Thuyết trống tòa và vấn đề thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng

Thuyết trống tòa hay Sedevacantism (bắt nguồn từ cụm từ tiếng La-tinh “sede vacante” hay “ghế trống”) là học thuyết của một số người Công Giáo cho rằng Tông tòa Thánh Phê-rô (Ngai vị Giáo Hoàng) hiện nay đang bị bỏ trống và họ dùng nó làm cơ sở để giải thích các vấn đề liên quan đến Giáo Hội cũng như chức vị Giáo Hoàng. Điểm lôi cuốn của học thuyết này đối với những người đi theo là nó hạ thấp nghĩa vụ phải tuân phục Đức Giáo Hoàng đương nhiệm, người mà họ cho rằng không phải là Giáo Hoàng thực sự. Đây là sai lầm nghiêm trọng nghịch lại đức vâng phục và tấn công một cách thô bạo vào nguyên tắc thẩm quyền của Hội Thánh.

Thuyết trống tòa và Chủ nghĩa Công Giáo truyền thống

“Trống tòa” là một thuật ngữ được Giáo Hội Công Giáo sử dụng trong trường hợp Ngai vị Giáo Hoàng tạm thời bị bỏ trống, nó diễn ra trong một thời gian ngắn sau khi Đức Giáo Hoàng qua đời hoặc từ chức (tương tự trường hợp một Giáo phận chưa có Giám mục). Tuy nhiên, sau khi Mật nghị Hồng y đã bầu được Giáo Hoàng mới, tình trạng này sẽ chấm dứt. Như vậy, trong thời gian một Đức Giáo Hoàng tại vị, nếu có nhóm người nào đó tuyên bố rằng Giáo Hội vẫn trống tòa thì tức là họ đang phủ nhận tư cách và thẩm quyền Giáo Hoàng của ngài. Nói cách khác, những người theo lạc thuyết này hiện nay cho rằng Đức Phan-xi-cô không phải là Giáo Hoàng thực sự (ngụy Giáo Hoàng). Và trong nhiều thập kỷ qua, cũng đã có những người khẳng định rằng Đức Bê-nê-đích-tô XVI hay Đức Gio-an Phao-lô II là những Giáo Hoàng không hợp lệ hoặc mạo danh, thậm chí có những người táo tợn hơn khi cho rằng Giáo Hội không có bất kỳ Giáo Hoàng nào kể từ khi Đức Pi-ô XII qua đời năm 1958.

Vậy lý do nào đã khiến họ suy nghĩ lầm lạc như vậy? Để trả lời cho câu hỏi phức tạp này, chúng ta phải quay trở về Công đồng Vaticanô II. Đây là Công đồng chung thứ XXI của Giáo Hội, diễn ra từ năm 1962 đến năm 1965, dưới hai triều đại Giáo Hoàng là Đức Gio-an XXIII (tại vị 1958-1963) và Đức Phao-lô VI (tại vị 1963-1978). Trong giai đoạn này, Giáo Hội phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách đố của lịch sử. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã cuốn hút nhân loại vào một viễn ảnh vật chất vô cùng tươi sáng nhưng cũng đầy những âu lo, khắc khoải với mối đe dọa chiến tranh hạt nhân, tình trạng đối đầu căng thẳng giữa hai khối tư bản và cộng sản, sự trỗi dậy của nền văn minh hưởng thụ,… Đứng trước bối cảnh ấy, tôn giáo dường như chưa giải đáp được những vấn nạn của con người. Bên trong Giáo Hội, những xung đột, chia rẽ cũng không ngừng xảy ra giữa các quốc gia Ki-tô Giáo lâu đời. Công cuộc truyền giáo không còn đạt được nhiều thành tựu vì chính Ki-tô hữu dường như an thân và thoả mãn với đời sống đạo thụ động của mình. Thực tế này đòi hỏi phải có một Công đồng nhằm đổi mới một cách sâu sắc và toàn diện về mọi mặt đời sống Giáo Hội. Bởi lẽ đó, khi được hỏi về lý do triệu tập Công đồng Vaticanô II, Đức Gio-an XXIII đã trả lời rằng: “Tôi muốn mở toang các cánh cửa của Giáo Hội để chúng ta có thể nhìn ra thế giới và để cho thế giới nhìn vào.”

