Phần II: Phản ứng thế nào trước nguy cơ đánh mất bình an

1. Những khó khăn và nỗi sợ phải lâm cảnh thiếu thốn

Lý do thông thường nhất khiến chúng ta có thể đánh mất cảm giác bình an là nỗi sợ hãi gây ra bởi những hoàn cảnh đụng chạm đến bản thân mình, và từ đó, chúng ta cảm thấy bị de doạ, thấy sợ phải đối diện với những khó khăn trong hiện tại hoặc tương lai, sợ thiếu một điều gì đó quan trọng, sợ không thành công dự án này dự án kia,… Những nỗi sợ như vậy chẳng bao giờ là thiếu và chúng có liên quan đến tất cả mọi khía cạnh trong đời sống thường ngày (sức khoẻ, gia đình, nghề nghiệp, đối nhân xử thế,…) cũng như trong đời sống thiêng liêng của chúng ta.

Trên thực tế, trong mỗi trường hợp như vậy, nỗi sợ hãi này có liên quan đến lợi ích của chúng ta xét theo một số phương diện không cố định của đời sống. Chẳng hạn như những lợi ích về vật chất (tiền bạc, sức khoẻ, quyền hành); những lợi ích về mặt luân lý (khả năng cá nhân, sự kính trọng và thiện cảm của một số người nào đó); hay những lợi ích về mặt tinh thần. Đó là những lợi ích mà chúng ta ao ước hoặc coi như cần thiết, chúng ta sợ mất đi, sợ không đạt được hoặc thực tế, chúng ta đang thiếu thốn. Và rồi, trạng thái bồn chồn do thiếu thốn hoặc nỗi sợ phải lâm cảnh thiếu thốn ấy lại trở thành nguyên nhân khiến chúng ta đánh mất bình an.

Vậy, khi phải đối mặt với một tình huống như thế, điều gì cho phép chúng ta luôn giữ mãi bình an? Sự khôn ngoan và các phương thế của con người, với sự thận trọng, những dự tính, những trù liệu và bảo hiểm đủ loại, chắc chắn vẫn sẽ là không đủ; vì rõ ràng, không phải bởi những toan tính hay ưu tư như vậy mà người ta sẽ tìm thấy cho mình một giải pháp. Chúa Giê-su đã nói rằng: “Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay?” (Mt 6,27). Không bao giờ con người có thể bảo đảm hay tin tưởng tuyệt đối vào một sự bảo đảm nào đó, rằng mình sẽ sở hữu bất cứ điều gì; và ngay cả mọi thứ họ đang nắm trong tay, cũng có thể sẽ có ngày vuột mất. Đồng thời, nó chắc chắn cũng không phải là cách mà Đức Giê-su chỉ dạy chúng ta. Ngược lại, Ngài nói rằng: “ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất” (Mt 16,25).

Người ta thậm chí có thể nói một cách chắc nịch rằng, để đánh mất bình an, hãy cứ tìm cách bảo đảm mạng sống mình chỉ với sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật, những dự án và những quyết định cá nhân, hoặc bằng cách cậy dựa vào một ai đó. Nhưng trong tình trạng lo lắng và khổ đau, người ta vẫn tìm cách tự cứu lấy bản thân bất chấp những bất lực, khả năng có hạn và việc mình không thể thấy trước biết bao điều tiềm ẩn, cũng như những lừa gạt đến từ những thứ mà họ dựa dẫm.

Giữa muốn vàn thứ hiểm hoạ trong cuộc sống như vậy, để duy trì sự bình an, chúng ta chỉ có một giải pháp, đó là: Cậy trông vào chỉ một mình Thiên Chúa và tín thác hoàn toàn vào Người, vì “Cha Trên Trời biết anh em cần gì” (x. Mt 6,32).

“Vì vậy Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao? Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay? Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin! Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó” (Mt 6,25-32).

Rõ ràng, Đức Giê-su không muốn cấm cản chúng ta làm bất cứ điều gì cần thiết để kiếm cho mình của ăn thức mặc, cũng như đáp ứng những nhu cầu khác của con người, nhưng Ngài chỉ muốn giải thoát chúng ta khỏi những lắng lo vốn hủy hoại và khiến chúng ta đánh mất bình an.

Vậy nhưng không ít người vẫn sững sờ khi nghe những lời này và họ không thành tâm đón nhận chúng; thậm chí họ cảm thấy chướng tai gai mắt bởi cách thức nhìn nhận sự vật như thế. Tuy vậy, họ sẽ không phải đau khổ và giày vò vô ích nếu họ coi trọng những lời ấy, vốn là Lời của Thiên Chúa, Lời yêu thương, Lời ủi an và trìu mến lạ thường.

Bi kịch lớn lao của chúng ta là ở chỗ này: Con người không có niềm tin vào Thiên Chúa. Từ đó, con người tìm mọi nơi chốn có thể hầu giải thoát chính mình bằng những khả năng riêng; và rồi, thấy mình bất hạnh quá đỗi từ ngày này qua ngày khác thay vì phó mình hoàn toàn trong vòng tay trìu mến và cứu độ của Cha trên trời. Việc thiếu lòng tin này thật phi lý biết bao! Không phi lý sao được khi đứa con lại ngờ vực Cha mình, một người Cha tuyệt vời và quyền năng nhất, Đấng hằng hữu, là Cha trên trời? Bất chấp chân lý này, chúng ta vẫn rất thường xuyên sống trong sự điên rồ đó. Hãy nghe lời khiển trách nhẹ nhàng của Chúa nói với chúng ta qua miệng thánh nữ Ca-ta-ri-na thành Siêna: “Tại sao con không tin vào Ta, Đấng tạo thành con, mà lại cậy dựa vào bản thân mình? Ta không thành tín và thủy chung với con sao? Được cứu chuộc và phục hồi ân sủng nhờ máu Con Một của Ta, con người có thể nói rằng, nó đã nghiệm biết lòng thành tín của Ta. Và, dẫu vậy, xem ra nó vẫn hoài nghi không biết Ta có đủ quyền năng để giúp nó, đủ mạnh mẽ để trợ lực và bảo vệ nó chống lại kẻ thù, đủ khôn ngoan để soi sáng đôi mắt trí tuệ của nó hoặc đủ bao dung để thương ban những gì cần thiết cho ơn cứu độ của nó hay không? Xem chừng như nó nghĩ, Ta không đủ giàu có để làm cho nó thịnh vượng, không đủ xinh đẹp để làm cho nó mỹ miều; hay là nó sợ không kiếm đủ bánh ăn trong nhà để nuôi dưỡng nó, hay không có đủ vải vóc cho nó che thân?”[1].

Chẳng hạn, biết bao người trẻ ngần ngại phó mình hoàn toàn cho Thiên Chúa chỉ vì họ không tin Người có khả năng ban cho họ hạnh phúc viên mãn. Rồi họ tự đi tìm hạnh phúc cho riêng mình và trong chặng đường đó, chỉ chuốc lấy muộn phiền và bất hạnh.

Đây đúng là đại thắng của Xa-tan, cha đẻ nghề nói dối và là tên cáo tội: nó thành công trong việc gieo vào lòng con cái Thiên Chúa sự bất tín đối với Cha mình.

Tuy nhiên, chúng ta đi vào trần gian với dấu vết bất tín này. Đó là tội nguyên tổ. Để rồi toàn bộ đời sống thiêng liêng của chúng ta cốt ở quá trình trường kỳ để tái giáo dục nhằm lấy lại niềm tin đã mất nhờ ân sủng Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho chúng ta có khả năng thưa lên một lần nữa với Thiên Chúa: Áp-ba, Cha ơi!

Nhưng quả thật, đối với chúng ta, cuộc “trở về với niềm tin” này sẽ rất khó khăn, trường kỳ và phải đi cùng đau đớn. Ở đó, có hai trở ngại chính.

2. Khó khăn trong việc tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa

Trở ngại đầu tiên là bao lâu chưa cảm nghiệm được cách cụ thể sự trung tín của Chúa Quan Phòng, Đấng ban cho chúng ta những gì thiết yếu, chúng ta vẫn gặp khó khăn trong việc tin vào sự trung tín đó và quay lưng lại với nó. Chúng ta cứng đầu cứng cổ, chỉ Lời của Đức Giê-su thôi, không đủ, chúng ta còn muốn thấy ít nữa một điều gì đó dù nhỏ bé,… mới tin! Kìa, không thấy sự quan phòng đang hoạt động chung quanh mình cách hiển nhiên, thử hỏi làm sao chúng ta có thể cảm nghiệm được nó nơi chính mình?

Điều quan trọng là biết được điều này: chúng ta không thể cảm nghiệm được sự trợ giúp quan phòng từ Thiên Chúa nếu chẳng để cho Người một khoảng không cần thiết, trong đó, Người có thể biểu lộ chính mình. Ở đây, chúng ta thử làm một so sánh: bao lâu người nhảy dù không chịu nhảy ra khoảng không, người ấy không thể cảm nhận những sợi dây đang nhấc bổng mình lên,… bởi cánh dù chưa có cơ hội bung ra. Người đó phải nhảy trước đã, rồi chỉ sau đó mới cảm nghiệm mình được nâng lên; đời sống thiêng liêng cũng vậy. Theo thánh Gio-an Thánh Giá, “Thiên Chúa trao ban theo mức chúng ta trông chờ” và theo thánh Phan-xi-cô Sa-lê, “Mức độ quan phòng của Thiên Chúa hoạt động nơi chúng ta cũng là mức độ niềm tin chúng ta đặt vào đó”. Vấn đề ở đây là: có nhiều người không tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa bởi họ chưa bao giờ cảm nghiệm được sự quan phòng này mà lý do là: họ chưa bao giờ thả mình vào khoảng không để thực hiện bước nhảy của niềm tin. Họ chưa bao giờ để cho sự quan phòng can thiệp. Họ cân nhắc mọi chuyện, tiên liệu mọi điều và cậy vào sức mình để tìm giải quyết mọi việc thay vì trông cậy vào Chúa. Các đấng lập dòng khi xưa đã hành động với sự táo bạo trong niềm tin. Họ mua nhà khi chưa có một đồng xu, họ tiếp nhận người nghèo dù chẳng có gì để nuôi ăn. Để rồi Thiên Chúa làm phép lạ cho họ, các tấm ngân phiếu lần lượt gửi về, và kho lẫm chẳng bao lâu đã đầy lúa gạo. Thế nhưng, có một điều đã thường xuyên xảy ra, vào các thế hệ sau họ, mọi chuyện được lên chương trình và hạch toán. Người ta sẽ không bỏ ra một đồng cho bất cứ khoản chi nào mà không biết chắc mình sẽ có đủ để trang trải tất cả. Vậy thì làm sao việc quan phòng của Chúa có thể biểu lộ? Cũng đúng như vậy trong đời sống thiêng liêng. Nếu một linh mục biên soạn tất cả bài giảng và bài nói chuyện của mình tỉ mỉ đến từng chấm từng phết hầu đảm bảo chắc chắn không gì sai sót trước người nghe, nhưng ông lại không bao giờ mạnh dạn bắt đầu bài giảng bằng những giờ cầu nguyện và tín thác vào Thiên Chúa như là việc chuẩn bị duy nhất, thử hỏi, làm sao linh mục đó có thể có được cảm nghiệm tuyệt vời về Chúa Thánh Thần là Đấng phán dạy qua môi miệng mình? Tin Mừng đã chẳng nói thế này sao? “… anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em” (Mt 10,19-20).

Phải thật sáng suốt, rõ ràng ở đây, chúng ta không nói rằng việc tiên liệu trước mọi chuyện, hạch toán ngân sách hay chuẩn bị các bài giảng,… là điều không tốt. Đừng quên, các khả năng tự nhiên của chúng ta cũng là những công cụ trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa! Tuy nhiên, mọi thứ còn phải tuỳ thuộc vào cái tinh thần, trong đó, chúng ta thực hiện. Cần hiểu rõ sự khác biệt lớn lao giữa hai thái độ tâm hồn. Một là thái độ của người sợ mình sai sót vì không tin tưởng vào sự can thiệp của Thiên Chúa như những ai cậy dựa vào Người hằng tín thác, họ lập trình trước mọi sự đến từng chi tiết nhỏ nhất và không chịu đảm trách bất cứ việc gì nếu không lường trước cách chính xác rằng mình có thể thực hiện được; hai là thái độ của người nhất định đảm đương những việc chính đáng, nhưng họ lại từ bỏ chính mình với niềm tin tưởng Thiên Chúa sẽ ban cho họ tất cả những gì họ kêu xin; và thế là họ làm được cả những gì vượt trên khả năng của mình. Như vậy, những gì Thiên Chúa đòi hỏi nơi chúng ta lại luôn luôn vượt quá khả năng tự nhiên của con người!

