[HTTHCG 3] Plato – Những cuộc đối thoại

Plato
Plato (khoảng 428-347 TCN) cùng với học trò của ông, Aristotle, là những nguồn sáng chói lọi nhất trong thế giới triết học cổ đại và là những người có ảnh hưởng mạnh mẽ đến triết học Ki-tô Giáo. Plato đóng vai trò thống lĩnh trong thời đại các Giáo phụ và có tầm quan trọng nhất định (mặc dù thấp hơn) trong thời Trung Cổ.

Nhiều Ki-tô hữu coi tư tưởng của Plato là thích hợp và đã điều chỉnh nó cho phù hợp với mục đích của họ. Thật không may, trong một ngàn năm đầu tiên của Ki-tô Giáo, chỉ có một số ít tác phẩm của Plato được dịch sang tiếng Latinh; chúng bao gồm các phần nội dung chính của Timaeus (rất có ảnh hưởng), Phaedo, Meno và Republic, cùng với các trích đoạn từ một vài cuộc đối thoại khác. Phần lớn ảnh hưởng của Plato đến qua những người nối gót ông, cách đặc biệt là Plotinus và triết gia Do-thái Philo thành Alexandria, tư tưởng của cả hai người này đều được xây dựng dựa trên các yếu tố siêu hình và thần bí của Plato.

Trong các bài đọc mà chúng tôi lựa chọn, Plato đôi khi nói về một “Thiên Chúa” [God] theo số ít và khi khác là “các vị thần” [Gods] theo số nhiều. Ông dường như đã chấp nhận một Đấng Sáng Tạo tối cao (“Thiên Chúa”) và nhiều hữu thể thụ tạo có ngôi vị trổi vượt hơn con người.1

Sáng Tạo (Trích từ Timaeus)

Timaeus: Hỡi Socrates, mọi con người, dù cảm xúc đúng đắn ở mức độ nào, thì khi khởi sự mọi công việc khó khăn, dù lớn hay nhỏ, cũng luôn kêu cầu Thiên Chúa. Và chúng ta, những kẻ sắp thảo luận về bản tính của vũ trụ cũng vậy, làm sao có thể là thụ tạo hay tồn tại nếu không có sự sáng tạo, và nếu không đánh mất hoàn toàn trí thông minh của mình, chúng ta phải khẩn cầu sự trợ giúp của các thần nam nữ…

Liệu có cái gì luôn hiện hữu và không biến hóa; và có cái gì luôn biến hóa mà không hiện hữu bao giờ? Cái được tiếp thu bởi trí tuệ và lý trí thì luôn ở cùng một trạng thái; nhưng cái được nhận thức [hay quan niệm] bởi quan điểm, với sự trợ giúp của cảm giác mà không cần lý trí, thì luôn trong quá trình biến hóa và suy vong…

Tôi hỏi, có phải thế giới luôn tồn tại mà không có khởi đầu? Hay nó đã được tạo ra và có một khởi đầu? Tôi trả lời, nó đã được tạo ra, có thể thấy được, có thể sờ chạm được, và có một cơ thể, do đó, nó khả giác; và tất cả các sự vật khả giác đều được tiếp thu bởi quan điểm, bởi giác quan, cũng như nằm trong một quá trình sáng tạo và được sáng tạo. Bây giờ, cái được sáng tạo, như chúng ta khẳng định, tất yếu phải được tạo ra bởi một nguyên nhân. Nhưng người cha và người thợ làm ra tất cả vũ trụ này, ai dò cho thấu; và ngay cả khi tìm thấy Người, thì việc nói với nhân loại về Người cũng là điều không thể…

Vậy thì, hỡi Socrates, giữa muôn vàn quan điểm ​​về các vị thần và sự phát sinh của vũ trụ, nếu chúng ta không thể đưa ra những khái niệm hoàn toàn chính xác và nhất quán với nhau về mọi mặt, thì cũng đừng ngạc nhiên. Sẽ là đủ nếu chúng ta viện dẫn các xác suất có thể xảy ra như bất kỳ xác suất nào khác; vì chúng ta phải nhớ rằng, tôi, người nói, và anh, người đánh giá, chỉ là những phàm nhân, và chúng ta phải chấp nhận câu chuyện tưởng tượng có thể xảy ra mà không đòi hỏi thêm gì nữa.