Sau Công đồng, có tổng cộng 4 Hiến chế, 9 Sắc lệnh và 3 Tuyên ngôn đã được ban hành. Không giống như các công đồng trước đây, Vaticanô II không đi theo hướng nghiên cứu hay lên án các giáo thuyết sai lạc, nhưng tập trung vào việc giải quyết những vấn đề thực tế và cấp bách của Giáo Hội đương thời. Bên cạnh các thay đổi liên quan tới việc canh tân đời sống của người tín hữu, Công đồng Vaticanô II còn cho thấy một số bước đi mang tính cách mạng như:

  • Thay đổi cái nhìn theo hướng tích cực hơn đối với khoa học.
  • Xóa bỏ truyền thống kết án đối với người Do-thái.
  • Thúc đẩy phong trào đại kết nhằm nối lại mối dây hiệp nhất giữa Công Giáo với các tôn giáo đã ly giáo (Chính Thống Giáo, Anh Giáo, Tin Lành).
  • Nhìn nhận các giá trị tốt đẹp nơi các tôn giáo ngoài Ki-tô Giáo và mong muốn đối thoại cởi mở với họ.

Cùng với đó, chương trình canh tân phụng vụ đã bắt đầu được khởi động, đánh dấu bằng việc khuyến khích sử dụng các bản dịch tiếng địa phương trong Thánh lễ (Hiến chế về phụng vụ thánh – 1963). Và đến năm 1970, Sách Lễ Rô-ma với nghi thức mới (Novus Ordo) đã được Đức Phao-lô VI ban hành. Kể từ đây, Giáo Hội chính thức cho phép cử hành Thánh lễ bằng tiếng bản xứ thay vì hoàn toàn bằng tiếng La-tinh như Thánh lễ Tridentine (có từ năm 1570).

Sau khi các văn kiện Công đồng được công bố rộng rãi và đưa vào áp dụng trong đời sống đức tin, những thay đổi kể trên đã nhận được sự tiếp thu và ủng hộ của phần đông các tín hữu. Tuy nhiên, một số khác lại tỏ ra không mấy hào hứng vì cho rằng các quyết định này làm cho Giáo Hội mất đi tính nguyên bản và truyền thống ban đầu. Dù biết rằng việc xảy ra những tranh cãi sau mỗi kỳ Công đồng là chuyện hết sức bình thường. Nhưng điều đáng buồn là sau Vaticanô II, một số người Công Giáo đã không còn giữ được sự bình tĩnh và óc thận trọng; không chỉ dừng lại ở thái độ không hài lòng, họ đã đi quá xa với những bước đi vô cùng táo tợn. Thay vì cố gắng đón nhận giáo huấn của Giáo Hội, họ chuyển sang thái độ bất mãn, chỉ trích các quyết định của Công đồng là lạc giáo và công khai chống lại các Đức Giáo Hoàng.

Chính từ giai đoạn rối ren này, rất nhiều hội nhóm lẻ tẻ được khởi xướng bởi một số Giám mục, giáo sĩ đã xuất hiện khắp nơi và có xu hướng tách ra khỏi Giáo Hội một cách đơn phương. Họ tự nhận mình là những người Công Giáo truyền thống hay bảo thủ, khăng khăng đòi giữ lại nguyên vẹn mọi lễ nghi phụng vụ từ trước Công đồng Vaticanô II. Họ cho rằng phụng vụ kiểu mới đã không còn giữ được tính linh thiêng bên ngoài, khiến nó trở nên quá “Tin Lành” và làm xói mòn niềm tin vào sự hiện diện thực sự của Chúa Ki-tô trong Bí tích Thánh Thể. Đối với các giáo huấn xã hội của Công đồng, họ lên án phong trào đại kết và tuyên ngôn tự do tôn giáo là lạc giáo, đồng thời một mực duy trì khái niệm “Bên ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ” theo nghĩa bài bác và kết án mọi tôn giáo khác một cách cực đoan. Để giải quyết tình trạng chống đối của các nhóm này, các Đức Giáo Hoàng đã không ngừng bày tỏ thiện chí và kêu gọi họ quay trở lại để hiệp thông một cách trọn vẹn với Tòa Thánh. Những nỗ lực này đã đạt được một số thành tựu nhất định trong những năm qua; tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn nhiều hội nhóm cố thủ trong đường lối đơn phương ly giáo, buộc Giáo Hội phải ra vạ tuyệt thông đối với một số người.

