đi Đàng Thánh Giá, vốn tập trung tuyệt đối vào câu chuyện hoàn toàn nhân bản về Cuộc Thương Khó và Cái Chết của Con Người Chúa Giê-su, lại khiến các tín hữu không hiểu đúng về Nhân tính của Người?

Tôi cho rằng đỉnh cao của lòng đạo đức bình dân (và bây giờ là lòng đạo đức thương mại) là Lễ Giáng Sinh, từ lâu đã trở thành lễ hội tôn giáo chính trong năm. Mặc dù sự tập trung mà người ta dành cho ngày lễ này có thể bị chỉ trích dựa trên cơ sở thần học hợp lệ cho rằng nó có xu hướng làm giảm mối quan tâm vào Lễ Phục Sinh, nhưng chắc chắn điều cuối cùng mà việc kỷ niệm một cách rộng rãi sự ra đời của Chúa Giê-su trong hình ảnh một hài nhi có thể gợi ra đối với các “nhà thần học hàng đầu”, là việc nó nhấn mạnh quá mức vào bản tính Thiên Chúa của Chúa Giê-su Ki-tô.

Trong sự mất niềm tin dưới một nền văn hóa bán ngoại giáo ngày nay, niềm tin vào Thiên tính của Chúa Giê-su Ki-tô đã không còn là một điều gì đó cần phải được tuyên bố, được khẳng định và được giáo dục lại cho các thế hệ kế cận; thay vào đó, nó có thể bị các “nhà thần học hàng đầu” coi là một vấn đề rất đáng lo ngại đối với các tín hữu Công Giáo – những người mà theo họ, phải lệ thuộc vào những người dẫn đầu để có thể được họ dắt đi đúng hướng. Có vẻ rõ ràng là các vị cao nhân này đã không chỉ sai mà còn sai một cách hoàn toàn, sai một cách đáng tiếc. Nhưng dù có muốn hay không muốn, chúng ta cũng phải chấp nhận thực tế rằng mình đã bị họ dẫn dắt đến nơi mà họ muốn chúng ta phải tới. Như Đức Hồng Y Ratzinger viết, “lòng đạo đức bình dân của những năm 1920, mà cả Karl Adam và Jungmann đều nhắc đến trong các nhận xét phê bình của họ, đã không còn tồn tại nữa”.

Với việc mất đi lòng đạo đức bình dân và không còn chú trọng đến Thiên tính của Chúa Ki-tô, người Công Giáo chúng ta đã thực sự được “hiện đại hóa”. Giờ đây, con người hiện đại có xu hướng tin rằng họ có thể tự mình tìm ra “con đường” riêng để dẫn tới một “sự thật” tương đối nào đó đủ cho “sự sống” mà họ tự định nghĩa. Chúa Giê-su không còn là đường, là sự thật, là sự sống và người ta cũng không cần Ngài xuống thế để cứu độ mình nữa. Họ tự hỏi: “Chúa cứu chúng ta khỏi cái gì?”. Liệu có phải các “nhà thần học hàng đầu” đã dẫn người Công Giáo hiện đại đến một nơi mà họ không còn đủ sức đưa ra một câu trả lời đủ sức thuyết phục cho câu hỏi đó hay không?

Bất đồng với Humanae Vitae

Như tôi đã đề cập, lớp giáo lý mà chúng tôi được đào tạo diễn ra trong năm 1967. Và khoảng 1 năm sau, vào tháng 7 năm 1968, Thánh Giáo Hoàng Phao-lô VI đã cho công bố cuốn Humanae Vitae (Thông điệp về Sự sống con người). Trong đó, ngài tái khẳng định và xác nhận giáo huấn truyền thống và chặt chẽ của Giáo Hội về các biện pháp tránh thai nhân tạo. Thông điệp này, ngay sau đó, đã vấp phải sự phản đối dữ dội và sôi sục trên quy mô rộng rãi ở cả trong và ngoài Giáo Hội; những đối thủ quen thuộc của Hội Thánh đã lập tức chớp lấy thời cơ nhằm cổ vũ và gây thêm sự chia rẽ. Trong số những tiếng nói bất đồng hăng hái nhất, người ta dễ dàng nhận ra khuôn mặt của các “nhà thần học hàng đầu” và theo sau họ là những tín hữu khác, trong đó, có người giáo lý viên năm xưa của chúng tôi. Cũng từ năm 1968, sự phản đối dành cho Humanae Vitae từ phía các nhà thần học hiện đại sành sỏi ở Hoa Kỳ đã được chuyển sang chế độ tự động, một điều chưa từng thấy trong truyền thống Công Giáo trước đây. Và đối với những người giáo dân, họ làm sao có thể hiểu được chuyện gì đang xảy ra, khi mà lời khẳng định của một Đức Giáo Hoàng dựa trên giáo huấn vững chắc của Hội Thánh lại đối nghịch với khuyến nghị của đa số thành viên trong Ủy ban Giáo Hoàng về Kiểm soát Sinh sản của ngài, trong số đó, – à há – có nhiều “nhà thần học hàng đầu”. Humanae Vitae đã được xem như cái tát đau điếng hướng thẳng vào mặt một nghề đáng tự hào, và sự bất đồng quan điểm được họ đưa ra, dường như là một hành động để phản ứng. Dĩ nhiên, vẫn có những giáo dân thắc mắc rằng niềm kiêu hãnh, rốt cuộc, đóng vai trò gì trong nghề thần học; nhưng như tất cả chúng ta đã đều biết, nó được đặt trong tội đầu tiên của bảy mối tội đầu.