Socrates: Tuyệt vời, Timaeus; và chúng ta sẽ thực hiện chính xác những gì anh vừa nói…

Timaeus: Vậy hãy để tôi nói với anh rằng tại sao Đấng Sáng Tạo lại làm phát sinh thế giới này. Ngài là Đấng tốt lành, sự tốt lành [đó] có thể không khi nào vướng một chút ghen tương. Và [vì] tự do khỏi mọi ghen tương, Ngài khao khát rằng tất cả mọi sự vật có thể được giống như chính Ngài. Đây là ý nghĩa đúng đắn nhất của sự sáng tạo và của thế giới… Vì lý do đó, khi định hình vũ trụ, Ngài đặt trí thông minh vào linh hồn, và đặt linh hồn vào thể xác, để Ngài có thể là Đấng tạo nên một công trình tự bản tính là tốt nhất và đẹp nhất. Bởi vậy, bằng cách sử dụng ngôn ngữ của xác suất, chúng ta có thể nói rằng thế giới đã trở nên một thụ tạo sống động được thực sự phú bẩm cho linh hồn và trí thông minh bởi sự quan phòng của Thiên Chúa.

Động Cơ Đệ Nhất (Trích từ NomoiLuật)

Cleinias: Việc chứng minh sự tồn tại của các thần có gặp phải khó khăn nào không?

Vị khách lạ người Athens: Ngài sẽ chứng minh nó như thế nào?

Cleinias: Thế nào ư? Trước hết, trái đất và mặt trời, các vì sao và vũ trụ, trật tự hài hòa của các mùa, và sự phân chia các mùa thành năm và tháng, đều cung cấp bằng chứng cho sự hiện hữu của các thần; bên cạnh đó, có một thực tế rằng tất cả người Hy-lạp và người man di đều tin vào họ…

Vị khách lạ người Athens: [Những người bác bỏ thánh thần] nói rằng lửa và nước, đất và khí, tất cả đều tồn tại nhờ tự nhiên và tình cờ [hay may rủi], chẳng có thứ gì trong số chúng bởi tạo tác mà ra. Theo cách thức như vậy, toàn bộ tầng trời đã hình thành và tất cả những gì trong đó, cũng như thú vật và cỏ cây, cùng với tất cả các mùa đến từ những yếu tố như vậy, đều không phải nhờ hành động của trí óc hay của bất cứ vị Thiên Chúa nào…

Cleinias: Hỡi ôi, một bức tranh khủng khiếp…

Vị khách lạ người Athens: Gần như tất cả họ, những người bạn của tôi, đều không biết gì về bản tính và năng lực của linh hồn, cách đặc biệt là trong những gì liên quan đến nguồn gốc của nó: họ không biết rằng nó nằm trong số những thứ đệ nhất nơi các sự vật và đứng trước tất cả các vật thể, cũng như là tác giả chính của những biến đổi và chuyển dịch nơi chúng. Nếu điều này là đúng, và nếu linh hồn lớn hơn [older] thể xác, thì chẳng phải những thứ thuộc về linh hồn là cần thiết hơn những thứ thuộc về thể xác sao?

Cleinias: Chắc chắn là thế…

Vị khách lạ người Athens: Một số sự vật chuyển động, và một số khác thì ở trạng thái nghỉ… Hãy giả sử một chuyển động có khả năng dịch chuyển các sự vật khác, nhưng nó không dịch chuyển được chính mình…; và một loại khác thì có thể dịch chuyển chính mình cũng như các sự vật khác… Và [trong hai cái đó,] đâu… là cái vĩ đại và hữu hiệu nhất?

Cleinias: Tôi phải nói rằng chuyển động có khả năng dịch chuyển chính nó thì trổi vượt gấp mười ngàn lần tất cả những cái khác…

Vị khách lạ người Athens: Làm sao một sự vật dịch chuyển bởi cái khác lại có thể là khởi đầu của sự biến đổi? Không thể. Nhưng khi cái tự dịch chuyển biến đổi một sự vật, rồi lại biến đổi một sự vật khác, và cứ như thế, có hàng ngàn lần con số mười ngàn các vật thể tham gia vào chuyển động, thì chẳng phải khởi đầu của toàn bộ chuyển động này chính là sự biển đổi của nguyên lý tự dịch chuyển hay sao?

Cleinias: Rất đúng, tôi hoàn toàn đồng ý…

Vị khách lạ người Athens: Vì thế, chúng ta phải nói rằng cái tự chuyển động chính là nguồn gốc của mọi chuyển động… là nguyên lý lớn nhất [eldest] và vĩ đại nhất của sự biến đổi, và—cái được biến đổi bởi cái khác rồi chính nó lại dịch chuyển cái khác nữa—chỉ là cái đệ nhị… Nếu chúng ta thấy năng lực này tồn tại trong bất cứ bản thể nào của đất, nước, hay lửa, dù đơn giản hay phức tạp—thì chúng ta nên diễn tả nó thế nào?