Tùy theo mức độ phản ứng đối với Công đồng Vaticanô II và tình trạng tái hiệp thông với Tòa Thánh, các hội đoàn theo chủ nghĩa Công Giáo truyền thống được chia ra bốn nhóm chính:

1. Những hội đoàn có thiện chí với Tòa Thánh

Đây là những người không tiếp tục phản đối các quyết định của Công đồng, trở lại hiệp thông và tuân phục Đức Giáo Hoàng nhưng vẫn muốn duy trì phụng vụ kiểu cũ và đã được Tòa Thánh chấp thuận, chẳng hạn như: Huynh đoàn Thánh Phê-rô (trụ sở tại Fribourg, Thụy Sĩ), Tu hội Chúa Ki-tô Vua Linh Mục Tối Cao (trụ sở tại Gricigliano, Ý), Tu hội Mục Tử Nhân Lành (Eure-et-Loir, Pháp),…

2. Những hội đoàn đang ở trong trình trạng bất thường

Đây là những người mặc dù tuyên bố công nhận thẩm quyền, trung thành với Đức Giáo Hoàng và Giáo Hội nhưng vẫn nhất quyết chống lại những thay đổi của Công đồng Vaticanô II. Các vị Giám mục của họ đôi khi đã tự ý cử hành việc tấn phong linh mục hoặc ban Bí tích Thêm Sức cho giáo dân mà không có sự cho phép của Tòa Thánh. Trong nhóm này, Huynh đoàn Thánh Piô X là gương mặt nổi bật hơn cả. Huynh đoàn này được khởi xướng bởi Tổng Giám mục Marcel Lefebvre (1905-1991), người đã phải vạ tuyệt thông năm 1988 và được giải vạ năm 2009 bởi Đức Bê-nê-đích-tô XVI. Trong những năm trở lại đây, Giáo Hội đã có những cuộc tiếp xúc và ban thêm một số thẩm quyền về phụng vụ cho Huynh đoàn Thánh Piô X nhưng nhìn chung, viễn cảnh họ trở lại với Giáo Hội vẫn còn rất xa vời.

3. Những người theo Thuyết trống tòa

Như đã nói ở đầu bài viết, đây là tập hợp của rất nhiều hội đoàn lẻ tẻ và các cá nhân mà quan điểm của họ không hoàn toàn giống nhau. Điểm chung nhất giữa những người này là việc họ gọi Công đồng Vaticanô II và những người tham dự là lạc giáo, đồng thời không công nhận một số hoặc tất cả các Đức Giáo Hoàng kể từ sau Đức Piô XII vì các ngài đều có quan điểm ủng hộ Công đồng. Thực tế, từ Đức Gio-an XXIII đến Đức Bê-nê-đích-tô XVI, mỗi vị đều đã tham gia vào Vaticanô II với những vai trò khác nhau. Ngoài ra, cũng có một bộ phận thiểu số các nhóm theo thuyết này đến từ các phong trào ra đời trong những năm trước khi Công đồng được tổ chức, chẳng hạn như những người theo Giám mục Carlos Duarte Costa (1888-1961), người đã tự ý thành lập “Giáo Hội Công Giáo Brazil” vào năm 1945,…

Nhìn chung, những người theo Thuyết trống tòa thường có thái độ bảo thủ, cực đoan và không hề dễ dàng để đối thoại hòa giải. Họ tập trung và phát triển mạnh chủ yếu ở Hoa Kỳ, Canada, Vương quốc Anh và một số quốc gia Châu Âu khác. Trong số này, nổi tiếng nhất là Huynh đoàn Thánh Piô V (trụ sở tại New York) và Tu hội Đức Ma-ri-a Nữ Vương Vô Nhiễm Nguyên Tội (trụ sở tại Nebraska, Hoa Kỳ). Mặc dù trong những năm qua, đã có lác đác một số hội đoàn thuộc nhóm này trở về với Hội Thánh, nhưng có lẽ tình trạng phân ly của họ sẽ không thể giải quyết chỉ trong một sớm một chiều.