Khi khẳng định tính hợp lý của các biện pháp tránh thai nhân tạo nhằm chống lại quan điểm đã được nhất trí rộng rãi trong truyền thống Ki-tô Giáo, các nhà thần học cấp tiến không có bất cứ lý do nào để nói rằng họ đang cố gắng giáo dục cho người khác về một niềm tin Ba Ngôi đúng đắn. Ngược lại, họ đang là những người từ chối niềm tin của Giáo Hội để tham gia vào sự đồng thuận trong vấn đề này với một nền văn hóa thế tục, duy vật và vô thần.

Trên thực tế, họ đã từ bỏ truyền thống Công Giáo. Mặc dù thường đưa ra các lập luận thần học để biện minh cho lập trường của mình – như cách mà các nhà thần học Đức trước Công đồng Vaticanô II đã phát hiện ra “thuyết Nhất tính” trong lòng đạo đức bình dân của người Công Giáo – nhưng rõ ràng, họ đã phủ nhận các giáo lý và Huấn quyền của Hội Thánh, trong đó, thần học Công Giáo đóng vai trò nền tảng. Theo Jacques Maritain, họ là những người đã “quỳ gối trước thế gian”. Cũng giống như trong cuộc thập tự chinh thần học trước đó nhằm chống lại một sai lầm theo thuyết Nhất tính mà họ tưởng tượng ra, các “nhà thần học hàng đầu” không đồng ý với Humanae Vitae đã dẫn chúng ta đến chính xác một nơi chúng ta không cần phải đến. Họ chuyển sang tán thành các biện pháp tránh thai nhân tạo đúng vào đúng thời điểm mà xã hội hiện đại đang tin tưởng bước xuống vũng lầy của tình dục vô luân, và trong khi đang dần dần chìm nghỉm, nó vẫn không ngừng giương cao những tấm biểu ngữ nhân văn rách nát để tuyên bố rằng mọi người cần phải được tự do sử dụng bản năng giới tính của mình mà không cần quan tâm đến vấn đề luân lý hay luật tự nhiên. Một lần nữa, các nhà thần học dường như lại nhắm mắt trước những gì mà nhiều người có thể nhìn thấy. Bằng cách công khai chống lại các giáo lý của Giáo Hội, họ đã không chỉ đi sai đường, mà còn làm biến dạng và thậm chí phá hủy Đức tin của nhiều người Công Giáo.

Reo nghi ngờ trong vấn đề truyền chức linh mục

Tuy nhiên, các “nhà thần học hàng đầu” dường như không học được gì nhiều từ hai thảm họa song sinh này, bao gồm cuộc thập tự chinh chống lại lòng đạo đức bình dân và việc cổ vũ các biện pháp tránh thai nhân tạo. Trong một vấn đề quan trọng khác, họ lại tiếp tục sai. Vào tháng 6 năm 1997, các thành viên của Hiệp hội Thần học Công Giáo Hoa Kỳ (CTSA) đã bỏ phiếu thông qua (theo đa số) một tài liệu nghiên cứu về việc đặt câu hỏi xem liệu quyết định của Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II trong Tông thư ban hành năm 1994 – Ordinatio Sacerdotalis (Về việc truyền chức linh mục), rằng Giáo Hội không có quyền phong chức linh mục cho phụ nữ – có diễn tả một giáo huấn dứt khoát đến từ tuyên bố rõ ràng của Giáo Hoàng hay không. Mặc dù vờ như không có lập trường gì về vấn đề truyền chức linh mục, nhưng tài liệu của CTSA đã tạo ra mối nghi ngờ về uy tín của Tông thư này, dẫn đến việc phủ nhận trên thực tế đối với thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng khi ngài tuyên bố khép lại một cuộc tranh luận mà nhiều nhà thần học vẫn muốn nó tiếp tục là một vấn đề bỏ ngỏ. Việc các nhà thần học này công khai chống lại giáo huấn của Giáo Hội trong vấn đề truyền chức thánh cũng gây ra những mối nguy hại và có tính hủy diệt không kém gì hai thảm họa vừa nêu.