Cleinias: Ý anh là liệu chúng ta có nên gọi cái đó là một sinh lực sung mãn tự dịch chuyển?

Vị khách lạ người Athens: Đúng vậy.

Cleinias: Chắc chắn là nên như thế.

Vị khách lạ người Athens: Và khi thấy linh hồn trong bất cứ thứ gì, liệu chúng ta có phải diễn tả giống như vậy—tức là nhìn nhận rằng nó là sinh lực?

Cleinias: Đúng, chúng ta phải như vậy…

Vị khách lạ người Athens: Vậy định nghĩa của cái được gọi là “linh hồn” là gì? Liệu chúng ta có thể quan niệm về bất cứ thứ gì khác hơn là cái đã được đề cập—tức là chuyển động có thể dịch chuyển chính nó?

Cleinias: Ý anh tức là nói rằng—bản chất đã được định nghĩa như cái tự dịch chuyển—là tương đồng với cái được gọi là linh hồn?

Vị khách lạ người Athens: Đúng vậy; và nếu điều này là đúng, liệu chúng ta có còn chủ trương rằng vẫn có thứ gì đó chưa đầy đủ khi chứng minh linh hồn là nguồn gốc đệ nhất và sức mạnh dịch chuyển của tất cả mọi thứ hiện hữu, hay mọi thứ biến hóa, hay mọi thứ sẽ hiện hữu, cùng với những thứ trái ngược với chúng, khi linh hồn đã cho thấy cách rõ ràng rằng nó là nguồn của biến đổi và chuyển động trong tất cả mọi sự vật?

Cleinias: Chắc chắn là không; linh hồn xét là nguồn của chuyển động, đã cho thấy cách thỏa đáng rằng nó là cái lớn nhất [oldest] trong tất cả các sự vật…

Bước theo ý muốn của Thiên Chúa (Trích từ Apology)

Trong cuộc đối thoại này và sau đó, Socrates đang ở trong ngục và sắp chịu hành hình vì bị coi là kẻ làm điều dữ, làm hư giới trẻ, và gieo nghi ngờ về các vị thần của thành bang.

Socrates: Một người tốt… không nên toan tính về cơ may mình được sống hay phải chết; anh ta chỉ nên cân nhắc xem bất cứ điều gì mình đang làm là đúng hay sai—[liệu] hành động đó là của một người tốt hay một người xấu…

Nếu anh em nói với tôi,… ông sẽ được thả ra, nhưng với một điều kiện, rằng ông không được điều tra và suy đoán theo cách này nữa, và nếu ông bị bắt vì làm như vậy một lần nữa, ông sẽ phải chết; nếu đây là điều kiện để anh em thả tôi ra, tôi hẳn sẽ trả lời rằng: Hỡi dân thành Athens, tôi tôn trọng và yêu mến anh em; nhưng tôi sẽ vâng lời Thiên Chúa hơn là nghe lời anh em, và chừng nào tôi còn sống và còn sức lực, tôi sẽ không bao giờ ngừng thực hành và giảng dạy triết học… Vì hãy biết rằng đây là lệnh truyền của Chúa; và tôi tin rằng trong thành bang này, sẽ chẳng có điều tốt đẹp nào xảy ra lại lớn hơn việc tôi phụng sự Thiên Chúa cả. Vì tôi không làm gì khác ngoài việc thuyết phục tất cả ảnh em, già cũng như trẻ, là đừng chỉ suy nghĩ về người hay tài sản của mình, nhưng trước hết và hơn hết, hãy quan tâm đến việc cải thiện tâm hồn. Tôi nói với anh em rằng nhân đức không phải do tiền bạc ban tặng, nhưng tiền bạc và mọi điều tốt đẹp khác của con người, công cũng như tư, đều đến từ nhân đức. Đây là lời dạy của tôi, và nếu lời dạy này là học thuyết làm hư giới trẻ, thì tôi chính là một kẻ tác hại…