4. Những người theo Chủ nghĩa Mật nghị

Nhóm này có tên gọi dựa theo cụm từ Mật nghị Hồng y. Vì cho rằng Giáo Hoàng hiện nay là lạc giáo, họ tự tổ chức “mật nghị” để bầu ra “Giáo Hoàng” của riêng mình. Tại Washington, Hoa Kỳ, một cựu linh mục Dòng Phanxicô Capuchin được bầu làm “Giáo Hoàng Pius XIII”. Trong khi đó, ở Kansas, một cựu chủng sinh đã được bầu làm “Giáo Hoàng Micae” bởi sáu giáo dân, bao gồm cả cha mẹ của anh ta. Nghĩ về những trường hợp này, người Công Giáo sẽ không khỏi lắc đầu ngao ngán.

Giáo luật nói gì về Thuyết trống tòa?

Chắc chắn khi tra cứu các tài liệu về giáo huấn của Hội Thánh hiện nay, chúng ta sẽ không thấy cụm từ “thuyết trống tòa” hay các hiện tượng kể trên xuất hiện dù chỉ một lần. Lý do là từ sau Công đồng Vaticanô II, Giáo Hội luôn nỗ lực thúc đẩy công cuộc hòa giải và hiệp nhất các Ki-tô hữu và hiếm khi chỉ đích danh hay lên án trực tiếp một giáo thuyết cụ thể nào trong các văn bản chính thức. Tuy nhiên, để phòng tránh và xử lý các hành vi có tính chất chống lại thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng và Hội Thánh, bản Giáo luật năm 1983 đã có nhiều quy định liên quan mà chúng tôi xin trích dẫn một số điểm như sau:

Điều 209 §1. Các Ki-tô hữu có nghĩa vụ phải luôn luôn duy trì sự hiệp thông với Giáo Hội, ngay trong cách hành động của mình.

Điều 212 §1. Ý thức trách nhiệm của mình, với lòng vâng phục Ki-tô Giáo, các Ki-tô hữu phải tuân theo những điều mà các vị Chủ Chăn có chức thánh, là những người đại diện Đức Ki-tô, công bố với tư cách là những thầy dạy đức tin hoặc ấn định với tư cách là những người lãnh đạo Giáo Hội.

Điều 754. Tất cả các Ki-tô hữu buộc phải tuân theo các hiến chế và sắc lệnh do quyền bính hợp pháp của Giáo Hội ban hành để trình bày học thuyết và để bác bỏ các quan niệm sai lầm, và cách riêng phải tuân theo các hiến chế và sắc lệnh do Đức Giáo Hoàng hay Giám Mục đoàn ban hành.

Điều 751. …ly giáo là từ chối vâng phục Đức Giáo Hoàng hoặc từ chối hiệp thông với các chi thể của Giáo Hội thuộc quyền ngài.

Điều 1364 § 1. Người bội giáo, lạc giáo hay ly giáo đều bị vạ tuyệt thông tiền kết…

Điều 194 §1 2°. Do chính luật, người đã công khai từ bỏ đức tin Công Giáo, hoặc không còn hiệp thông với Giáo Hội bị giải nhiệm khỏi giáo vụ.

Điều 1373. Người nào công khai kích động những người thuộc quyền chống đối hay thù ghét Tông Tòa hay Đấng Bản Quyền vì một hành vi nào đó của quyền bính hay của thừa tác vụ Giáo Hội, hoặc người nào xúi giục những người thuộc quyền không vâng phục các ngài, thì phải bị vạ cấm chế hay những hình phạt thích đáng khác.

Điều 1374. Người nào ghi danh vào một hiệp hội âm mưu chống lại Giáo Hội, thì phải chịu một hình phạt thích đáng; còn người nào cổ động hoặc điều hành hiệp hội ấy, thì phải bị phạt vạ cấm chế.