3. Sợ đau khổ

Một trở ngại lớn khác trong việc phó mình cho sự Quan Phòng của Thiên Chúa là sự hiện diện của đau khổ trong cuộc đời cũng như trong thế giới xung quanh chúng ta. Ngay cả đối với những ai phó thác cho Thiên Chúa, Người vẫn cho phép đau khổ xảy đến với họ. Người để cho họ thiếu thốn một số điều kiện, ở một mức độ nào đó, đôi khi gây đau đớn. Hãy nghĩ đến cảnh nghèo khó mà gia đình thánh nữ Bernadette ở Lộ Đức đã lâm vào. Đây không phải là điều mâu thuẫn với những lời trong Tin Mừng sao? Không đâu, bởi lẽ Thiên Chúa có thể để chúng ta thiếu thốn một đôi điều (mà nhiều lúc, là những điều không thể thiếu trong mắt người đời) nhưng không bao giờ Người lấy khỏi chúng ta những gì thiết yếu nhất: sự hiện diện của Người, bình an của Người và tất cả những gì cần thiết cho việc hoàn tất trọn vẹn cuộc đời theo kế hoạch mà Người dành cho chúng ta. Nếu Người cho phép đau khổ xảy ra, thì đó chính là để chúng ta mạnh mẽ tin tưởng như thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su rằng: “Thiên Chúa không cho phép có những đau khổ không cần thiết”.

Trong phạm vi cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như trong lịch sử nhân loại, nếu muốn tiến tới những giới hạn cuối cùng của niềm tin Ki-tô Giáo, chúng ta phải xác tín rằng, Thiên Chúa đủ tốt lành và quyền năng để sử dụng bất cứ sự dữ cũng như đau khổ nào nhằm ban ơn cho chúng ta, dẫu chúng có vẻ vô lý và không cần thiết. Điều này không thể chứng minh bằng toán học hay triết học, nhưng chỉ có thể là một hành vi đức tin. Việc công bố sự phục sinh của Đức Giê-su được hiểu và đón nhận như chiến thắng dứt khoát của Thiên Chúa trên sự dữ mời gọi chúng ta thực hiện chính hành vi đức tin này.

Sự dữ là một mầu nhiệm, một điều xấu xa và sẽ mãi mãi như vậy. Thật là cần thiết để mỗi người làm những gì có thể hầu loại trừ sự dữ cũng như xoa dịu khổ đau; tuy nhiên, sự dữ vẫn luôn có mặt trong đời sống mỗi người, cũng như giữa thế gian. Vị trí của sự dữ trong nhiệm cục cứu độ cho thấy sự khôn ngoan của Thiên Chúa, vốn không giống như sự khôn ngoan của loài người, luôn chứa đựng một điều gì đó không thể hiểu được,… vì “Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55,8-9).

Đến một lúc nào đó trong cuộc sống, người Ki-tô hữu nhất thiết được mời gọi tin vào cái nghịch thường của những cái bên ngoài để rồi vẫn trông cậy “mặc dầu không còn gì để trông cậy” (Rm 4,18). Sẽ có những hoàn cảnh không thể tránh khỏi, ở đó, chúng ta không hiểu “tại sao” Thiên Chúa lại hành động như thế vì đó không còn là sự khôn ngoan loài người, một sự khôn ngoan gói gọn trong khả năng hiểu biết được lý giải bởi trí uệ của phàm nhân. Đúng hơn, đó là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, nhiệm mầu và khó hiểu, đang can thiệp vậy.

Và phúc thay, không phải bao giờ chúng ta cũng hiểu hết! Nếu không như thế thì làm sao sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa có thể tự do hoạt động theo những kế hoạch của Người? Đâu là chỗ để dành cho đức tin? Quả vậy, có biết bao điều chúng ta không hành động như Thiên Chúa hành động! Hẳn chúng ta đã không chọn lấy cái điên rồ của thập giá như một phương thế cứu rỗi! May thay, chính sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa đang điều khiển mọi sự chứ không phải khôn ngoan của chúng ta, vì sự Khôn Ngoan đó mạnh mẽ hơn, âu yếm hơn và trên hết, giàu lòng thương xót hơn sự khôn ngoan của chúng ta.

Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa không chỉ hoạt động trong chúng ta cách lạ lùng và khó hiểu, nhưng ngay cả trong những gì Người chuẩn bị cho những ai trông cậy vào Người cũng lạ lùng và khó hiểu như thế. Vì rằng, vinh quang và vẻ đẹp của những gì được Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa chuẩn bị, thì trổi vượt trên sự hiểu biết và trí tưởng tượng của chúng ta: “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người. Còn chúng ta, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí” (1 Cr 2,9-10).

Sự khôn ngoan của con người chỉ đủ sức thực hiện những công việc phàm nhân. Và chỉ sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa mới có thể tạo nên những điều thần thánh, là những điều mà “Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người”.

Bởi thế, mỗi khi đối mặt với các vấn đề của sự dữ, có một điều chắc chắn phải trở thành sức mạnh của chúng ta, đó không phải là một lời giải đáp theo kiểu triết học, nhưng là niềm tin của một trẻ nhỏ trong Thiên Chúa, vào Tình Yêu và sự Khôn Ngoan của Người. Chúng ta cần xác tín rằng: “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định” (Rm 8,28) và “những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18).

4. Để lớn lên trong niềm tín thác: Lời cầu nguyện của một trẻ nhỏ

Bằng cách nào để có thể lớn lên trong niềm tín thác vào Thiên Chúa; bằng cách nào để chúng ta có thể giữ lấy và nuôi dưỡng niềm tin đó trong chính mình? Chắc chắn không chỉ bằng những suy đoán của lý trí hay những suy tư về thần học – những điều không bao giờ đứng vững trước các cơn thử thách, nhưng chỉ bằng cách chiêm ngưỡng Đức Giê-su.

Vâng, chiêm ngưỡng Đức Giê-su, Đấng trao ban mạng sống mình cho chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta với một “tình yêu quá đỗi cao vời” mà Ngài đã tỏ bày trên thập giá; đó chính là điều sẽ thực sự khơi dậy niềm tín thác. Và chứng từ tột đỉnh của tình yêu – “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13) – chắc chắn phải là điều xứng đáng để chúng ta chiêm ngưỡng không ngừng nghỉ, giữ thật chặt ánh mắt của mình trong sự say đắm của tình yêu và đức tin; đồng thời, củng cố tâm hồn từng chút một trong niềm tín thác không hề suy chuyển. Điều gì khiến con người phải sợ hãi ở nơi Thiên Chúa, Đấng đã tỏ bày tình yêu của Người một cách rõ ràng như vậy? Lẽ nào Người lại không trọn vẹn, hoàn hảo và tuyệt đối trong việc đem đến lợi ích cho chúng ta? Lẽ nào vị Thiên Chúa muốn làm bạn với con người ấy lại hẹp hòi không ban cho chúng ta mọi sự, trong khi “đến như Con Một, Người cũng chẳng tiếc” vì chúng ta – những người tội lỗi? Nếu có Người bênh đỡ, “ai còn chống lại được chúng ta?” (Rm 8,31).

Và như vậy, chúng ta thấy rằng sự chiêm ngưỡng Thiên Chúa đóng vai trò vô cùng cần thiết để có thể lớn lên trong niềm tín thác. Rõ ràng, có rất nhiều người thất vọng chỉ vì họ không làm như vậy, họ không giành thời giờ để nuôi dưỡng tâm hồn và đem nó trở lại trong bình an bằng cách chiêm ngưỡng Đức Giê-su với lòng yêu mến. Để chống lại nỗi sợ hãi và sự chán nản, chúng ta phải nhờ tới cầu nguyện – đó là một kinh nghiệm cá nhân về việc gặp lại, nhận biết và yêu mến Thiên Chúa – nào, “hãy nếm thử và hãy nhìn xem, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao” (x. Tv 34,9). Những xác tín mà thói quen cầu nguyện khắc sâu vào tâm hồn chúng ta sẽ mạnh mẽ hơn nhiều so với những xác tín bắt nguồn từ lý luận, ngay cả những suy tư thần học ở trình độ cao nhất.

Vì những cuộc tấn công của ma quỷ, với những ý tưởng khiến người ta hoài nghi và ngã lòng trông cậy, thì không bao giờ ngưng nghỉ; cho nên, để chống trả lại, chúng ta cũng phải cầu nguyện một cách liên lỉ và nhiệt thành. Biết bao lần tôi chầu trước Thánh Thể trong tâm trạng lo lắng, chán nản và chẳng có bất cứ điều gì đặc biệt xảy ra; tôi không nói một lời, cũng không trào dâng một cảm xúc đặc biệt nào cả,… nhưng tôi ra về với tâm hồn bình an. Bối cảnh bên ngoài vẫn mãi là như thế, luôn luôn có những khó khăn chờ tôi giải quyết, nhưng một khi tâm hồn đã được đổi mới, tôi có thể đương đầu với chúng một cách thanh thản. Chúa Thánh Thần đã thực thi công việc kín đáo của Ngài.

Con người ta có thể không bao giờ dành một sự coi trọng cần thiết cho việc suy ngẫm và chiêm niệm – nguồn mạch đích thực của bình an nội tâm. Làm sao một người có thể phó mình cho Thiên Chúa, đặt hết niềm tin vào Người nếu người ấy chỉ biết Thiên Chúa xa xa hoặc nghe người khác nói lại? “Trước kia, con chỉ được biết về Ngài nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến” (G 42,5). Tâm hồn không nhận ra niềm tin mãi cho đến khi nó nhận ra tình yêu; phải cảm nhận cho được sự trìu mến và dịu hiền của Trái Tim Đức Giê-su. Điều này không thể có được trừ khi chúng ta có thói quen cầu nguyện suy ngẫm, với sự yên tĩnh dịu dàng trong Chúa – điều mà chúng ta gọi là chiêm ngưỡng.

Thế nên, mỗi người hãy học cách phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa, đặt hết niềm tin vào Người trong mọi sự với tâm tình đơn sơ của trẻ nhỏ; và rồi, Thiên Chúa sẽ tỏ cho chúng ta thấy được tình cảm trìu mến, sự quan phòng và lòng trung tín của Người theo cách thức mà đôi khi, ở mức độ tràn đầy. Nếu có lúc nào đó, qua cái nhìn bề ngoài, tưởng như Thiên Chúa đối xử với chúng ta quá đỗi khắt nghiệt, thì cũng chính khi ấy, Người lại nâng niu, chiều chuộng chúng ta với sự tinh tế đáng kinh ngạc vốn chỉ có thể phát xuất từ tình yêu dịu dàng và thuần khiết của Người. Vào cuối đời, khi thánh Gio-an Thánh Giá trên đường tới tu viện, nơi ngài sẽ sống những giờ phút cuối cùng, với bệnh tật, kiệt sức và tưởng chừng không thể đi tiếp. Trong giây phút ấy, thánh nhân những mong có lấy vài nhánh măng tây như những nhánh măng ngài đã được ăn thời thơ ấu,… Và có ai ngờ, cạnh một tảng đá, nơi ngài ngồi lấy sức, kỳ diệu thay, một bụi măng tây được Cha gửi đến.

Giữa những thử thách, chúng ta vẫn có thể cảm nghiệm những sự dịu dàng của Tình Yêu Thiên Chúa. Chúng không dành riêng cho các thánh, nhưng cho tất cả những ai khó nghèo, những người tin rằng Thiên Chúa là Cha của họ. Chúng có thể trở thành một sự khích lệ mạnh mẽ, hiệu quả hơn bất cứ lý luận nào; nhờ đó, chúng ta có thể phó mình cho sự chăm sóc của Người.

Và tôi tin rằng, đây là câu trả lời đúng đắn cho mầu nhiệm sự dữ và khổ đau. Đó không phải là câu trả lời mang tính triết học, nhưng mang tính hiện sinh. Phó mình cho Thiên Chúa, tôi cảm nghiệm cách cụ thể rằng: “mọi sự đang vận hành thực sự” và Thiên Chúa đang đan kết chúng với nhau để sinh lợi ích cho tôi, cả những sự dữ, cả những đau khổ và thậm chí cả những tội lỗi của tôi. Bao nhiêu lần tôi khiếp đảm khi chúng ập xuống; nhưng phân tích kỹ, cuối cùng, tôi cũng chịu đựng được và rốt cuộc, chúng lại sinh lợi ích cho tôi sau những đớn đau ban đầu. Vậy là những gì tôi tưởng như rủi ro cho mình, hoá ra lại sinh lợi ích cho tôi. Vì thế, tôi tự nhủ, những gì Thiên Chúa đã làm cho tôi theo Lòng Thương Xót vô biên của Người, Người cũng làm cho những người khác như vậy; và theo một cách thức nhiệm mầu, kín đáo, Người cũng làm như thế cho toàn cõi nhân sinh.