Và giờ đây, hỡi dân thành Athens, tôi sẽ không tranh luận vì lợi ích của riêng mình, như những gì anh em có thể nghĩ, nhưng vì lợi ích của chính anh em, rằng anh em có thể không phạm tội chống lại Thiên Chúa vì kết án tôi, kẻ là ân huệ mà Ngài dành cho anh em. Vì nếu anh em giết tôi, anh em sẽ không dễ dàng tìm được người kế vị cho—tôi, kẻ mà nếu tôi có thể dùng một cách nói đáng chê cười, là một loại ruồi trâu được Thiên Chúa gửi đến thành bang này; và thành bang này là một con chiến mã vĩ đại và cao quý, một con chiến mã chậm chạp trong các bước di chuyển của mình vì kích thước to lớn và cần phải được khuấy động. Tôi là con ruồi trâu mà Thiên Chúa đã gắn vào thành bang, suốt cả ngày và ở mọi nơi, luôn bám chặt lấy anh em, khuấy động, thuyết phục và khiển trách anh em… Khi tôi nói rằng tôi được Thiên Chúa ban cho anh em, thì bằng chứng cho sứ vụ của tôi là thế này: nếu tôi cũng giống như những người khác, thì tôi đã chẳng bỏ qua tất cả những mối quan tâm của riêng mình, hoặc kiên nhẫn xem sự thờ ơ của họ trong suốt những năm qua, cũng như đã và đang làm những công việc [vốn là việc] của anh em, đến với cá nhân mỗi người như một người cha hay người anh để khuyên nhủ anh em nên coi trọng nhân đức… Tôi chưa bao giờ đòi hỏi hay tìm kiếm thù lao từ bất cứ ai… Và tôi có một chứng cớ hữu hiệu cho sự thật của những gì mình nói—đó là sự nghèo khó của tôi…

Đã đến giờ khởi hành, và chúng ta đi theo những con đường của mình—tôi thì chết, còn anh em thì sống. Cái nào tốt hơn chỉ có Thiên Chúa biết.

Sự bất tử của linh hồn (Trích từ Phaedo)

Socrates: Kẻ đã sống như một triết gia chân chính có lý do để vui mừng khi sắp chết, và sau khi chết, người đó có thể hy vọng nhận được điều tốt đẹp nhất ở thế giới bên kia… Bởi lẽ chỉ riêng đòi hỏi đơn thuần về lương thực cũng đã khiến thể xác là một nguồn rắc rối vô tận đối với chúng ta; bên cạnh đó, nó còn phải chịu sự chi phối của những căn bệnh vốn lấn át và cản trở chúng ta trong việc tìm kiếm sự thật; và bằng cách lấp đầy chúng ta bằng những yêu thích, ham muốn và sợ hãi, cũng như những ảo tưởng và hình tượng, cùng với mọi thứ điên rồ, nó ngăn cản chúng ta có được dù chỉ một tư tưởng… Và sự chết là gì nếu không phải là sự tách rời và giải phóng linh hồn khỏi thể xác?… Những triết gia chân chính, và chỉ riêng họ, mới chăm chú và háo hức được giải phóng linh hồn. Chẳng phải việc tách rời và giải phóng linh hồn khỏi thể xác là nghiên cứu đặc biệt của họ sao?…

Cebes: Thưa thầy, học thuyết mà thầy ưa thích, rằng tri thức chỉ đơn thuần là sự hồi tưởng, nếu đúng, còn nhất thiết ngụ ý về một thời quá khứ [previous time] mà trong đó, chúng ta đã học lấy những gì mình đang hồi tưởng. Nhưng điều này làm sao có thể xảy ra, trừ khi linh hồn của chúng ta đã ở nơi nào đó trước khi tồn tại dưới hình người; như vậy, đây là một lập luận khác về sự bất tử của linh hồn.

Simmias: Này Cebes, xin cho tôi ngắt lời, có bằng chứng nào cho học thuyết về sự hồi tưởng này không?…

Cebes: Một bằng chứng tuyệt vời về nó được cung cấp bởi chính những câu hỏi của chúng ta. Nếu anh đặt câu hỏi cho một người theo cách đúng đắn, người ấy sẽ đưa ra câu trả lời đúng đắn của anh ta; nhưng làm thế nào anh ta có thể thực hiện điều này, trừ khi đã có tri thức và lý luận đúng đắn ở nơi mình từ trước? Và điều này được thể hiện rõ ràng nhất khi anh ta được đưa đến [trong trí] một biểu đồ hay bất cứ thứ gì tương tự…

Socrates: Này Simmias, nếu anh vẫn hoài nghi, thầy sẽ hỏi anh… Liệu [cùng một nhóm] những khúc gỗ hay phiến đá như nhau có xuất hiện lúc thì bằng nhau, và lúc khác thì không bằng nhau không?

Simmias: Thưa thầy, chắc chắn là không…

Socrates: Vậy có phải những cái (được gọi là) bằng nhau này không cùng là một với ý niệm về tính ngang bằng?