Cảm xúc cá nhân và nghĩa vụ tôn trọng thẩm quyền của Giáo Hoàng

Ngoài những quy định và chỉ dẫn nêu trên, có một điều quan trọng cũng cần được minh định rõ trong chủ đề bài viết này, đó là: giữa việc không thích những gì một Đức Giáo Hoàng nói hay làm với việc tuyên bố rằng ngài không phải là Giáo Hoàng có một sự khác biệt rất lớn. Nếu bạn là một người Công Giáo, bạn không bắt buộc phải thích Đức Giáo Hoàng hoặc những người tiền nhiệm của ngài; nhưng bạn cần phải thừa nhận thực tế rằng ngài đang là Giáo Hoàng, và như vậy, ngài là người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo trên toàn thế giới và là người có thứ bậc cao nhất trong hệ thống phẩm trật của chúng ta. Có quá nhiều người Công Giáo đã liều lĩnh vượt qua ranh giới này khi đưa ra những lời chỉ trích. Họ cho rằng vì là người phản đối những lời nói hoặc hành động của một Giáo Hoàng, nên bằng cách nào đó, họ có lý do hợp lẽ để đặt ra câu hỏi rằng liệu ngài có thực sự nắm giữ chức vụ Giáo Hoàng hay không. Đôi khi bạn sẽ thấy họ đặt danh hiệu “Giáo Hoàng” trong dấu ngoặc kép để biểu thị sự hoài nghi của mình.

Trong hơn hai ngàn năm lịch sử, Giáo Hội Công Giáo chắc chắn đã từng có những Giáo Hoàng gây tranh cãi, những người bằng hành vi cá nhân hoặc bởi những giáo lý hay các chức vụ khác mà họ đề bạt, đã gây ra những tai tiếng và chia rẽ trong thời đại của mình. Nhưng lịch sử cho chúng ta thấy rằng việc gắn bó với Giáo Hoàng bất chấp khó khăn và hoàn cảnh nào, cuối cùng vẫn luôn là bước đi đúng đắn, thậm chí ngay cả khi sự trung thành ấy phải đối diện với đầy rẫy những sự rối ren trong một thời gian ngắn.

Giáo Hoàng Hô-nô-ri-ô I (tại vị 625-638) đã gặp rất nhiều sự chỉ trích vì trong hai bức thư gửi cho Giám mục Sergius thành Constantinôpôli, ngài đã rơi vào nguy hiểm khi gần như đồng ý với một quan điểm thần học cho rằng trong Chúa Ki-tô chỉ có một năng lực và như vậy, nó gần với việc cho rằng Ngài chỉ có một ý chí thay vì hai phần: ý chí con người và ý chí thiêng liêng như chúng ta đã biết. Vào thời điểm này, nó vẫn là một vấn đề bỏ ngỏ, nhưng sau đó đã bị coi là lạc giáo. Mặc dù có một số người bênh vực Giáo Hoàng Hô-nô-ri-ô I với lý do là ngài chỉ đề cập đến quan điểm trên một cách thoáng qua chứ chưa bao giờ giảng dạy về nó bằng thẩm quyền một cách chính thức; nhưng trong Công đồng Constantinôpôli III (năm 680) ngài đã bị lên án và phải chịu vạ tuyệt thông dù đã qua đời. Tuy nhiên, chắc chắn không có ai đặt câu hỏi một cách nghiêm túc rằng Đức Hô-nô-ri-ô I có thực sự là Giáo Hoàng hay không. Nếu bạn bác bỏ thẩm quyền Giáo Hoàng của ngài ở thời điểm đó, bạn đã rời khỏi Giáo Hội Công Giáo.

Giáo Hoàng Bônifaciô VIII (tại vị 1294-1303) lên ngôi kế vị sau khi người tiền nhiệm là Thánh Giáo Hoàng Cêlestinô V (tại vị 7-12/1294) từ chức và trở về với đời sống tu trì trước đây của mình. Dường như lo sợ Đức Cêlestinô V sẽ đổi ý và quay lại Ngai vị Giáo Hoàng, Đức Bônifaciô VIII đã nhanh chóng giam cầm ngài trong một điều kiện khắc nghiệt đến mức thánh nhân đã qua đời chỉ sau một năm rưỡi bị tù đày. Kể từ đây, vị tân Giáo Hoàng đã trải qua nhiều năm trị vì trong thái độ hằn học, thù địch và cả bạo lực đối với một số vị Vua của Pháp và Sicily. Ngài khăng khăng rằng với tư cách là Giáo Hoàng, ngài có quyền tham gia vào các chính sách chính trị, vì chúng liên quan đến luân lý và đức tin. Sau khi Đức Bônifaciô VIII qua đời, cả các chính trị gia và các giáo hữu đều đứng ra làm chứng tại phiên tòa xét xử ngài về tội lạc giáo, mặc dù vấn đề này cuối cùng đã kết thúc mà không có kết quả. Từng là một luật sĩ trước khi trở thành Giáo Hoàng, Đức Bônifaciô VIII đã đi vào lịch sử như một trong những Giáo Hoàng tai tiếng nhất mà Giáo Hội từng có. Những sự xáo trộn trên khắp Châu Âu do chính sách của ngài gây ra vẫn còn ảnh hưởng cho tới ngày nay. Nhưng điều đó không có nghĩa là ngài không phải là một Giáo Hoàng đã được bầu hợp lệ, người đứng đầu thực sự của Giáo Hội.