5. Phó thác hoàn toàn hoặc không gì cả

Liên quan tới vấn đề phó thác, sẽ thật hữu ích nếu trước tiên, chúng ta đưa ra một quan sát về nó. Muốn sự phó thác có thể được coi là đích thực và đưa tới bình an, đó phải là phó thác hoàn toàn. Chúng ta phải đặt mọi sự – không gì ngoại lệ – vào tay Thiên Chúa và không tìm cách điều khiển hay tự “cứu” mình bằng những phương thế của bản thân bất kể chúng thuộc phương diện nào – vật chất, xúc cảm hay thiêng liêng. Chúng ta không thể chia cắt sự hiện hữu của mình thành nhiều mảng khác nhau mà trong đó, có những mảng chúng ta thấy có lý khi phó mình cho Chúa trong niềm tín thác; trong khi trái lại, có những mảng chúng ta cảm thấy phải tự mình xoay xở. Và có một điều chúng ta biết rõ: tất cả những thực tại mà chúng ta chọn cách tự mình xoay sở thay vì phó dâng cho Chúa như vậy, chính chúng sẽ mang tới cho chúng ta ít nhiều bất an. Thước đo cho sự bình an nội tâm cũng chính là thước đo của mức độ mà chúng ta phó thác vào Chúa, và như thế, nó gắn với mức độ từ bỏ.

Sự phó thác tất yếu phải đòi hỏi yếu tố từ bỏ, đó chính là điều khó khăn nhất đối với chúng ta. Một cách tự nhiên, chúng ta có khuynh hướng bám víu vào nhiều thứ: vật chất, tình cảm, ước muốn, dự tính,… Và những thứ này sẽ đưa ra cái giá cắt cổ khi chúng ta khi có có ý định từ bỏ chúng; thật vậy, chúng ta luôn có ấn tượng sai lầm rằng khi từ bỏ những thứ ấy, chúng ta sẽ đánh mất chính mình và chúng ta sẽ chết. Nhưng đó là lý do tại sao chúng ta phải tin tưởng tuyệt đối vào lời Đức Giê-su và tin vào luật “mất thì được” vốn quá rõ ràng trong Tin Mừng, “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Mt 16,25). Ai chấp nhận chết vì phải cắt đứt và từ bỏ như vậy sẽ tìm được sự sống đích thực. Ai còn bám víu vào một điều gì đó, ai còn muốn giữ lại một phần nào đó trong cuộc sống để tiện cho việc tự biên tự diễn mà không phó thác nó trong tay Thiên Chúa, người ấy phạm một sai lầm chí mạng: hiến mình cho những mối bận tâm không cần thiết và tự đặt mình vào một tâm trạng day dứt vì cảm thấy mất mát. Trái lại, ai biết chấp nhận đặt mọi sự vào tay Thiên Chúa, để Người ban cho hay lấy đi tuỳ theo ý thích tốt lành của Người, người đó sẽ tìm được bình an khôn tả và được tự do trong tâm hồn. Thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su đã thốt lên: “Ôi, giá mà người ta biết được phần phúc của họ khi từ bỏ mọi sự!”. Đây là con đường dẫn tới hạnh phúc; vì nếu chúng ta để cho Thiên Chúa tự do hành động theo cách của Người, thì Người sẽ khiến chúng ta hạnh phúc vô cùng so với hạnh phúc mà chúng ta tự mình làm được, bởi Người biết và yêu thương chúng ta hơn cả chúng ta từng biết và yêu thương chính mình. Thánh Gio-an Thánh Giá cũng bày tỏ chân lý này theo một cách nói khác, “mọi sự được ban cho tôi ngay khi tôi thôi tìm kiếm chúng”. Nếu chúng ta dứt bỏ chính mình ra khỏi mọi sự và đặt nó vào tay Thiên Chúa, Người sẽ trả lại cho chúng ta gấp trăm “kể từ hôm nay và mãi mãi” (1 Mcb 10,30).

6. Thiên Chúa đòi hỏi mọi sự, nhưng không nhất thiết lấy đi mọi sự

Đối với những điều chúng ta vừa xem xét, việc quan trọng là phải biết cách vạch trần một thứ thủ đoạn xảo quyệt mà ma quỷ thường xuyên sử dụng để phá rối và khiến chúng ta nản lòng. Khi thấy chúng ta đang sở hữu một số mối lợi nào đó (của cải, tình bạn, sở thích cả nhân,…), ma quỷ, trong nỗ lực ngăn cản chúng ta phó mình cho Thiên Chúa, khiến chúng ta tưởng tượng rằng nếu chúng ta đặt mọi thứ mình có trong tay Người, Người sẽ đoạt lấy và “hủy hoại” tất cả! Điều này khơi dậy nơi chúng ta một cảm giác khiếp sợ dẫn tới sự tê liệt hoàn toàn- một cái bẫy tinh vi mà chúng ta phải hết sức dè chừng! Trong khi đó, ở phía ngược lại, rất thường xuyên, Thiên Chúa chỉ đòi hỏi ở chúng ta một thái độ từ bỏ trong tâm hồn và sẵn sàng dâng cho Người mọi sự. Nhưng Người không nhất thiết lấy đi mọi sự của chúng ta. Người để chúng ta yên tâm sở hữu nhiều thứ nếu bản thân chúng không xấu và có thể phục vụ các kế hoạch của Người; đồng thời, trấn an chúng ta trước những đắn đo khi hưởng dùng một số của cải hay thú vui thuần túy,… Sự đắn đo như vậy được tìm thấy nơi những người yêu mến Thiên Chúa và ước ao thi hành ý muốn của Người. Và chúng ta phải xác tín một cách vững chắc rằng: nếu Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta từ bỏ thực tại này hay thực tại kia, thì Người sẽ làm cho chúng ta hiểu rõ nguyên do ở một thời điểm thuận tiện và sẽ ban cho chúng ta sức mạnh cần thiết để vượt qua. Mặc dù việc từ bỏ như vậy có thể làm chúng ta đau đớn trong một thời gian, nhưng tiếp sau nó sẽ là một sự bình an sâu thẳm. Vì thế, thái độ đúng đắn cần phải có là hoàn toàn sẵn sàng dâng hết mọi sự cho Thiên Chúa mà không chút sợ hãi, hãy để Người làm mọi việc theo đường lối Người trong tâm tình tin tưởng tuyệt đối.

7. Phải làm gì khi bạn không có khả năng từ bỏ chính mình?

Chúng tôi đã đặt câu hỏi này cho bà Marthe Robin, và bà trả lời: “Dù thế nào đi nữa, cứ phó mình cho Chúa!”. Đây là câu trả lời của một vị thánh; vì thế, tôi không thể cho mình được phép hỏi thêm gì khác. Bà Marthe Robin đã thêm lời mình vào lời của thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su: “Phó thác hoàn toàn. Đó là luật duy nhất của tôi!”.

Phó thác không tự nhiên mà có; đó là một ân phúc phải cầu xin từ Thiên Chúa. Người sẽ ban ơn đó cho chúng ta nếu chúng ta khấn xin cách kiên trì, “anh em cứ xin thì sẽ được” (Mt 7,7).

Phó thác là hoa trái của Thánh Thần, nhưng Thiên Chúa không từ chối ban Thần Khí này cho những ai cầu xin với lòng tin, “Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?” (Lc 11,13).

8. Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì

Một trong những lối diễn đạt hay nhất về niềm phó thác tin yêu vào bàn tay của Thiên Chúa của toàn bộ Thánh Kinh là Thánh Vịnh 23:

CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.

Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành

và bổ sức cho tôi.
Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Người.

Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.

Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa.

Lòng nhân hậu và tình thương CHÚA
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.

Chúng ta hãy trở lại một chút với xác quyết đáng kinh ngạc của Kinh Thánh, rằng Thiên Chúa không để chúng ta thiếu thốn điều gì. Xác quyết này lột trần một sự cám dỗ, đôi khi tinh vi và rất phổ biến trong đời sống Ki-tô hữu, một cám dỗ đã khiến bao người sa ngã cũng như làm cản trở quá trình tăng trưởng của đời sống thiêng liêng.

Cách chính xác, đó là cám dỗ khiến chúng ta tin rằng, trong hoàn cảnh mà mình gặp phải (cá nhân, gia đình,…), chúng ta đang thiếu một điều thiết yếu nào đó và vì thế, không thể tiến bộ và trổ sinh hoa trái thiêng liêng.

Chẳng hạn, tôi thiếu sức khoẻ, vì thế, tôi không thể cầu nguyện bởi tôi tin rằng sức khoẻ là điều không thể thiếu để cầu nguyện. Hoặc gia đình ruột thịt không cho tôi làm những việc đạo đức như tôi hằng ao ước. Hoặc lại nữa, tôi không có đủ phẩm chất, sức mạnh và nhân đức – những ân huệ mà tôi tin là cần thiết để hoàn thành một điều thiện hảo cho Chúa, phù hợp với kế hoạch một người theo chân Đức Ki-tô. Tôi không hài lòng với cuộc sống, với con người của tôi, với hoàn cảnh của tôi và tôi không ngừng sống trong cảm giác rằng bao lâu mọi thứ vẫn như thế thì tôi không thể sống một cách trọn vẹn và hết mình. Tôi cảm thấy thiệt thòi so với những người khác và mang trong mình sự luyến tiếc khôn nguôi về một cuộc sống khác với nhiều đặc ân hơn, mà ở đó, cuối cùng, tôi mới có thể làm những điều đáng giá.

Tôi có cảm giác rằng, theo cách diễn tả của Rimbaud, “cuộc sống thực nằm ở nơi nào khác”, vâng, là nơi nào khác chứ không phải cuộc sống mà tôi có. Và rằng, cuộc sống của tôi không phải là một cuộc sống thực, nó không cho tôi những điều kiện để tăng trưởng về mặt thiêng liêng, tôi phải chịu đựng đủ thứ hoặc bị trói buộc trong những giới hạn nào đó. Tôi chăm chăm nhìn vào những tiêu cực của hoàn cảnh, vào những gì tôi đang thiếu để sống hạnh phúc. Điều này khiến tôi buồn rầu, đố kỵ, nản chí và không thể tiến bước. Cuộc sống thực ở nơi nào khác, tôi tự nhủ như vậy và đơn giản là quên đi cuộc sống hiện tại. Nhưng thông thường, sẽ chỉ cần một chút đổi để mọi thứ trở nên khác đi và để tôi tiến bộ với những bước tiến khổng lồ: một cái nhìn khác, một quan điểm mới về hoàn cảnh của tôi trong niềm tin và hy vọng dựa trên xác quyết rằng tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì. Và rồi những cánh cửa sẽ mở ra cho tôi với những tiềm năng vượt trên sự mong đợi để tăng trưởng trong đời sống thiêng liêng.

Chúng ta thường sống trong ảo tưởng với ý nghĩ rằng, mọi sự sẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu mọi thứ xung quanh chúng ta thay đổi, rằng hoàn cảnh thay đổi. Nhưng nó thường là một sai lầm. Không phải hoàn cảnh bên ngoài cần thay đổi, mà trước hết, điều cần phải thay đổi chính là tâm hồn chúng ta. Nó cần phải được thanh lọc khỏi sự thu mình, khỏi những buồn phiền và thiếu niềm hy vọng, “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8). Phúc thay ai có tâm hồn được thanh lọc bằng đức tin và đức cậy, những người đem vào đời sống của họ một cái nhìn sống động trong niềm xác tín rằng, ở phía trái ngược với vẻ bề ngoài, Thiên Chúa đang hiện diện và đáp ứng những nhu cầu cần thiết của họ và họ chẳng thiếu thốn gì. Nếu có đức tin như vậy, họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa, tức là cảm nghiệm được sự hiện diện của Người, được đồng hành và hướng dẫn nhờ sự hiện diện đó. Họ sẽ thấy có nhiều hoàn cảnh mà họ cho là tiêu cực và gây tổn hại đến đời sống thiêng liêng, thực ra, trong đường lối sư phạm của Thiến Chúa, lại là phương thế hữu hiệu giúp họ tiến bộ và trưởng thành. Thánh Gio-an Thánh Giá nói rằng: “Trong rất nhiều trường hợp thường xảy ra, chính khi linh hồn tưởng rằng mình đang mất mát, đó lại là lúc nó thu lợi rất nhiều”. Điều này quả là chính xác.