Ở một khía cạnh khác, những chống đối của họ ở đây còn cho thấy sự chấp thuận dễ dãi của các “nhà thần học hàng đầu” ngày nay đối với các quan điểm mới của xã hội thế tục, cụ thể hơn, trong trường hợp này, là tư tưởng của chủ nghĩa nữ quyền cấp tiến. Một khi đã chấp nhận những quan điểm như vậy, họ sẽ kiên trì theo đuổi đến cùng, bất chấp việc chúng có mâu thuẫn rõ ràng với những gì mà thẩm quyền tối cao của Hội Thánh đã tuyên bố là một phần trong Đức tin của chúng ta. Trên thực tế, họ đã từ bỏ nghĩa vụ của mình với tư cách là một nhà thần học Công Giáo, tức là tuân theo thẩm quyền của Giáo Hội; thay vào đó, họ đã tuân theo một hệ tư tưởng hiện đại cho rằng “công lý” cho phụ nữ đòi hỏi phải có “sự bình đẳng” với đàn ông. Một lần nữa, những môn đệ của các “nhà thần học hàng đầu” này lại lao vào vòng xoáy của “cải cách và đổi mới” ngay khi mà chúng ta đang cần biết bao nhiêu, những người giáo lý viên và nhà văn biết trung thành giữ đôi chân của mình ở lại trên nền tảng vững chắc là giáo huấn của Giáo Hội.

Kết luận

Qua ba vụ đắm tàu đức tin giữa thế giới ​​đương đại kể trên, mà người chèo lái là những “nhà thần học hàng đầu”, chúng ta, những người Công Giáo biết nói gì bây giờ? Chà, đúng là có một điều thế này, dường như ngay cả những nhà thần học lỗi lạc nhất cũng có thể mắc phải sai lầm, bất chấp vốn hiểu biết và quá trình trau dồi bản thân của họ. Nhưng nếu để tâm suy nghĩ lại, chúng ta sẽ thấy nó cũng không phải là chuyện gì đó mới mẻ, bởi hầu hết các lạc giáo nhức nhối trong lịch sử Giáo Hội đều được khởi xướng từ các nhà thần học Công Giáo. Có lẽ họ sẽ cần có thêm một chút khiêm nhường, nhũn nhặn, từ tốn và phải cầu nguyện thật nhiều để chống lại những thứ cám dỗ đặc biệt trong nghề nghiệp của mình.

Đối với các nhà thần học trẻ tuổi, việc quá háo hức đi theo những người dẫn đầu và nuốt trọn mọi tư tưởng của họ chắc chắn không phải là một thói quen có lợi. Họ nên thi thoảng, nếu không muốn nói là phải thường xuyên, sử dụng đôi mắt và đôi tai của mình để nhìn và nghe những gì đang diễn ra xung quanh. Sự cám dỗ theo đuổi những thứ mới nhất – và thời thượng – là điều được thấy rất thường xuyên trong nhiều ngành nghề và lĩnh vực của đời sống, nhưng có lẽ đối với ngành thần học, loại cám dỗ này có vẻ xuất hiện ở tần suất lớn hơn, nếu xét theo những ví dụ kể trên.

Cuối cùng, khi nói đến thần học Công Giáo, chúng ta không bao giờ được phép quên rằng toàn bộ “lĩnh vực” này đều phải dựa trên cơ sở Đức tin Công Giáo, theo sự trình bày bởi Huấn quyền của Giáo Hội. Thần học không thể tự nó thiết lập hay định nghĩa Đức tin. Và xét cho cùng, Chúa Giê-su đã hầu như không khởi sự việc xây dựng Hội Thánh của Ngài từ các kinh sư, người Pha-ri-sêu và những học giả uyên bác cùng thời, nhưng đã bắt đầu từ những người bình thường nhất trong xã hội, đó là những người dân chài, thu thuế, thợ làm lều và những hạng người bình dân khác. Hơn nữa, Ngài chắc chắn đã lường trước được những cám dỗ mà bất kỳ loại giáo dục hay kiến thức đặc biệt nào có thể bày ra trước mắt con người, giống như điều mà chúng ta đã thấy nơi những người được gọi là hàng đầu trong lĩnh vực thần học Công Giáo ngày nay; chính vì lẽ đó, Ngài đã không quên ghi lại lời dạy này dành cho tất cả các thế hệ về sau: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.” (Mt 11,25-26).


Lược dịch từ bài viết Those Misleading Leading Theologians của Kenneth D. Whitehead đăng trên tạp chí New Oxford Review.

https://www.catholicculture.org/culture/library/view.cfm?recnum=489

Kenneth D. Whitehead là cựu Trợ lý Bộ trưởng Giáo dục Hoa Kỳ, là một dịch giả chuyên nghiệp và là tác giả hoặc đồng tác giả của bảy cuốn sách, bao gồm Flawed Expectations: The Reception of the Catechism of the Catholic Church (Ignatius Press).