Giáo Hoàng Alêxanđê VI (tại vị 1492-1503) là một vị Giáo Hoàng tham nhũng, mưu mô xảo trá và thiếu sót hoàn toàn trong đời sống luân lý. Ngài có khoảng mười đứa con ngoài giá thú (cho đến ngày nay con số này vẫn chưa được xác định chắc chắn) với một số tình nhân. Ngài công khai nhắm vào các vị trí mang lại lợi lộc béo bở và danh giá trong Giáo Hội cho các con của mình, thậm chí ngài đã đặt tên cho một người con trai là Tổng giám mục, Hồng y dù anh ta không phải là linh mục! Cô con gái tai tiếng của ngài, Lucretia Borgia, đã kết hôn vì lý do chính trị; nhưng khi các chính sách thay đổi, Đức Alêxanđê VI đã không ngần ngại tuyên bố hủy bỏ hôn ước cũ và sắp xếp cho cô ta lấy một người khác. Ngài bị dân chúng và các nhà quý tộc Rô-ma chống đối mạnh mẽ vì lạm dụng quyền hành, sống xa xỉ, tham nhũng, kiêu căng, bênh vực người Tây Ban Nha đồng hương mà quên lãng dân bản xứ. Một tu sĩ dòng Phanxicô là Girôlamô Savônarôla đã giảng thuyết chống lại ngài, gia đình ngài và cả giáo triều Rô-ma. Ngài cố gắng lôi kéo vị tu sĩ này về phe mình nhưng không thành công nên đã ra vạ tuyệt thông và cho thiêu sống ông vào năm 1498. Tất cả mọi người đều biết đến lối sống vô luân trắng trợn của vị Giáo Hoàng này, nhưng kể cả khi Giáo Hội Công Giáo bị ngài làm nhục vào thời điểm đó, không có bất kỳ ý kiến nào nói rằng ngài không phải là người đứng đầu hợp lệ của Giáo Hội.

Giáo Hoàng Lêô X (tại vị 1513-1521) là một thành viên của gia đình Medici giàu có và quyền lực, người đã từng được phong làm Hồng y ở tuổi 14. Khi được bầu làm Giáo Hoàng vào năm 1513, Đức Lêô X đã tuyên bố: “Chúa đã ban cho chúng ta chức vị Giáo Hoàng, chúng ta hãy tận hưởng nó!”. Ngài bắt đầu tiêu tiền của Giáo Hội một cách xa hoa, lãng phí và chẳng bao lâu đã lâm cảnh… hết tiền, để rồi phải đưa ra một quyết định xấu xa vào năm 1516 là cấp ân xá để đổi lấy các khoản đóng góp tài chính. Điều này đã gây ra phản ứng mạnh mẽ từ một linh mục Dòng Augustinô ở Đức – Martin Luther, người đã công khai tấn công thói đạo đức giả của các giáo sĩ, những người tuyên bố là đại diện cho Chúa Ki-tô nhưng lại sống một cuộc sống phóng túng về mặt đạo đức. Trớ trêu thay, Giáo Hoàng Lêô X có thể đã tạo cho Luther rất nhiều luận cứ để chỉ trích cách ngài điều hành Giáo Hội; nhưng khi những người theo Luther từ bỏ Đức Lêô X, họ cũng từ bỏ luôn Giáo Hội Công Giáo. Như hầu hết chúng ta đều biết, Luther sau đó đã tiếp tục tấn công không chỉ sự lạm dụng quyền hành của các giáo sĩ, mà còn cả những tín điều căn bản của Giáo lý Công Giáo – và ông ta đã phải chịu vạ tuyệt thông đối với điều thứ hai, chứ không phải điều thứ nhất. Ngày nay, nhìn lại cuộc Cải cách lịch sử này, các vấn đề có vẻ đã trở nên dễ hiểu hơn rất nhiều so với thời điểm đó, khi mà một số điểm hợp lý đã được đưa ra bởi cả hai bên: những người theo Giáo Hoàng và những người theo Luther. Trong nhiều năm, những người Công Giáo bình thường thời bấy giờ đã không hiểu nổi chuyện gì đang thực sự diễn ra vì lập luận của bên nào cũng có phần đúng. Nhưng lịch sử đã cho thấy một điều mà ai cũng đã biết, đó là: Luther và những người đi theo ông ta đã rời bỏ Giáo Hội Công Giáo còn Giáo Hoàng tai tiếng Lêô X thì không.