Simmias: Thưa thầy, chúng chắc chắn không cùng là một…

Socrates: Nhưng anh sẽ nói gì về những mẩu bằng nhau của gỗ, đá, hay những loại vật liệu khác?… Có phải chúng bằng nhau theo cùng một nghĩa với tính ngang bằng tuyệt đối? Hay có phải chúng bị rút ngắn tính ngang bằng ấy chiếu theo một thước đo?

Simmias: Vâng, theo một thước đo rất lớn.

Socrates: Và có phải chúng ta không chấp thuận rằng, khi tôi hay bất kỳ ai nhìn vào bất cứ đối tượng nào, và nhận thức rằng đối tượng đó nhắm tới việc là một sự vật khác, nhưng bị rút ngắn [so với nó], và không thể đạt tới nó—thì kẻ đưa ra nhận xét này phải có tri thức từ trước về cái mà, như anh ta nói, đối với nó, những thứ khác, mặc dùng tương tự, nhưng lại thấp kém hơn?

Simmias: Chắc chắn là thế…

Socrates: Như vậy, hẳn là chúng ta đã biết về tính ngang bằng tuyệt đối trước cả lần đầu tiên chúng ta thấy các vật liệu bằng nhau?

Simmias: Thưa đúng như vậy…

Socrates: Vì thế, trước khi bắt đầu thấy, nghe, hay nhận thức theo bất cứ cách nào, chúng ta hẳn đã có một tri thức về tính ngang bằng tuyệt đối…?

Simmias: Thưa thầy, điều đó chắc chắn được suy ra từ những câu trước…

Socrates: Có nghĩa là trước khi chúng ta được sinh ra?

Simmias: Đúng vậy.

Socrates: Và nếu chúng ta có được tri thức này từ trước khi được sinh ra, cũng như ngay từ khi sinh ra, thì chúng ta còn biết, từ trước và ngay khi sinh ra, không chỉ là tính ngang bằng, lớn hơn, hay nhỏ hơn, nhưng còn… cái đẹp, cái thiện, sự công bình, sự thánh thiện, cùng với tất cả những gì mà chúng ta gán cho cái tên “bản chất”—trong quá trình biện chứng, khi chúng ta đưa ra và trả lời các câu hỏi. Từ tất cả những điều này, chúng ta khẳng định cách chắn chắn rằng mình đã có được tri thức từ trước khi sinh ra?

Simmias: Thưa đúng…

Socrates: Như vậy, hỡi Simmias, trước khi hiện hữu trong hình dạng con người, linh hồn của chúng ta hẳn phải tồn tại—mà không có thể xác—từ trước, và hẳn phải có trí thông minh…

Simmias: Vâng, thưa thầy; con xác nhận rằng cả sự tồn tại của linh hồn trước khi sinh ra và bản chất mà thầy đang nói đều thiết yếu như nhau… Vì đối với tâm trí con, không có gì hiển nhiên cho bằng cái đẹp, sự thiện, và những khái niệm khác mà thầy vừa trình bày, rằng chúng có một sự tồn tại thực nhất và tuyệt đối nhất; và con hài lòng với phép chứng minh thầy đưa ra… Chỉ có điều rằng sau khi chết, việc linh hồn sẽ tiếp tục tồn tại thì vẫn chưa được chứng minh… Mặc dù chấp nhận rằng nó có thể được sinh ra và được tạo ra ở một nơi khác, và rằng nó có thể đã tồn tại trước khi nhập vào thân xác con người, nhưng tại sao sau khi đã nhập vào và xuất ra [khỏi thân xác, nó] lại không thể hư hoại và đi đến chấm dứt?

Cebes: Quả đúng như vậy; việc linh hồn đã tồn tại trước khi chúng ta sinh ra chỉ là nửa đầu của lập luận, và điều này có vẻ đã được chứng minh; nhưng việc linh hồn sẽ tồn tại sau cái chết giống như trước khi sinh ra là nửa còn lại mà phép chứng minh vẫn chưa nói tới, và chúng ta phải đáp ứng điều này…

Socrates: Vậy thì bây giờ, chúng ta hãy trở lại với cuộc thảo luận trước. Liệu có phải ý niệm hay bản chất, thứ nằm trong quá trình biện chứng, mà chúng ta định nghĩa như là bản chất của sự tồn tại đích thực—cho dù là bản chất của tính ngang bằng, cái đẹp, hay bất cứ thứ gì khác: có phải những bản chất này đôi khi có khả năng biến đổi ở mức độ nào đó? Hoặc có phải mỗi bản chất trong số chúng luôn là chính nó, rằng nó luôn có cùng một dạng đơn thuần, tự hữu và bất biến,2 đồng thời, phủ nhận sự biến đổi dưới mọi hình thức, hoặc theo bất cứ cách thức nào, hoặc ở bất cứ thời điểm nào?