Tâm trí chúng ta đôi khi bị vẩn đục bởi những việc không mấy suôn sẻ, những việc mà nếu chiếu theo những tiêu chí cá nhân cụ thể, nó lẽ ra phải khác đi trong hoàn cảnh của chúng ta, đến nỗi chúng ta quên mất điều tích cực. Hơn nữa, chúng ta cũng không thu được chút lợi nào từ mọi khía cạnh của những hoàn cảnh như thế, thậm chí ngay cả những khía cạnh mà nếu bỏ qua lớp vỏ bề ngoài có vẻ tiêu cực, chúng giúp chúng ta tiến lại gần Thiên Chúa, lớn lên trong đức tin, đức mến và đức khiêm nhường. Điều mà chúng ta thiếu ở đây chính là xác tín rằng: “Tình yêu Thiên Chúa có thể biến mọi sự Người tìm thấy nơi tôi, điều tốt cũng như điều xấu, đều trở nên ích lợi”[2]. Mặc dù chúng ta có thể mang nhiều khuyết điểm, nhưng thay vì than thở hoặc tìm cách tống khứ chúng với bất cứ giá nào, hãy để chúng trở nên những cơ hội tuyệt vời giúp chúng ta tiến bộ – trong sự khiêm nhường cũng như tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa và lòng thương xót của Người – đó chính là con đường nên thánh.

Với nhiều người trong chúng ta, có một trở ngại căn bản ở đây, đó là chúng ta áp đặt quá nhiều tiêu chí riêng của mình để xác định xem điều gì tốt điều gì không, và rồi không đủ niềm tin vào sự Khôn Ngoan và Quyền Năng của Thiên Chúa. Chúng ta không tin Người có khả năng sử dụng mọi sự để sinh lợi ích cho chúng ta, cũng như không khi nào để chúng ta thiếu thốn những điều cần thiết, nghĩa là những điều giúp chúng ta yêu mến nhiều hơn, bởi lẽ, học cách yêu thương cũng chính là làm cho đời sống thiêng liêng phát triển và trở nên phong phú. Có nhiều hoàn cảnh mà chúng ta cho là có hại, trên thực tế, nếu chúng ta có thêm niềm tin, chúng lại chính là những cơ hội quý giá để chúng ta yêu thương nhiều hơn: kiên nhẫn hơn, khiêm tốn hơn, dịu dàng hơn, nhân từ hơn và phó mình nhiều hơn trong tay Thiên Chúa.

Vậy chúng ta hãy xác tín điều này, vì nó sẽ trở thành nguồn sức mạnh vô biên cho chúng ta: Thiên Chúa có thể cho phép tôi đôi khi phải thiếu thốn về tiền bạc, sức khỏe, khả năng hay nhân đức; nhưng Người sẽ không bao giờ bỏ rơi tôi trong sự thiếu thốn chính Người, sự trợ giúp của Người, lòng thương xót của Người hoặc bất cứ điều gì có thể cho phép tôi không ngừng tiến đến gần Người hơn, để yêu mến Người mãnh liệt hơn, để yêu thương người thân cận hơn và đạt đến sự thánh thiện.

9. Thái độ khi đối diện với đau khổ của người thân

Chúng ta thường có nguy cơ đánh mất bình an trong tâm hồn khi những người thân yêu cảm thấy đang lâm cảnh khó khăn. Đôi lúc chúng ta lo lắng và bận tâm về đau khổ của một người bạn hay của một đứa con nhiều hơn là đau khổ của chính mình. Điều này tự nó có thể là tốt, nhưng chúng không được phép trở thành dịp khiến chúng ta thất vọng. Có biết bao gia đình bị đè nặng bởi những lo âu thái quá khi một thành viên nào đó gặp thử thách về vấn đề sức khỏe, bị thất nghiệp hay rơi vào trầm cảm,… Chẳng hạn như các bậc cha mẹ thường tự dằn vặt bản thân khi có rắc rối xảy ra với một trong số những đứa con của họ.

Tuy nhiên, Thiên Chúa mời gọi chúng ta đừng đánh mất bình an nội tâm trong những hoàn cảnh như vậy, cũng như vì bất cứ lý do nào đã đề cập ở trên. Sự đau khổ của chúng ta là chính đáng, nhưng chúng ta phải giữ lấy bình an. Thiên Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta được, bởi “có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,15).

Thế nhưng có một điểm cũng quan trọng không kém mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây, trước khi trình bày rõ hơn ở phần sau, đó là: mỗi người cần biết cách phân biệt giữa khiêm nhường thật và khiêm nhường giả, giữa ăn năn thực sự trong thanh thản và vững tin với kiểu ăn năn giả dối và bị xáo trộn khiến nó trở ra vô hiệu; đây chính là cơ sở để chúng ta phân biệt giữa lòng trắc ẩn đúng và sai.

Chắc chắn càng thăng tiến trong đời sống Ki-tô hữu bao nhiêu, lòng trắc ẩn của chúng ta cũng tăng thêm bấy nhiêu. Trong khi chúng ta thường thờ ơ và lãnh cảm một cách thản nhiên trước những cảnh khốn cùng trên thế gian và đau khổ của người đồng loại, thì những điều ấy đã lấy đi nước mắt của những vị thánh mà sự gắn bó với Chúa Giê-su, theo cách diễn tả của Thánh Gio-an Vianney (the Curé of Ars), đã làm trái tim“tan chảy” trái tim họ. Thánh Tổ phụ Đa-minh đã từng thao thức nhiều đêm để cầu nguyện với Thiên Chúa trong những dòng lệ rằng: “Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, các tội nhân rồi sẽ ra sao?” Và người ta cũng có quyền nghi ngờ cách chính đáng về đời sống thiêng liêng của một người nếu ở nơi người ấy, không có chút dấu hiệu nào cho thấy lòng trắc ẩn đang ngày một tăng thêm.

Tuy nhiên, nếu như lòng trắc ẩn sâu sắc của các thánh có khả năng bén duyên cùng những đau khổ rồi giải thoát nó, với sự dịu dàng, bình an và tràn đầy tin tưởng; thì trái lại, lòng trắc ẩn của chúng ta thường bị xáo trộn trong những nỗi buồn phiền. Chúng ta gắn mình vào đau khổ của người khác theo những cách không phải lúc nào cũng đúng và đôi khi, nó xuất phát từ tình yêu chúng ta dành cho mình nhiều hơn. Chúng ta tin rằng việc bận tâm quá mức đến người đang gặp khó khăn như vậy là một điều chính đáng và là dấu hiệu của tình yêu mà ta dành cho họ. Đây là một sai lầm. Trong thái độ này thường có một tình yêu to lớn và ẩn tàng mà chúng ta dành cho chính mình. Chúng ta không thể chịu đựng sự đau khổ của người khác vì chúng ta sợ làm khổ mình mà thôi. Lý do là chúng ta cũng thiếu tin tưởng vào Chúa.

Việc xúc động sâu sắc trước sự đau khổ của những người thân yêu là một điều bình thường, nhưng nếu vì nó, chúng ta tự dằn vặt mình tới độ mất đi sự bình an, thì đó chính là bằng chứng cho thấy tình yêu mà chúng ta dành cho họ vẫn chưa trọn vẹn và chưa được đặt trong sự hài hòa với Thiên Chúa. Đó là một tình yêu vẫn còn mang tính con người và không nghi ngờ gì, vẫn theo lối tự cao tự đại mà nền tảng của nó không hoàn toàn dựa trên niềm tin vững chắc vào Thiên Chúa Toàn Năng.

Để trở thành một nhân đức Ki-tô Giáo đích thực, lòng trắc ẩn phải xuất phát từ tình yêu (tức là cốt ở việc mong ước điều tốt đẹp cho người khác trong sự soi sáng của Thiên Chúa và phù hợp với các kế hoạch của Ngài) chứ không phải từ sự sợ hãi (sợ đau khổ hay sợ mất thứ gì). Vậy nhưng trên thực tế, thái độ của chúng ta đối với những người đang đau khổ thường bị tác động bởi nỗi sợ hãi hơn là tình yêu.

Có một điều chắc chắn: Thiên Chúa yêu thương và đối xử tử tế với người thân của chúng ta vượt xa những gì chúng ta có thể. Người muốn chúng ta tin tưởng vào tình yêu của Người và biết phó thác cho Người hết những ai thân thuộc. Đó thường là cách giúp đỡ họ hiệu quả hơn.

Và đối với những anh chị em đang đau khổ, họ chắc chắn luôn cần được vây quanh bởi những người lạc quan, vui vẻ và an bình – những người có khả năng giúp đỡ họ vượt qua khó khăn hiệu quả hơn nhiều so với những người lo âu và ủ dột. Lòng trắc ẩn giả của chúng ta thường chỉ làm cho họ thêm thêm đau khổ và buồn phiền. Đối với họ, nó không phải là một nguồn bình an và hy vọng.

Tôi xin đưa ra một ví dụ cụ thể mà tôi gặp phải chỉ mới gần đây. Nó liên quan đến một phụ nữ trẻ bị trầm cảm nặng, với nỗi sợ hãi và lo lắng thường khiến cô không thể đi một mình đến thành phố. Tôi đã nói chuyện với bà mẹ, người đã chán nản, rơi nước mắt và đã xin tôi cầu nguyện để con gài bà được chữa lành. Tôi vô cùng tôn trọng nỗi đau không ai thấu hiểu của người mẹ này. Và tất nhiên, chúng tôi đã cầu nguyện cho con gái của bà. Nhưng điều khiến tôi kinh ngạc là một lúc sau, khi tôi có dịp nói chuyện với chính người phụ nữ trẻ ấy, tôi nhận ra rằng cô ấy đã chịu đựng nỗi đau của mình trong bình an. Cô ấy nói với tôi: “Tôi không có khả năng cầu nguyện, và điều duy nhất mà tôi không ngừng nói với Chúa Giê-xu là những lời trong Thánh Vịnh 23: Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.” Cô ấy cũng nói với tôi rằng cô ấy đã nhìn thấy những kết quả tích cực từ căn bệnh của mình, đặc biệt là ở ông bố, người trước đây rất khắc nghiệt với cô, nhưng giờ đã thay đổi về cách cư xử.

Tôi thường thấy những trường hợp thế này: một người đang gặp thử thách nhưng lại biết chế ngự nó tốt hơn những người xung quanh, những người chỉ biết lo âu và bối rối. Đôi khi, họ có thể không ngừng cầu nguyện để người đó được chữa lành, hoặc tìm kiếm một phác đồ điều trị đặc biệt, hoặc theo đuổi mọi loại phương tiện có thể có hay có thể tưởng tượng để bằng mọi cách, cứu người ấy khỏi nguy nan, trong khi chính họ lại không hề ý thức được rằng, bàn tay của Chúa rõ ràng là đứng sau tất cả. Tôi không nói rằng người ta không nên hỗ trợ những người đang đau khổ bằng cách kiên trì cầu nguyện và xin Chúa để họ được chữa lành, cũng như không nên làm những gì có thể về phương diện con người hay đời sống thiêng liêng để trợ giúp, bởi đó là nhiệm vụ mà chắc chắn chúng ta phải làm. Tuy nhiên, chúng ta nên làm như vậy với tinh thần bình an và phó thác mọi sự trong bàn tay Thiên Chúa.

10. Trong tất cả những ai đang đau khổ, có Chúa Giê-su

Để có thể đương đầu với bi kịch của đau khổ một cách bình an, chúng ta phải đặc biệt coi trọng mầu nhiệm Nhập Thể và mầu nhiệm Thập Giá, đó chính là động lực đóng vai trò quyết định nhất. Chúa Giê-su đã mặc lấy xác phàm của chúng ta, Ngài thực sự mang vào thân mình những đau khổ của chúng ta. Và trong tất cả những ai đang đau khổ, có Chúa Giê-su đang đau khổ. Trong Tin Mừng Mát-thêu, chương 25, ở trình thuật Phán Xét Cuối Cùng, Thiên Chúa đã phán với những người từng chăm nom kẻ yếu đau, viếng thăm kẻ tù rạc, rằng: “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé mọn của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Như thế, qua chỉ dẫn của Chúa Giê-su, chúng ta hiểu rằng: “Vào buổi hoàng hôn của cuộc đời mỗi người, chúng ta sẽ được xét xử dựa trên đức yêu thương” (thánh Gio-an Thánh Giá), cách riêng, dựa trên mức độ của tình yêu mà chúng ta dành cho anh chị em đồng loại. Đó rõ ràng là lời hối thúc để chúng ta có lòng trắc ẩn; và cũng là để chúng ta biết nhận ra Chúa Giê-su và sự hiện diện của Người trong tất cả những ai đang chịu khổ đau. Để đáp lại lời mời gọi ấy, chúng ta cần sử dụng tất cả sức lực của mình để xoa dịu nỗi đau của anh chị em và nhưng đồng thời, phải nhìn những đau khổ ấy bằng đôi mắt hy vọng, bởi nơi đó luôn có mầm non của sự sống và của sự sống lại – với sự hiện diện của Chúa Giê-su trong chính anh chị em chúng ta.

Và giả như khi đối diện với một người đang đau khổ, chúng ta có niềm tin chắc chắn rằng chính Chúa Giê-su đang đau khổ trong người ấy, chính Người đang hoàn thành trong người ấy những điều còn thiếu trong Cuộc Thương Khó của Người, để họ “mang lấy vào thân cho đủ mức” (Cl 1,24), thì làm sao chúng ta có thể tuyệt vọng? Cuộc Thương Khó của Người chẳng lẽ không đem lại ơn cứu độ sao? Vậy nên, anh em đừng “buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng” (1 Tx 4,13).