Những trường hợp kể trên chắc chắn không phải là một danh sách đầy đủ về các giai đoạn khó khăn trong lịch sử Giáo Hội, nhưng có lẽ cũng là đủ để độc giả có thể hiểu được vấn đề một cách rõ ràng. Mặc dù Giáo Hội Công Giáo đã trải qua hết thời kỳ khó khăn này đến thời kỳ khó khăn khác, nhưng điều đó chưa bao giờ có nghĩa là những Giáo Hoàng trong các thời kỳ ấy không được công nhận là những người đứng đầu thực sự của Giáo Hội. Khi người ta tự ý quyết định rằng Giáo Hoàng nào đó không phải là Giáo Hoàng bởi vì ngài có quan điểm thần học sơ sài, hoặc vì ngài có những tai tiếng trong đời sống đạo đức, hoặc vì có vẻ như cuộc bầu cử chọn ngài làm Giáo Hoàng không được thực hiện đúng,… thì họ đang chơi với lửa.

Nói về ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng

Nhưng nếu các Đức Giáo Hoàng có thể phạm phải những sai lầm như vừa nêu, chắc chắn có những người sẽ cảm thẩy băn khoăn và đặt ra câu hỏi rằng: Liệu một Giáo Hoàng nào đó có thể giảng dạy hay đưa ra những giáo huấn sai lạc về mặt đức tin và giáo lý cách chính thức hay không? Câu trả lời là không, ngay cả khi ngài phạm phải một số sai lầm trong lĩnh vực khác hay có những tội lỗi gây ra bởi tính yếu đuối của con người như tất cả chúng ta. Nguyên nhân là vì Đức Giáo Hoàng có được đặc ân bất khả ngộ hay dễ hiểu hơn là không thể sai lầm. Đây là một trong những khái niệm bị hiểu nhầm, bóp méo và chỉ trích nhiều nhất từ những người ngoài Công Giáo. Dĩ nhiên, về phần mình, để hiểu rõ giáo huấn của Giáo Hội, người Ki-tô hữu chúng ta không thể chỉ đọc các khái niệm một cách qua loa và tự ý suy diễn, nhưng phải xem xét kỹ càng dựa theo những gì Giáo Hội đã chỉ dẫn. Trong Hiến chế tín lý về Giáo Hội (Lumen Gentium) được ban hành năm 1964, ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng được định nghĩa như sau:

“Ơn bất khả ngộ mà Chúa Cứu Thế đã muốn ban cho Giáo Hội của Người khi xác định giáo thuyết về đức tin và luân lý (phong hóa), trải rộng đến tất cả những gì có trong kho tàng mạc khải thần linh mà Giáo Hội phải bảo toàn cách cẩn trọng và phải trình bày cách trung thành. Vị Giám mục Rô-ma, Thủ lãnh của Giám mục đoàn, hưởng ơn bất khả ngộ đó do chức vụ của mình khi, với tư cách là chủ chăn và thầy dạy tối cao của mọi tín hữu, là người củng cố đức tin anh em mình (x. Lc 22,32), ngài công bố giáo thuyết về đức tin và luân lý bằng một phán quyết tuyệt đối. Vì lẽ này, thật hợp lý khi nói rằng những xác quyết của ngài là không thể sửa đổi do tự bản chất chứ không phải do sự đồng ý của Giáo Hội, vì những điều đó được công bố dưới sự bảo trợ của Chúa Thánh Thần mà Chúa đã hứa ban cho ngài trong Thánh Phê-rô, như vậy, không cần ai khác chuẩn nhận và không phải nại tới một phán quyết nào khác. Thật vậy, vị Giám mục Rô-ma không đưa ra xác quyết với tư cách cá nhân, nhưng trình bày và bảo vệ giáo thuyết đức tin Công Giáo với tư cách là thầy dạy tối cao của toàn thể Giáo Hội, nơi ngài, đặc sủng bất khả ngộ của chính Giáo Hội hiện diện một cách đặc biệt. Ơn bất khả ngộ được hứa cho Giáo Hội cũng hiện diện nơi Giám mục đoàn khi các ngài thực thi quyền giáo huấn tối thượng cùng với Đấng kế vị Thánh Phê-rô. Giáo Hội không thể không chấp nhận những phán quyết đó, vì được tác động bởi cùng một Thánh Thần, nhờ đó toàn thể đoàn chiên Đức Ki-tô được bảo vệ và phát triển trong sự hợp nhất của đức tin.” (LG 25)