Cebes: Thưa thầy, chúng hẳn phải luôn giữ y nguyên.

Socrates: Và anh sẽ nói gì về số nhiều các sự vật đẹp—cho dù là người, ngựa, quần áo, hay bất cứ thứ gì khác mà chúng ta có thể gọi là ngang bằng hay đẹp—có phải tất cả chúng đều bất biến và luôn giữ y nguyên, hay hoàn toàn ngược lại? Liệu chúng có thể được mô tả là hầu như luôn biến đổi và gần như không bao giờ giống hoặc với chính mình, hoặc với một cái khác?

Cebes: Thưa, chúng luôn ở trong một trạng thái biến đổi.

Socrates: Và có phải anh có thể chạm, có thể thấy, và có thể nhận thức bằng các giác quan đối với những thứ này, trong khi đối với những sự vật bất biến, anh chỉ có thể nhận thức bằng trí óc—chúng vô hình và không thấy được?

Cebes: Thưa đúng.

Socrates: Tốt, vậy tiếp theo, chúng ta hãy giả sử rằng có hai loại tồn tại, một thấy được, một không thấy được… Cái thấy được là cái biến đổi, và cái không thấy được là cái bất biến… Và hơn nữa, không phải một phần của chúng ta là thể xác, và phần còn lại là linh hồn?

Cebes: Chắc chắn như vậy.

Socrates: Và chúng ta có thể nói rằng thể xác giống và thân thuộc với loại tồn tại nào?

Cebes: Thưa, rõ ràng là cái thấy được: không ai có thể nghi ngờ điều đó.

Socrates: Và linh hồn thì thấy được hay không thấy được?… Và qua những từ “thấy được” và “không thấy được” theo ý của chúng ta, thì mắt người có thể thấy cái hữu hình hay vô hình?… Và chúng ta nói gì về linh hồn? Nó thấy được hay không thấy được?

Cebes: Thưa, không thấy được…

Socrates: Như vậy, linh hồn giống với cái không thấy được hơn, còn thể xác giống cái thấy được hơn?

Cebes: Chắc chắn là thế, thưa thầy.

Socrates: Và chẳng phải chúng ta đã nói cách đây chưa lâu rằng linh hồn, khi sử dụng thể xác như một khí cụ để nhận thức, tức là, khi nó sử dụng thị giác, thính giác, hay một loại cảm giác nào đó khác… chẳng phải chúng ta cũng nói rằng linh hồn bị thể xác lôi kéo vào địa hạt của tính khả biến, cùng với những sự vẩn vơ, rối loạn; thế giới xoay vần nó, và nó giống như một gã say rượu khi phải chịu tác động?

Cebes: Rất đúng, thưa thầy.

Socrates: Nhưng khi trở lại với chính mình, nó suy tư; và như thế, nó bước vào địa hạt của tính thuần khiết, vĩnh cửu, bất tử và bất biến, vốn là những thứ thân thuộc với nó, nó đã từng sống với những điều này khi hiện hữu bởi chính mình và không bị cản trở [bởi thể xác]; như thế, nó thoát khỏi những con đường sai lầm của mình, và này: cái hiệp thông với cái bất biến thì cũng bất biến. Và có phải trạng thái này của linh hồn được gọi là khôn ngoan?

Cebes: Thưa thầy, thầy nói hay và đúng lắm.

Socrates: Và linh hồn giống và thân thuộc với loại tồn tại nào hơn, trong chừng mực chúng ta suy ra từ lập luận này và lập luận trước?

Cebes: Thưa thầy, con nghĩ rằng, theo quan điểm của bất cứ ai đi theo lập luận này, linh hồn sẽ vô cùng giống với cái bất biến hơn…

Socrates: Và thể xác thì giống với cái biến đổi hơn, phải không nào?

Cebes: Dạ.

Socrates: Tuy nhiên, một lần nữa, hãy xem xét vấn đề dưới ánh sáng thế này: Khi linh hồn và thể xác kết hiệp, thì tự nhiên đã xếp đặt linh hồn làm cái thống trị và quản trị, trong khi thể xác thì vâng lời và phục vụ. Bây giờ, chức năng nào trong số hai chức năng này thân thuộc với thần linh? Và chức năng nào thân thuộc với người phàm? Chẳng phải thần linh xuất hiện trước mắt chúng ta như là đấng sắp đặt và quản trị cách tự nhiên, còn con người là thần dân và kẻ làm tôi tớ?