11. Lầm lỗi và thiếu sót của tha nhân

Như tôi đã nói ở trên, việc lo lắng trước mối đe dọa của sự dữ và nỗi muộn phiện khi đối diện với đau khổ của người thân là hai lý do thường khiến chúng ta đánh mất bình an. Và giải pháp cho vấn đề này, cũng như mọi vấn đề khác trong đời sống Ki-tô hữu, đã được đưa ra, đó là cần phải tin tưởng và phó thác mọi sự cho Thiên Chúa, Đấng giải thoát chúng ta khỏi mọi sự dữ, Đấng mà giả như cho phép sự dữ xảy ra, chính Người vẫn sẽ ban cho chúng ta đầy đủ sức mạnh để chịu đựng và biến nó trở nên lợi ích cho mình.

Nhưng tiếp sau đây, hãy cùng bàn đến những trường hợp cụ thể. Điều này là cần thiết bởi lẽ, mặc dù sự phó thác có thể là quy tắc duy nhất dành cho chúng ta, thì việc thực hành nó trong đời sống lại có rất nhiều hình thức tùy theo nguồn gốc của những buồn phiền mà chúng ta gặp phải.

Trong nhiều tình huống, nguyên nhân khiến chúng ta đánh mất bình an không phải do đau khổ hay một mối đe dọa nào mà lại là hành vi của một cá nhân hay một nhóm người nào đó làm chúng ta đau lòng hoặc mang mối bận tâm. Như vậy, mặc dù vẫn là vấn đề liên quan đến chúng ta, những nó không trực tiếp thuộc về chúng ta. Lấy ví dụ: lợi ích của cộng đoàn, của Giáo Hội, hoặc phần rỗi của một anh chị em cụ thể nào đó.

Một phụ nữ có thể thất vọng vì không thấy người chồng hoán cải như lòng mình mong ước. Một bề trên cộng đoàn có thể đánh mất bình an vì một anh em làm chuyện trái ý với mình. Hoặc đơn giản hơn, trong cuộc sống thường ngày, chúng ta có thể phát cáu vì một người thân cận cư xử theo cách mà chúng ta nghĩ là không nên. Rất nhiều căng thẳng, bực dọc đã nảy sinh từ những tình huống như thế!

Theo câu trả lời cũ – tin tưởng và phó thác – thì ở đây, bất chấp những gì xảy đến, chúng ta vẫn phải hành động làm sao để có thể giúp cho người khác cải thiện bản thân trong thái độ hiền hòa và nhã nhặn; đồng thời đặt mọi sự còn lại trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, Đấng biết cách làm chúng sinh hoa lợi.

Tuy nhiên, tôi muốn đưa ra một nguyên tắc chung có vai trò quan trọng trong đời sống thiêng liêng hàng ngày và có thể áp dụng trong phạm vi rộng hơn nhiều so với việc nhẫn nại khi đối diện với thiếu sót của tha nhân.

Nguyên tắc đó là: Không chỉ quan tâm mong ước những điều tốt đẹp cho người khác, chúng ta còn phải mong ước chúng theo một cách tốt đẹp. Thực tế, rất nhiều lần, chúng ta phạm tội theo cách này: chúng ta mong một điều tốt, thậm chí rất tốt, nhưng lại muốn nó theo một cách thức không tốt. Hãy lấy một ví dụ: Thông thường, vị bề trên cộng đoàn phải trông nom đời sống thiêng liêng của những người mà mình được Giáo Hội trao phó, điều này thật tốt lành và hoàn toàn phù hợp với thánh ý Thiên Chúa. Thế nhưng, nếu vị bề trên này nổi giận, tức tối hoặc đánh mất bình an vì sự bất toàn hay thiếu sốt sắng của một anh chị em; thì chắc chắn Chúa Thánh Thần không tác động trong người ấy. Chúng ta thường có khuynh hướng này, vì điều chúng ta mong muốn là điều tốt, thậm chí được xem là điều Chúa muốn; nhưng viện cớ ý muốn là tốt lành, chúng ta lại mất kiên nhẫn và phật lòng nếu nó không được thực hiện. Điều xem ra càng tốt lành, chúng ta càng nôn nao và nóng lòng thực hiện hơn.

Thế nên, như tôi đã nói, trong việc mong ước những điều tốt đẹp cho tha nhân, chúng ta không chỉ phải xác minh động cơ và mục đích của mình, mà còn phải để tâm xem cách mình mong ước liệu có đúng hay không. Hãy luôn luôn thực hiện những ước mong chính đáng của mình theo cách thấu đáo, hiền hòa, nhẫn nại, vô tư và phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa; thay vì đặt chúng trong sự nôn nóng, vội vàng, bồn chồn hay cáu kỉnh,… vốn là những thái độ thiếu sót mà chúng ta thường mắc phải trong đời sống thiêng liêng.

Tất cả các vị thánh đều nhấn mạnh rằng chúng ta phải tiết chế những ham muốn của mình với ngay cả những điều tốt đẹp nhất. Bởi lẽ, nếu chúng ta mong muốn theo cách của con người (căng thẳng, vội vàng và nản chí nếu không nhanh chóng đạt được mục tiêu), điều đó sẽ làm cho tâm hồn chúng ta cảm thấy khó chịu, bất an và do đó, phá rối những tác động mà Thiên Chúa muốn thực hiện nơi chúng ta và nơi những người khác.

Điều này áp dụng cho tất cả mọi thứ, ngay cả đối với sự thánh hóa của chúng ta. Thử hỏi đã bao lần chúng ta đánh mất sự bình an vì quá trình thánh hóa của mình không tiến triển đủ nhanh như mong đợi, rằng chúng ta vẫn còn mắc quá nhiều thiết sót và lỗi lầm? Nhưng thật trớ trêu, điều này không có bất cứ tác dụng gì ngoài việc làm cho mọi thứ bị trì hoãn! Thánh Phan-xi-cô Sa-lê đã đi xa hơn chúng ta khi nói rằng “không có gì cản trở sự phát triển của một nhân đức nhiều bằng việc muốn đạt được nó một cách quá vội vàng!” Nhưng chúng ta sẽ trở lại vấn đề này trong một chương sau.

Để kết luận, chúng ta hãy ghi nhớ điều này: Đối với những khao khát và ước muốn, nếu chỉ coi ước muốn là tốt thì chưa đủ; chúng ta còn phải ở trong bình an. Đây là dấu hiệu cho thấy chúng ta đang sống theo chân lý và khát khao của chúng ta đang phù hợp với ước muốn của Chúa Thánh Thần. Một ước muốn tự nó dù tuyệt vời đến đâu lại là nguyên nhân khiến chúng ta mất bình an thì không đến từ Thiên Chúa. Chúng ta cần phải ước muốn và khao khát, nhưng theo một cách thức dứt bỏ và phó thác cho Thiên Chúa, Người làm như Người muốn, Người làm khi Người thích. Để tiến tới trong đời sống thiêng liêng, tâm hồn chúng ta làm sao phải học cho biết những cảm nhận này. Chính Thiên Chúa, Đấng hoán cải chúng ta và làm cho chúng ta lớn lên chứ không phải sự bồn chồn, bốc đồng và thiếu kiên nhẫn.

12. Kiên nhẫn với những người khác

Vậy chúng ta hãy áp dụng đức kiên nhẫn cho ước muốn rằng, mọi người chung quanh sẽ cư xử tốt hơn: ước muốn này phải thật lặng lẽ, chẳng gây phiền hà. Hãy biết làm sao để giữ bình tĩnh cả khi những người chung quanh cư xử xem ra không đúng và không phải với chúng ta. Rõ ràng chúng ta phải làm những gì có thể trong khả năng để giúp họ, ngay cả việc nhìn thấy họ bị khiển trách hoặc được sửa sai theo những trách nhiệm mà chúng ta phải đảm nhận đối với họ; nhưng tất cả những điều này phải được làm trong dịu dàng và ôn hoà. Khi chúng ta cảm thấy bất lực, hãy ở yên và để Thiên Chúa hành động.

Biết bao nhiêu người đánh mất bình an vì họ muốn thay đổi những người chung quanh bất cứ giá nào! Biết bao nhiêu người có gia đình trở nên dễ kích động, tức tối vì họ muốn người bạn đời của mình phải thay đổi chứng này tật nọ! Trái lại, Thiên Chúa đòi buộc chúng ta kiên nhẫn chịu đựng lỗi lầm của những người khác.

Chúng ta thử luận xem, nếu Thiên Chúa vẫn không biến đổi người này, không cất khỏi họ một sự bất toàn nào đó, chính bởi vì Người chấp nhận họ như chính họ! Người kiên nhẫn đợi chờ lúc thuận tiện. Vậy thì tôi cũng phải làm thế. Tôi phải cầu nguyện và kiên nhẫn đợi chờ. Sao tôi lại đòi hỏi và mất kiên nhẫn hơn Thiên Chúa? Đôi khi tôi nghĩ rằng, sự vội vã của tôi được thúc đẩy bởi tình yêu; nhưng Thiên Chúa lại yêu họ hơn tôi vô cùng, dẫu thế, Người đâu vội vàng! “Thưa anh em, xin anh em cứ kiên nhẫn cho tới ngày Chúa quang lâm. Kìa xem nhà nông, họ kiên nhẫn chờ đợi cho đất trổ sinh hoa màu quý giá: họ phải đợi cả mưa đầu mùa lẫn mưa cuối mùa” (Gc 5,7).

Lòng kiên nhẫn này còn quan trọng hơn nữa vì nó mang lại cho chúng ta một sự thanh tẩy tuyệt đối cần thiết. Chúng ta tin rằng, chúng ta những mong điều lành cho tha nhân hay điều lành cho chính mình, nhưng ước mong này thường đan xen việc tìm kiếm bản thân, tìm kiếm ý riêng, tìm kiếm sự quyến luyến vào những niềm tin cá nhân hẹp hòi và giới hạn mà chúng ta quá đeo bám đến nỗi những ước mong áp đặt nó lên người khác và đôi khi áp đặt cho cả Thiên Chúa. Bằng mọi giá, chúng ta phải thoát khỏi sự hẹp hòi của tâm hồn và cách nhìn thiển cận này, để rồi chính điều lành được thực hiện, không phải như những gì chúng ta tưởng tượng hay nhận thức, nhưng là điều lành phù hợp với dự định của Thiên Chúa vốn lớn lao và hấp dẫn hơn bao lần.

13. Kiên nhẫn với những lầm lỗi và bất toàn của chính mình

Một người đã đi được một chặng đường nào đó trong đời sống thiêng liêng, một khi họ đã thật sự ước ao yêu mến Thiên Chúa hết lòng hoặc đã học biết tin tưởng phó thác vào Người giữa những khó khăn,… vẫn không loại trừ cho họ những hoàn cảnh, trong đó, họ vẫn thường xuyên gặp phải nguy cơ đánh mất bình an và sự thanh thản của linh hồn, để rồi từ đó, ma quỷ thường xuyên khai thác nhằm quấy rối và làm họ ngã lòng.

Ấy là lúc họ lui về với những ám ảnh khổ đau, những cảm nghiệm chua xót về những lỗi lầm hay những thất bại mà họ tiếp tục trải nghiệm trong lãnh vực này lãnh vực kia dẫu họ vẫn rất muốn sửa đổi chính mình.

Điều quan trọng ở đây là phải nhận thức rằng, buồn phiền chán nản và đau khổ của linh hồn mà chúng ta cảm nhận sau khi mắc phải một lầm lỗi nào đó chẳng làm nên tích sự gì; ngược lại, chúng ta phải làm tất cả những gì có thể để ở lại trong bình an.

Trong kinh nghiệm thường ngày về những khổ đau và lầm lỗi của chính mình, điều sắp nói đây phải là nguyên tắc căn bản hướng dẫn chúng ta. Vấn đề không phải ở chỗ nỗ lực siêu phàm để loại trừ triệt để những bất toàn và những tội lỗi của chúng ta (vì với bất cứ trường hợp nào, nó vẫn luôn là một cái gì ngoài tầm tay) nhưng vấn đề là chúng ta phải biết tránh u buồn cũng như ngã lòng và bằng cách nào nhanh nhất có thể hầu lấy lại bình an một khi đã phạm tội hoặc phải bất an bởi những cảm nghiệm bất toàn đó.

Đây không phải là thái độ lơ đễnh hoặc cam chịu sự tầm thường của mình, trái lại, đây là phương thế trong đó chúng ta thánh hoá chính mình nhanh chóng hơn. Về điều này, chúng ta có một số lý do.