Nói như vậy, mặc dù có thể Đức Giáo Hoàng không phải người hoàn hảo, nhưng ngài sẽ không bao giờ sai lầm khi tuyên bố các giáo thuyết về đức tin hay luân lý một cách long trọng từ ngai tòa. Ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng còn được thể hiện trong những quyết định của Giám mục đoàn hợp nhất với ngài, nhất là khi các ngài họp Công đồng Chung và công bố các giáo thuyết về đức tin hay luân lý bằng một hành động dứt khoát.

Kết luận

Thực tiễn đã cho thấy rằng, có thể mất nhiều năm hay thậm chí hàng thế kỷ trước khi lớp bụi bên ngoài được giũ bỏ, các vấn đề thực sự đang diễn ra trong một cuộc khủng hoảng mới có thể được nhìn nhận và đánh giá một cách đúng đắn. Nhưng có một điều luôn đúng đối với người Công Giáo trong suốt chiều dài lịch sử, đó là lời tuyên bố của Đức Ki-tô trong Tin Mừng Mát-thêu: “trên tảng đá này [Thánh Phê-rô], Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18). Không một tổ chức nào do con người tạo ra có thể tồn tại trước các cuộc tấn công từ bên ngoài, những cuộc đấu đá nội bộ, các vụ bê bối và tranh luận ý thức hệ mà Giáo Hội Công Giáo đã phải trải qua; nhưng Giáo Hội đã, đang và chắc chắn vẫn sẽ tiếp tục tồn tại cho đến Ngày tận thế. Những người Công Giáo cắn răng chịu đựng các khó khăn và gắn bó với Đức Giáo Hoàng, bất kể ngài là một người dễ mến, thông minh, một người tốt đẹp về mặt đạo đức hay thế nào đi nữa – luôn được chứng minh là đã chọn đúng phe. Và sau những thời kỳ thử thách ấy, đức tin của người tín hữu sẽ càng thêm vững chắc và được củng cố. Vì rõ ràng là vô số giáo sĩ tội lỗi và thiếu sót trong suốt hơn 20 thế kỷ qua đã không thể tiêu diệt được Giáo Hội.

Đối với những người theo Thuyết trống tòa hay các bất kỳ hội đoàn theo Chủ nghĩa Công Giáo truyền thống nào khác, chúng ta cần phải có thái độ đúng đắn với họ. Hãy tìm hiểu rõ những sai lầm mà họ mắc phải để nhắc nhở mình trong việc giữ đạo, nhưng cũng hãy dành cho họ tất cả sự thiện chí và tình yêu thương. Bởi vì Chúa Ki-tô không mong muốn gì hơn cho Giáo Hội của Ngài trong những sự phân ly không đáng có này là: chúng ta hãy hòa giải và hiệp nhất với nhau. Chúng ta hay nhớ cầu nguyện cho họ và luôn sẵn sàng chào đón họ quay trở về với chúng ta trong vòng tay của Mẹ Hội Thánh.


Tài liệu tham khảo:

https://www.tgpsaigon.net/bai-viet/vai-net-khai-quat-ve-cong-dong-chung-vatican-ii-35797

http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/CongDong/12vaiNetCDVat2.htm

https://canonlawmadeeasy.com/2017/04/20/can-you-be-both-a-catholic-and-a-sedevacantist/

https://daminhtamhiep.net/2013/07/trieu-dai-70-duc-giao-hoang-honorio/

http://daminhtamhiep.net/2014/02/trieu-dai-193-duc-giao-hoang-bonifacio/

https://daminhtamhiep.net/2014/03/trieu-dai-214-duc-giao-hoang-alexande-vi/