Cebes: Thưa đúng.

Socrates: Và linh hồn tương đồng với cái nào?

Cebes: Linh hồn tương đồng với thần linh và thể xác tương đồng với người phàm—thưa thầy, không có gì phải nghi ngờ về điều đó.

Socrates: Vậy, Cebes, tiếp theo, hãy suy tư xem những gì sau đây chẳng phải là kết luận của toàn bộ vấn đề này sao? Rằng linh hồn hiện hữu giống như thần linh, nó bất tử, khả tri [hay khả niệm], đồng dạng, không thể phân chia [hay tan rã], và bất biến; còn thể xác hiện hữu giống như người phàm, nó tất phải chết đi, không khả tri, đa dạng, có thể phân chia, và khả biến… Nhưng nếu điều này là đúng, thì như vậy, chẳng phải thể xác có khả năng tan rã cách nhanh chóng, còn linh hồn gần như, hoặc hoàn toàn, không thể tan rã hay sao?

Cebes: Chắc chắn là thế, thưa thầy…

Socrates: Và linh hồn, thứ tự nó là vô hình, sẽ khởi hành đến thế giới vô hình, đến nơi thần linh, bất tử và thuần lý; ở đó, nó sống trong hạnh phúc và được giải thoát khỏi những sai lầm và điên rồ của con người, khỏi những sợ hãi, những đam mê hoang dại, cùng với tất cả những ốm đau bệnh tật khác, để cư ngụ vĩnh viễn trong tình bạn với các vị thần… Điều này chẳng đúng hay sao, Cebes?

Cebes: Thưa vâng, không một chút nghi ngờ…

Socrates: Nhưng như vậy, ôi các bạn của tôi, nếu linh hồn thực sự bất tử, thì sự quan tâm [mà chúng ta] nên dành cho nó không chỉ liên hệ đến phần thời gian được gọi là cuộc đời, nhưng là thời gian của đời đời! Và mối nguy hiểm của việc bỏ bê linh hồn xét từ điểm này quả là khủng khiếp. Nếu cái chết là dấu chấm hết cho tất cả, thì khi chết, những kẻ gian ác hẳn sẽ có được một món hời, bởi lẽ họ sẽ được giải thoát cách hạnh phúc khỏi không chỉ thể xác của mình, nhưng còn cả sự xấu xa cùng với linh hồn họ. Nhưng bây giờ, vì linh hồn dường như rõ ràng là bất tử, nên sẽ không có sự giải thoát hay cứu độ nào khỏi cái ác, ngoại trừ việc có được nhân đức và khôn ngoan ở mức cao nhất. Vì linh hồn, khi bước sang thế giới bên kia, sẽ không mang theo được gì ngoài sự nuôi nấng và giáo dục; là những thứ thực sự có thể nói rằng, hoặc rất có lợi, hoặc rất có hại cho người đã khuất, ngay chính lúc [người ấy] khởi sự cuộc hành hương ở thế giới bên kia.

Ngụ ngôn cái hang (Trích từ Republic)

Socrates: Và kìa, có những con người sống trong một hang động dưới lòng đất, một hang động có cửa mở ra phía ánh sáng và trải đến khắp cả hang; họ đã ở đây từ nhỏ, bị xiềng xích ở chân và cổ đến mức không thể cử động được, họ chỉ có thể nhìn thấy những gì trước mặt mình và xiềng xích ngăn họ quay đầu lại. Phía trên và sau họ có một ngọn lửa đang rực cháy ở đằng xa, giữa ngọn lửa này và các tù nhân có một lối đi đã được xây đắp; và nếu nhìn, anh sẽ thấy một bức tường thấp được dựng lên dọc theo con đường, giống như tấm bình phong mà những người múa rối đặt trước mặt họ, trên đó, họ cho người xem thấy những con rối của mình.

Glaucon: Con thấy rồi.

Socrates: Và anh có thấy không, có những con người đi dọc theo bức tường, họ mang theo đủ loại khí cụ, tượng và hình của các con vật bằng gỗ, đá và nhiều loại vật liệu khác, là những thứ xuất hiện trên vách hang? Một số người trong số họ đang nói chuyện, còn những người khác thì lặng im.

Glaucon: Thầy đã cho con thấy một bức tranh lạ lùng, và họ cũng là những tù nhân kỳ lạ.

Socrates: Họ cũng giống như chúng ta vậy, Glaucon; và có phải họ chỉ thấy những cái bóng của chính mình hay của những thứ khác mà ngọn lửa chiếu lên vách hang đối diện?