Lý do thứ nhất: nguyên tắc căn bản chúng ta đã nói đến nhiều lần, đó là: Thiên Chúa hành động trong sự bình an của linh hồn. Không phải bởi những nỗ lực bản thân mà chúng ta có thể thành công trong việc giải thoát chính mình khỏi tội lỗi, nhưng chỉ ân sủng của Thiên Chúa mới làm được điều đó. Vậy, thay vì băn khoăn lo lắng, đúng hơn và sẽ hiệu quả hơn, hãy lấy lại bình an cho mình và để Thiên Chúa hành động.

Lý do thứ hai: điều này sẽ làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn. Cái gì sẽ làm vui lòng Thiên Chúa hơn? Sau khi sa ngã, hoặc là chúng ta chán nản và tự dằn vặt hoặc là phản ứng bằng cách thưa lên với Chúa, “Lạy Chúa, xin tha thứ cho con, con lại phạm tội. Than ôi, con chỉ giỏi làm thế! Nhưng con tín thác vào lòng thương xót và tha thứ của Chúa, con cám ơn Chúa đã không để con phạm những tội thậm chí có thể nghiêm trọng hơn. Con tín thác vào Chúa bởi con biết rằng, một ngày kia, Chúa sẽ chữa lành con hoàn toàn và lúc ấy, con xin Chúa, qua những kinh nghiệm khốn khổ này, cho con trở nên khiêm nhường hơn, cảm thông hơn với người khác và nhận thức hơn rằng, con chẳng thể tự mình làm được điều gì, ngoài việc chỉ cậy dựa vào tình yêu và lòng thương xót của Chúa”. Câu trả lời thật rõ ràng.

Lý do thứ ba: những bối rối, buồn phiền và nản chí chúng ta cảm thấy trước những sa ngã lỗi lầm rất hiếm khi thuần khiết, chúng thường không luôn luôn là nỗi đau thuần tuý vì đã xúc phạm Thiên Chúa, nhưng ở đây, một phần thiện chí hoà trộn với lòng kiêu hãnh. Chúng ta không quá buồn phiền, nản chí vì đã xúc phạm đến Chúa, nhưng vì hình ảnh lý tưởng chúng ta có về mình bị lung lay một cách tàn bạo. Nỗi đau của chúng ta thường là nỗi đau về lòng kiêu hãnh bị tổn thương! Nỗi đau thái quá này thực ra là dấu cho thấy chúng ta đã quá tin vào chính bản thân mình, tin vào sức riêng của mình chứ không phải vào Thiên Chúa. Hãy lắng nghe lời của Dom Lorenzo Scupoli: Người tự phụ tin chắc họ đã đạt thấu sự bất tín đối với bản thân và đã tin cậy vào Chúa (nền tảng của đời sống thiêng liêng, và do đó, phải cố đạt cho được); nhưng đây lại là sai lầm chúng ta không bao giờ nhận ra mãi cho tới khi sa ngã. Bởi lẽ, sau khi sa ngã, người ta cảm thấy buồn phiền, đau đớn vì nó, hoặc nếu nó làm cho họ mất hết hy vọng trên đường tiến đức, thì đó là dấu cho thấy người ấy quá cậy mình chứ không đặt niềm tin vào Chúa. Càng thất vọng và buồn phiền, họ càng phải xét đến lầm lỗi của mình.

Vì đối với những ai tuyệt đối không cậy sức mình mà chỉ tin tưởng mạnh mẽ vào Chúa, khi lầm lỗi, họ sẽ hầu như không ngạc nhiên, lo lắng hay thất vọng bởi biết rõ đây là kết quả của sự yếu đuối của mình cũng như lòng tin ít ỏi mà họ đã đặt nơi Thiên Chúa. Sa ngã của họ, trái lại, thậm chí còn dạy họ đừng cậy vào sức mình nữa để tín thác nhiều hơn vào sự trợ giúp của Thiên Chúa, Đấng quyền năng duy nhất: họ chê ghét tội lỗi của mình trên hết mọi sự; họ lên án mọi đam mê và những thói quen xấu là nguyên nhân khiến họ phạm tội; họ nhận thức một nỗi đau sâu sắc vì đã xúc phạm đến Thiên Chúa, nhưng nỗi đau của họ luôn luôn bị khuất phục và không thể ngăn họ quay lại với những công việc quan trọng của mình để mang lấy những thử thách quen thuộc và để chiến đấu cho đến chết với kẻ thù tàn ác,…

Lại nữa, một ảo giác rất thường gặp là sau khi phạm tội, sợ hãi và bối rối được cho là một cái gì thuộc về nhân đức: bởi lẽ, dù cho cảm giác áy náy theo sau tội lỗi luôn luôn kéo theo một sự đau đớn nào đó thì điều đó vẫn không phải là nhân đức vì nguyên nhân chính của nó là do việc quá cậy vào sức mình phát xuất từ một sự kiêu ngạo hay một tự cao tự đại thầm kín nào đó. Thế nên, ai khẳng định mình đạo đức, sẽ coi thường cám dỗ và hiểu rằng, họ yếu đuối và trở thành một tội nhân như bao người khác chẳng qua đó chỉ là một kinh nghiệm buồn đau của thất bại, và họ ngạc nhiên như thể thất bại đó là một điều gì lẽ ra đã không xảy ra; rồi khi bị tước mất nơi nương tựa yếu ớt là chính bản thân họ từng cậy dựa, họ gục xuống trong buồn phiền thất vọng.

Bất hạnh này không bao giờ xảy ra cho những ai khiêm tốn, những ai không tin vào bản thân và những ai chỉ biết cậy dựa vào Thiên Chúa: Khi sa ngã, họ không ngạc nhiên cũng không thất vọng, vì ánh sáng chân lý chiếu soi cho họ thấy đó là kết quả tự nhiên của sự yếu đuối và sự bất nhất của mình[3].

14. Thiên Chúa có thể rút ra điều lành ngay trong những lầm lỡ của chúng ta

Lý do thứ tư về việc tại sao buồn phiền và nản chí là điều không tốt và chúng ta không nên nhìn lỗi lầm của mình một cách quá bi đát: vì Thiên Chúa có thể rút ra điều lành từ những lầm lỗi đó. Thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su rất yêu thích câu nói của thánh Gio-an Thánh Giá, “Tình Yêu có thể sinh lợi từ mọi sự, điều lành cũng như điều dữ mà Tình Yêu tìm thấy trong tôi, và rồi, biến chúng thành Tình Yêu”.

Niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa chí ít cũng phải đạt đến mức đó: là tin rằng Thiên Chúa đủ tốt lành, đủ quyền năng để rút ra điều lành từ mọi sự, kể cả những lỗi lầm và bất trung của chúng ta.

Khi trích dẫn lời của thánh Phao-lô, “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người”, thánh Augustinô đã thêm Etiam peccata – “cả những tội lỗi!”.

Dĩ nhiên, chúng ta phải chiến đấu mạnh mẽ để chống lại tội lỗi và sửa chữa những bất toàn của mình. Thiên Chúa mửa ra những kẻ ỡm ờ, và không gì khiến tình yêu nguội lạnh cho bằng cam chịu sự tầm thường (sự cam chịu này xảy ra do bởi thiếu niềm tin vào Thiên Chúa và khả năng thánh hoá của Người). Khi chúng ta gây nên một điều dữ nào đó, chúng ta phải tìm cách điều chỉnh hết sức có thể, nhưng không được buồn phiền quá đỗi vì lỗi lầm đó, bởi một khi đã quay về với Thiên Chúa bằng một tâm hồn tan nát, hãy tin rằng, Người có thể làm cho điều lành nảy sinh và còn có thể làm cho chúng ta được lớn lên trong sự khiêm tốn; đồng thời dạy chúng ta bớt cậy mình để chỉ biết cậy trông vào một mình Người mà thôi.

Cao cả thay lòng thương xót của Thiên Chúa khi Người dùng chính lỗi lầm của chúng ta để sinh ích cho chúng ta! Ruysbroek, một nhà thần nghiệm Flemings thời Trung Cổ đã nói, “Với lòng khoan dung, Thiên Chúa muốn làm cho tội lỗi chống lại chính nó và mưu ích cho chúng ta; Người đã tìm được một phương cách khiến chúng trở nên hữu ích, biến đổi chúng thành khí cụ cứu rỗi. Không đời nào điều này có thể giảm bớt nỗi sợ phạm tội hoặc nỗi đớn đau vì đã phạm tội, nhưng đúng hơn, tội đã trở nên nguồn mạch khiêm nhường cho chúng ta”.

Chúng ta cũng hãy bổ sung thêm rằng, tội lỗi còn có thể trở nên nguồn mạch dịu dàng và thương xót của chúng ta đối với tha nhân. Tôi, một con người dễ sa ngã, làm sao tôi có thể được phép xét đoán người anh em tôi? Làm sao tôi có thể không thương xót họ như Thiên Chúa đã xót thương tôi?

Vì vậy, sau khi phạm một lỗi lầm dưới bất cứ hình thức nào, thì thay vì khép mình bất định trong chán nản và hoài niệm ký ức, chúng ta phải ngay lập tức quay về với Thiên Chúa với lòng tin tưởng, và thậm chí tạ ơn Người về điều lành mà lòng thương xót của Người có thể rút ra từ lỗi lầm này!

Chúng ta phải biết rằng, một trong những vũ khí thiết thực ma quỷ sử dụng nhiều nhất để ngăn trở các linh hồn tiến gần Thiên Chúa là nó tìm cách khiến họ mất bình an và làm họ nản chí bằng việc khiến họ nhai lại lỗi lầm của mình.

Chúng ta cần biết phân biệt giữa thống hối thật, ước ao sửa lỗi thật vốn luôn nhẹ nhàng, thanh thản và tin tưởng với thống hối giả, với niềm hối hận chỉ dẫn đến buồn phiền, nản chí và tê liệt. Không phải tất cả những khiển trách đến với lương tâm chúng ta đều được khơi gợi bởi Chúa Thánh Thần! Một số đến từ lòng kiêu hãnh của chúng ta hoặc đến từ ma quỷ và chúng ta phải học biết cách thức để biện phân chúng. Bình an là một tiêu chí cốt yếu để biện phân thần khí. Những cảm thức đến từ Thần Khí của Thiên Chúa có thể rất mạnh mẽ và sâu sắc, dẫu thế, chúng luôn luôn bình an. Một lần nữa, chúng ta hãy nghe lại lời của Dom Lorenzo Scupoli: Để giữ cho tâm hồn được tĩnh lặng hoàn toàn, chúng ta vẫn cần lờ đi một số cảm thức hối hận bên trong vốn có vẻ như đến từ Thiên Chúa, bởi chúng là những lời khiển trách của lương tâm trước những lỗi phạm thực sự, nhưng thực ra, chúng đến từ ma quỷ và điều này có thể được thẩm định bởi những gì xảy ra sau đó. Nếu những cắn rứt lương tâm đó giúp chúng ta khiêm nhường hơn, nếu chúng giúp chúng ta nhiệt thành hơn để làm điều lành, nếu chúng không làm giảm bớt niềm tin của chúng ta vào lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta phải đón nhận chúng như những ân huệ từ trời với lòng biết ơn. Nhưng nếu chúng gây xáo trộn, nếu chúng gây ngã lòng, nếu chúng khiến chúng ta uể oải, rụt rè, chậm chạp trong việc thi hành bổn phận, hãy tin rằng, đây là những gợi ý của kẻ thù và hãy làm mọi việc cách bình thường, đừng thèm nghe chúng[4].

Chúng ta hãy nhận thức điều này: Đối với người thiện tâm, điều nghiêm trọng của tội không nằm trong chính tội đó cho bằng nỗi chán chường thất vọng, trong đó, tội để họ rơi vào. Ai té ngã nhưng lập tức chỗi dậy, sẽ không mất mát nhiều; người ấy còn được thêm đức khiêm nhường và cảm nghiệm về lòng xót thương. Ai cứ mải buồn phiền, cảm thấy thất bại, sẽ mất mát nhiều hơn. Dấu hiệu tiến bộ thiêng liêng của một người không phải là không bao giờ sa ngã cho bằng họ có khả năng chỗi dậy nhanh chóng sau mỗi lần ngã sa.

15. Làm gì khi chúng ta lỡ phạm tội?

Ngoài tất cả những gì vừa nói đến, còn có một nguyên tắc xử thế rất quan trọng khác mà chúng ta cần phải ghi nhớ mỗi khi lỡ phạm một lỗi lầm nào đó. Hẳn chúng ta phải cảm thấy hối tiếc vì đã phạm tội, chúng ta xin Chúa thứ tha, khiêm tốn xin Người ban ơn để đừng phạm tội nữa và kiên quyết đi xưng tội ngay khi có thể. Không để mình buồn phiền hay nản chí, chúng ta phải phục hồi bình an nhanh chừng nào có thể nhờ ơn Chúa và lại tiếp tục đời sống thiêng liêng bình thường như thể không có chuyện gì xảy ra. Lấy lại bình an nhanh bao nhiêu, càng tốt cho chúng ta bấy nhiêu! Bằng cách này, chúng ta làm cho đời sống thiêng liêng của mình tiến triển nhanh hơn so với việc cáu kỉnh với chính mình!

Sau đây là một ví dụ rất quan trọng và cũng rất cụ thể. Khi chúng ta phạm một lỗi lầm nào đó bởi tấn công của một thử thách chụp xuống, chúng ta thường bị cám dỗ trở nên chểnh mảng trong đời sống cầu nguyện, chẳng hạn không dành thời gian thường lệ để suy niệm trong thing lặng. Rồi chúng ta tìm cách bào chữa cho sự chểnh mảng này, “Làm sao tôi, người vừa mới sa ngã, vừa mới xúc phạm đến Chúa lại có thể hiện diện trước mặt Người trong tình trạng này?”. Và đôi khi chúng ta cần đến vài ngày trước khi có thể lấy lại thói quen cầu nguyện thường lệ. Nhưng đây là một sai lầm nghiêm trọng và không gì khác hơn là một khiêm nhường giả tạo do ma quỷ xúi quẩy. Trước hết, chúng ta không được thay đổi thói quen cầu nguyện. Ngược lại mới phải. Tìm đâu ra phương thuốc chữa lành các lỗi lầm nếu không phải là đến gần Chúa Giê-su? Tội lỗi của chúng ta là một cái cớ thô thiển cho việc xa lánh Ngài, bởi vì, càng phạm tội, chúng ta càng hoàn toàn có quyền để đến gần Ngài hơn như lời Ngài đã nói, “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần... Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,12-13).

Nếu phải đợi cho đến lúc làm thánh để có một đời sống cầu nguyện đều đặn, có lẽ chúng ta phải chờ rất lâu. Trái lại, chính việc chấp nhận trình diện trước Thiên Chúa trong tình trạng tội lỗi của mình mà chúng ta nhận được ơn chữa lành và biến đổi dần dần để nên thánh.

Một sự lầm tưởng rất nghiêm trọng cần được phơi bày là: chúng ta chỉ muốn trình diện trước mặt Chúa khi đã chải chuốt chỉnh tề, đẹp đẽ và cảm thấy hài lòng với chính mình! Nhưng thái độ đó hàm chứa biết bao tự phụ! Thực ra, chúng ta muốn phớt lờ nhu cầu được thương xót. Nhưng đâu là thực chất của loại thánh thiện giả hiệu mà từ đó, chúng ta đôi khi mong ước nó một cách vô ý thức và rồi nghĩ rằng mình không cần Thiên Chúa? Sự thánh thiện đích thực thì trái lại, nó khiến chúng ta mỗi lúc một nhận ra rằng, chúng ta phải tuyệt đối tuỳ thuộc vào lòng xót thương của Người biết bao!

Để kết luận, chúng ta hãy nhẩm lại đoạn cuối trong Cuộc Chiến Thiêng Liêng (The Spiritual Combat) vốn gợi lại những điều chúng ta vừa nói, đồng thời chỉ ra con đường chúng ta phải chọn cho mình mỗi khi sa ngã với tựa đề “Những gì phải làm một khi bị thương trong cuộc chiến thiêng liêng!”.

Khi con bị thương, tức là khi con cảm thấy mình đã phạm một tội nào đó, hoặc đơn thuần do yếu đuối, hoặc do cố ý và ác tâm; đừng quá đau buồn về điều đó. Đừng để bản thân trở nên khó chịu, chán nản, nhưng hãy lập tức chạy đến cùng Chúa với lòng tin tưởng khiêm tốn mà thưa lên với Người rằng: “Ôi, lạy Chúa, chính lúc này đây, con có thể thấy mình là gì, một tạo vật yếu đuối và mù loà như con đâu có gì ngoài những sai lỗi và sa sẩy?”. Hãy dừng lại ở đó, hình dung nỗi đau và xót xa vì tội con đã phạm.

Sau đó, đừng lo lắng gì hết, hãy hướng tất cả sự giận dữ của con vào những đam mê đang chế ngự con, cốt để chống lại những gì là nguyên nhân khiến con mắc tội.

Rồi con hãy thưa, lạy Chúa, con hẳn đã phạm tội tày đình hơn nếu Chúa không lấy lòng nhân hậu vô biên mà cứu lấy con.

Sau đó, con hãy ngàn lần tạ ơn Người, một người Cha giàu lòng xót thương; hãy yêu mến Người hơn nữa, vì Người đã không phẫn nộ trước sự xúc phạm mà con gây ra nhưng vẫn giang tay đỡ lấy con vì Người sợ rằng, con sẽ lại sa vào một vũng lầy tương tự.

Cuối cùng, với hết lòng tin tưởng hãy thưa với Người, “Lạy Chúa, xin tỏ cho con biết Chúa là ai; xin giúp tội nhân thương tích này cảm nhận được lòng thương xót của Chúa; xin thứ tha mọi tội con đã phạm; xin đừng để con lìa xa Chúa dù chỉ một chút; xin làm cho con nên vững mạnh bằng ân sủng của Ngài, nhờ đó con sẽ không bao giờ xúc phạm đến Chúa nữa”.

Sau đó, con đừng tìm cách xác định liệu xem Chúa đã tha thứ cho mình hay chưa, vì như thế, chỉ thêm lo lắng một cách vô ích và mất thời gian. Ý nghĩ đó phát xuất từ lòng kiêu ngạo và là ảo ảnh do ma quỷ bày ra nhằm tìm cách hãm hại và dằn vặt con bằng cách khiến con băn khoăn lo lắng.

Tốt hơn, con hãy phó mình cho lòng thương xót của Người và tiếp tục thực hành sự tĩnh lặng thường lệ như thể con chẳng hề phạm tội gì. Cả khi con xúc phạm đến Chúa nhiều lần trong một ngày, cũng đừng bao giờ đánh mất niềm tin vào Người. Hãy cứ áp dụng những điều đã nói cho con, lần thứ hai, lần thứ ba và lần sau cùng cũng như lần đầu,… phạm tội.

Đây là chiến lược chống lại ma quỷ mà nó sợ nhất bởi nó biết điều này rất đẹp lòng Thiên Chúa và nó sẽ vô cùng bối rối khi thấy mình bị đánh bại bởi chính kẻ mà nó đã dễ dàng chế ngự trong những lần chạm trán trước đây.

Như vậy, nếu chẳng may con phạm tội và tội đó khiến con lo âu nản chí, thì điều đầu tiên con phải làm là tìm cách lấy lại bình an của tâm hồn và khôi phục lại niềm tin của con vào Thiên Chúa,…

Để kết thúc điểm này, chúng ta hãy bổ sung một lưu ý: làm điều sai trái thì thật nguy hiểm, và chúng ta phải làm mọi sự có thể để tránh làm điều sai trái. Nhưng cũng hãy nhận ra rằng, theo như cách chúng ta được tạo thành, thì cũng nguy hiểm cho chúng ta khi chỉ làm điều lành!

Thật vậy, mang vết tích của tội nguyên tổ, khuynh hướng kiêu ngạo đã cắm rễ sâu trong chúng ta và gây trở ngại cho chúng ta, thậm chí nó khiến chúng ta không thể thực thi điều lành mà lại không giữ lại một chút gì cho riêng mình, hay không chút nghĩ ngợi rằng, điều lành đó là do khả năng, công nghiệp hoặc sự thánh thiện của mình! Giả như Thiên Chúa không cho phép chúng ta hết lần này đến lần khác làm điều sai trái và mắc phải một số bất toàn, thì hẳn sẽ nguy to! Khi đó chúng ta sẽ nhanh chóng trở nên kiêu ngạo và khinh khi người khác. Chúng ta sẽ quên rằng, mọi sự chúng ta có là do Thiên Chúa ban cho cách nhưng không.

Không gì cản trở tình yêu đích thực cho bằng sự kiêu ngạo này. Vì vậy, để bảo vệ chúng ta khỏi sự dữ ghê gớm này, đôi khi Thiên Chúa cho phép một điều dữ ít nghiêm trọng hơn hàm chứa việc mắc phải một lỗi lầm nào đó và chúng ta phải tạ ơn Người về điều này, bởi nếu không có mạng lưới an toàn này, chúng ta có nguy cơ lạc đường.

16. Lo lắng khi phải quyết định

Lý do cuối cùng chúng ta sẽ xem xét cũng là lý do thường xuyên khiến chúng ta mất bình an là sự thiếu xác tín, một cảm giác băn khoăn lo lắng của lương tâm đang khi chúng ta cần phải quyết định một điều gì đó nhưng lại không có khả năng nhận thức rõ ràng. Chúng ta sợ mắc phải một sai lầm vốn có thể gây nên những hậu quả khó chịu, chúng ta sợ rằng, đó có thể không phải là ý Chúa.

Những tình huống thuộc loại này có thể rất đau xót cũng như một vài trường hợp tiến thoái lưỡng nan nào đó thực sự gây tuyệt vọng. Cách chung, thái độ tin tưởng phó thác chúng ta đã nói đến là đặt mọi sự vào tay Thiên Chúa, Đấng có thể giúp chúng ta tránh được mọi điều “bi thảm” (cả những hậu quả do tội lỗi chúng ta gây nên) sẽ là thái độ quý báu một cách đặc biệt trong những tình huống thiếu xác tín này.

Tuy nhiên chúng tôi muốn đưa ra một vài lời khuyên hữu ích trong việc giữ gìn bình an nội tâm mỗi khi phải quyết định.

Điều đầu tiên chúng ta muốn nói (điều này hoàn toàn phù hợp với những gì đã được nói đến về vấn đề này) là khi đứng trước một quyết định quan trọng, một trong những sai lầm phải tránh là quá vội vàng hoặc khinh suất. Một sự thong thả nào đó thường rất cần thiết để cân nhắc thận trọng đúng đắn sự việc, nhờ đó, tâm hồn có thể thanh thản nhẹ nhàng tự mình hướng đến một giải pháp tốt nhất. Thánh Vinh Sơn Phao-lô đưa ra những quyết định mà ngài được đề nghị đảm nhiệm sau khi đã suy nghĩ chín muồi (và trên hết là cầu nguyện!), đến nỗi một vài người gần ngài nhận thấy ngài rất chậm khi quyết định. Nhưng xem quả thì biết cây!

Trước khi đưa ra một quyết định, cần làm những gì thích hợp để thấy hoàn cảnh một cách rõ ràng chứ không quyết định vội vàng hoặc tuỳ tiện. Chúng ta cần phân tích hoàn cảnh theo những khía cạnh khác nhau của nó và xét coi những động cơ của mình để quyết định với một tâm hồn thanh khiết, chứ không vì một nỗ lực nhằm mưu cầu lợi ích cá nhân. Chúng ta cần cầu xin ánh sáng của Chúa Thánh Thần và ân sủng để thực hành sao cho phù hợp với thánh ý Thiên Chúa, và nếu cần, hãy tìm lời khuyên nơi những người có thể khai sáng cho chúng ta trong quyết định này.

Về điều này, chúng ta nên biết, mọi người đều phải đương đầu nhất là trong đời sống thiêng liêng, một vài hoàn cảnh, ở đó họ không có đủ ánh sáng, không có khả năng đưa ra một sự biện phân cần thiết cách thanh thản hay một quyết định nếu không nại đến một vị linh hướng. Thiên Chúa không muốn chúng ta tự coi mình là đủ, vì thế trong khoa sư phạm của Người, một đôi khi Người để chúng ta thấy sự bất lực trong việc tự mình tìm kiếm ánh sáng và bình an để rồi không thể nhận được chúng nếu không mở lòng mình ra với một người trung gian. Trong khi khai mở tâm hồn về những điều chúng ta phân vân hoặc những vấn đề nan giải chúng ta cố giải quyết, thì ở đó, phát sinh một thiên hướng khiêm hạ và phó thác vốn sẽ rất đẹp lòng Thiên Chúa, đồng thời vô hiệu hóa những cạm bẫy kẻ thù giăng ra để lừa gạt hoặc quấy nhiễu chúng ta. Đối với bình an nội tâm này, một sự bình an vốn rất quý giá mà chúng ta đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần, chúng ta cần biết, có những thời điểm nhất định trong cuộc sống, chúng ta không thể tự mình tìm được bình an đó nếu không có sự giúp đỡ của một ai đó, người mà chúng ta có thể mở lòng mình ra. Thánh An-phong-sô Li-gô-ri, một vị linh hướng vô song của các linh hồn; thế nhưng, đối với đời sống thiêng liêng của chính mình, ngài thường không có khả năng định hướng nếu không có sự trợ giúp của một người khác, người mà thánh nhân cởi mở chính mình cũng như vâng phục.