Glaucon: Đúng vậy; họ làm sao có thể thấy được bất cứ thứ gì ngoài những cái bóng nếu chẳng bao giờ được phép cử động đầu mình?

Socrates: Và với những đồ vật được đưa vào theo cùng một cách như thế, họ cũng sẽ chỉ thấy những cái bóng phải không?… Và tôi có thể nói, đối với họ, sự thật sẽ chẳng phải thứ gì khác ngoài cái bóng của những hình tượng.

Glaucon: Chắc chắn là như vậy.

Socrates: Và bây giờ, hay trở lại và xem điều gì sẽ xảy ra cách tự nhiên nếu những tù nhân ấy được phóng thích và được làm cho tỉnh ngộ. Trước tiên, khi bất cứ ai trong số họ được thả ra và được yêu cầu phải lập tức đứng dậy, quay cổ lại, bước đi và nhìn về phía ánh sáng, người đó sẽ bị đau nhói; ánh sáng chói lóa sẽ làm anh ta đau đớn, và anh ta sẽ không thể nhìn thấy những thực tại mà lúc trước anh ta đã nhìn thấy bóng của chúng… Chẳng phải anh ta sẽ nghĩ rằng những cái bóng mà mình thấy trước đây chân thật hơn những đồ vật đang hiện ra trước mắt?

Glaucon: Quả đúng như vậy…

Socrates: Anh ta sẽ phải quen với cảnh tượng của thế giới trên mặt đất… Và khi nhớ lại nơi ở cũ của mình, với sự khôn ngoan [của người sống] trong hang và những người bạn tù, anh có nghĩ anh ta sẽ vui mừng về sự thay đổi, và thương hại họ?

Glaucon: Chắc chắn anh ta sẽ như vậy.

Socrates: Và nếu họ có thói quen trao huy chương cho những người quan sát nhanh nhất những cái bóng đi ngang qua [vách hang] và chỉ ra xem cái bóng nào đi trước, cái bóng nào đi sau, cũng như những cái nào đi cùng nhau; và như vậy, xem ai là người có khả năng đưa ra những kết luận giống với tương lai nhất, anh nghĩ người ấy sẽ quan tâm đến những tấm huy chương và vinh quang đó, hay ghen tị với những người sở hữu chúng? Anh ta sẽ chẳng nói cùng Homer rằng: “Thà làm đầy tớ nghèo của một ông chủ nghèo” và chịu đựng bất cứ điều gì, còn hơn là suy nghĩ như họ và sống theo cách thức của họ?

Glaucon: Đúng vậy, con nghĩ anh ta sẽ nói rằng thà chịu đựng bất cứ điều gì còn hơn là giải trí với những khái niệm sai lầm và sống trong tình trạng khốn khổ ấy…

Socrates: Và giờ đây, Glaucon thân mến, hãy nối toàn bộ ngụ ngôn này với lập luận đưa ra trước đó; nhà tù là thế giới của thị giác, ánh sáng của ngọn lửa là mặt trời, và anh sẽ không hiểu lầm tôi nếu hiểu được cuộc hành trình đi lên của linh hồn vào thế giới trí tuệ… Trong thế giới của tri thức, ý niệm về sự thiện dường như là chung cục, nó chỉ được thấy bằng sự nỗ lực; và khi đã thấy, nó cũng được suy ra là tác giả phổ quát của mọi sự vật đẹp đẽ và đúng đắn, là cha mẹ và chúa tể của ánh sáng trong thế giới hữu hình này, đồng thời là nguồn trực tiếp của lý trí và sự thật.


Chú thích

1 Trích từ The Dialogues of Plato, 2 bộ, bản dịch của Benjamin Jowett (New York: Random House, 1937), 2:12-14, 2:628-38, 1:411-23, 1:447-92, và 1:773-76. Các bài đọc từ cuốn Luật (Laws) được lấy từ cuốn 10, từ Republic được lấy từ cuốn 7.

2 Lý thuyết của Plato về Mô thức cho rằng bên cạnh những sự vật đẹp [beautiful], tốt [good], hay có mang tính con người [human], còn có những thực thể trừu tượng (Mô thức) của Cái Đẹp [Beauty], Sự Thiện [Goodness], và Nhân Tính [Humanity] mà những sự vật đó tham dự vào. Các Mô thức trừu tượng thì đơn thuần, tự hữu, bất biến và có một hiện thực tính cao hơn những sự vật tham dự vào chúng. Aristotle không đồng ý với quan điểm này.