Như đã nói, thật quan trọng để biết thêm một điều là: dù người ta sử dụng phương pháp nào đi nữa (cầu nguyện, suy tư, khuyên bảo) để được khai sáng trước khi đưa ra một quyết định và để chắc chắn quyết định đó phù hợp với ý Chúa (thực hiện những phương pháp này là một trách nhiệm bởi lẽ chúng ta không có quyền quyết định một cách nông nổi, nhất là trong những lãnh vực quan trọng), thì không phải lúc nào người ta cũng có thể nhận được ánh sáng này một cách rõ ràng hoặc không chút mơ hồ. Đối diện với một hoàn cảnh đặc thù, chúng ta tự hỏi (và phải luôn luôn làm điều này): “Tôi phải làm gì? Đâu là ý Chúa?” và không phải lúc nào chúng ta cũng có được câu trả lời!

Khi chúng ta nỗ lực để biện phân và tìm kiếm ý Chúa, thì thông thường, Người nói với chúng ta bằng nhiều cách khác nhau và cho chúng ta hiểu cách rõ ràng chúng ta phải hành động thế nào. Từ đó, chúng ta có thể đưa ra quyết định của mình trong bình an.

Nhưng, cũng có thể Thiên Chúa không trả lời và đó là chuyện bình thường. Đôi khi, Người hoàn toàn để chúng ta tự do và có lúc, vì lý do riêng, Người không tỏ mình. Thật là tốt để biết điều này vì thường khi người ta vì sợ phạm sai lầm, sợ không làm theo ý Chúa nên họ cố tìm cho được câu trả lời bằng mọi giá. Họ suy nghĩ và cầu nguyện nhiều hơn, họ mở Thánh Kinh những mười lần chỉ để tìm một đoạn lời Chúa hòng có được một sự soi sáng như mong muốn. Và tất cả những điều này chỉ gây thêm phiền muộn, lo lắng hơn bất cứ điều gì khác. Chúng ta không nhìn thấy sự việc rõ ràng hơn nhờ những điều đó; có được một bản văn, nhưng chúng ta không biết cách nào để giải thích nó.

Vậy khi Thiên Chúa bỏ mặc chúng ta trong sự lưỡng lự này, hãy yên lòng chấp nhận. Thay vì muốn “cưỡng ép sự việc” và dằn vặt chính mình cách vô ích vì không có được một câu trả lời rõ ràng, chúng ta phải nghe theo nguyên tắc mà thánh nữ Faustina đưa ra:

Khi không biết điều gì là tốt nhất, người ta phải nghiền ngẫm, cân nhắc và bàn bạc với người khác, bởi người ta không được hành động khi lương tâm còn nghi ngại. Đang khi còn bán tín bán nghi, mỗi người phải tự nhủ: bất cứ điều gì tôi làm, nó sẽ là tốt, miễn là tôi có ý chỉ làm điều tốt. Điều chúng ta cho là tốt thì Thiên Chúa chấp nhận và Người coi là tốt. Đừng nản lòng nếu sau một thời gian nào đó, con nhận ra những điều này là không tốt. Thiên Chúa nhìn đến ý chỉ ban đầu của chúng ta và Người ban thưởng theo ý chỉ này. Đó là một nguyên tắc chúng ta phải theo[5].

Chúng ta thường tự dằn vặt quá mức về những quyết định của mình. Cũng như có khiêm nhường giả, thương xót giả, thì cũng thế đối với những quyết định của mình, đôi khi có một điều mà người ta có thể gọi là “vâng lời giả” đối với Thiên Chúa. Chúng ta muốn lúc nào cũng phải chắc chắn làm theo ý Chúa trong mọi chọn lựa và không bao giờ mắc phải sai lầm. Thế nhưng, chính trong thái độ này, lại có một điều gì đó không đúng vì nhiều lý do khác nhau.

Thứ nhất, mong ước biết điều Thiên Chúa muốn đôi khi che giấu một khó khăn nào đó trong việc chịu đựng một hoàn cảnh bán tín bán nghi. Chúng ta muốn được giải thoát khỏi việc phải tự mình quyết định. Nhưng thông thường, ý của Thiên Chúa là chính chúng ta phải quyết định cho mình, ngay cả khi chúng ta không tuyệt đối chắc chắn quyết định này sẽ là điều tốt nhất. Thực ra, trong khả năng quyết định đang khi còn nghi ngại và trong khi làm điều mà chúng ta cảm thấy có vẻ như là tốt nhất mà không tiêu tốn hàng giờ để chần chờ, vẫn có một thái độ tin tưởng phó thác: “Lạy Chúa, con đã suy nghĩ về điều đó và đã cầu nguyện để biết thánh ý Người. Con không thấy gì là rõ ràng cả, nhưng con sẽ không băn khoăn nữa, con sẽ không bỏ ra hàng giờ để tra tấn não bộ của con nữa, con sẽ quyết định như thế, bởi con đã cân nhắc kỹ lưỡng và xem ra đó là điều tốt nhất con nên làm. Con xin phó thác mọi sự trong tay Chúa. Con biết rõ rằng dù con có sai lầm, Chúa cũng không buồn lòng vì con đã hành động với ý chỉ ngay lành và nếu con có sai lầm, con cũng biết rằng, Chúa vẫn có thể rút ra điều tốt từ sai lầm đó. Nó sẽ nên nguồn mạch khiêm nhường cho con và con sẽ học được một điều gì đó từ nó!”. Và chúng ta ở lại trong bình an.

Một điều khác nữa, chúng ta mong muốn mình không thể sai lầm, không bao giờ sai lầm; thế nhưng, rất nhiều kiêu hãnh đang ẩn tàng trong ước muốn này cùng với nỗi sợ bị người khác đoán xét. Trái lại, những ai bình tâm chấp nhận đôi lần mắc phải sai lầm và chấp nhận người khác biết những sai lầm đó lại thể hiện một sự khiêm nhường thật và một lòng mến thật đối với Thiên Chúa.

Mặt khác, đừng hiểu sai về những gì Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta. Thiên Chúa là Cha chúng ta, Người tốt lành và nhân hậu, Người biết hết những khiếm khuyết cũng như những giới hạn trong cách phán đoán của con cái Người. Người chỉ yêu cầu chúng ta phải có thiện chí và có ý ngay lành, chứ không bao giờ đòi buộc chúng ta không được mắc phải sai lầm với những quyết định phải thật hoàn hảo! Thêm vào đó, giả như mọi quyết định của chúng ta đều hoàn hảo, thì điều này sẽ gây hại hơn là sinh ích! Vì khi đó chúng ta sẽ nhanh chóng coi mình là siêu nhân.

Để kết luận, chúng ta có thể nói, Thiên Chúa yêu thích những ai biết cách tự mình quyết định mà không do dự cả khi họ không chắc chắn nhưng biết tin tưởng phó thác chính mình cho Người, cũng như cho những kết quả hơn là những người không ngừng dằn vặt tâm hồn mình vì muốn biết bằng được đâu là điều Thiên Chúa trông chờ nơi họ và là người không bao giờ quyết định. Bởi chưng, thái độ thứ nhất cho thấy họ là những con người phó thác và tin tưởng vào Thiên Chúa nhiều hơn, vì thế họ cũng yêu mến nhiều hơn so với những người có thái độ thứ hai. Thiên Chúa yêu thích những ai biết tự do định đoạt và không “chẻ sợi tóc làm tư” với những tiểu tiết. Thật vậy, sự hoàn hảo chẳng liên quan gì nhiều đến sự thánh thiện.

Cũng thật quan trọng để biết rõ cách phân biệt những trường hợp khẩn thiết vốn cần nhiều thời gian để biện phân và quyết định khi phải quyết định, chẳng hạn khi quyết định đó ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống chúng ta; và những trường hợp ngược lại, ở đó, sẽ thật ngớ ngẩn và nghịch thánh ý Chúa khi chúng ta mất nhiều thời gian và quá nhiều cân nhắc trước khi quyết định dù không có nhiều khác biệt giữa lựa chọn này với lựa chọn kia. Thánh Phan-xi-cô Sa-lê đã nói, “Với những thỏi vàng, cẩn thận cân đo là chuyện bình thường; với những đồng xu nhỏ, chỉ cần ước lượng thật nhanh là đủ”. Ma quỷ, kẻ luôn tìm cách quấy nhiễu chúng ta, khiến chúng ta băn khoăn cả trong những quyết định nhỏ nhặt nhất, liệu quyết định đó có thực sự là ý Chúa hay không. Thế là nó khiến lương tâm chúng ta cảm thấy bứt rứt, do dự và hối hận về những điều không đáng bận tâm.

Chúng ta phải ước ao vâng lời Thiên Chúa, vâng lời liên lỉ và sâu sắc. Nhưng ước muốn này thực sự phù hợp với Chúa Thánh Thần nếu được bình an, tự do nội tâm, tin tưởng và phó thác đi cùng; bằng không nó sẽ là căn nguyên của phiền muộn vốn làm tê liệt lương tâm và ngăn cản người ta tự do quyết định.

Đúng là có những lúc Thiên Chúa để cho ước muốn vâng lời này trở thành nguyên nhân gây nên những dằn vặt thật sự. Cũng có trường hợp với những người mà tâm tính quá thận trọng, thì đây là một thử thách rất đau đớn mà Thiên Chúa không bao giờ giải thoát hoàn toàn cho họ ở đời này.

Nhưng điều này vẫn đúng là chúng ta thường khi vẫn phải nỗ lực tiến tới trên con đường của mình theo cách đó với tự do và bình an nội tâm. Và cũng phải biết rằng, như chúng ta vừa nói, ma quỷ ra sức quấy phá chúng ta, nó ma mãnh dùng chính ước muốn thực thi ý Chúa của chúng ta để quấy rầy chúng ta. Đừng để nó “lợi dụng”. Khi một người ở xa Chúa, ma quỷ sẽ cám dỗ người ấy làm điều dữ: nó lôi kéo người ấy đến với những điều xấu xa. Nhưng khi một người đến gần Thiên Chúa và yêu mến Người, chẳng ước muốn gì ngoài việc làm vui lòng Người, vâng lời Người, thì ma quỷ trong khi vẫn tiếp tục cám dỗ họ bằng điều dữ (điều này dễ nhận thấy) vẫn cám dỗ họ nhiều hơn bằng điều lành, nghĩa là nó lợi dụng ước muốn làm điều lành của chúng ta để quấy rối chúng ta. Nó làm điều này bằng cách khiến chúng ta trở nên rất mực thận trọng hoặc bằng cách giới thiệu cho chúng ta một điều lành nào đó mà chúng ta phải thực hiện dù điều đó quá sức hay không phải là điều Thiên Chúa muốn; tất cả chỉ để làm chúng ta nản lòng hoặc mất bình an. Ma quỷ muốn thuyết phục chúng ta rằng, những gì chúng ta làm còn chưa đủ, hoặc chưa làm thực sự vì yêu mến Thiên Chúa hoặc là Chúa chưa hài lòng về chúng ta,… Chẳng hạn, nó làm chúng ta tin Thiên Chúa đòi hỏi nơi chúng ta một hy sinh nào đó mà chúng ta không thể thực hiện và điều này khiến chúng ta vô cùng lo lắng. Nó tạo nên mọi loại hình đắn đo và rối bời trong lương tâm mà lẽ ra chúng ta nên lờ đi một cách đơn sơ và thuần khiết đang khi gieo mình vào lòng Thiên Chúa như những trẻ thơ. Khi chúng ta mất bình an vì những nguyên do tương tự như trên, hãy tự nhủ mình, hẳn là có bàn tay của ma quỷ nhúng vào. Hãy cố gắng lấy lại bình tĩnh; và khi không thể tự mình làm được điều này thì nên chia sẻ với một vị linh hướng. Cách chung, nguyên chỉ việc nói chuyện với người khác thôi cũng đủ để xua tan bối rối và tìm lại bình an.

Nói đến tinh thần tự do này, một tinh thần cổ vũ chúng ta trong hành động cũng như trong quyết định, chúng ta hãy kết luận bằng cách lắng nghe lời của thánh Phan-xi-cô Sa-lê:

Hãy mở lòng và luôn luôn đặt vào tay Chúa Quan Phòng mọi sự, lớn cũng như nhỏ; đồng thời, hãy giành lấy cho tâm hồn con ngày càng nhiều tinh thần dịu dàng và trầm lắng[6].

Lời ta vẫn thường nói với con là, con đừng quá tỉ mỉ trong việc thực hành các nhân đức; tốt hơn, con nên theo đuổi các nhân đức đó một cách nhanh nhẹn, cởi mở, hồn nhiên, trước đây làm sao con cứ làm vậy, với sự tự do, thành thật và đại thể. Ấy là vì ta sợ rằng, thái độ của con sẽ trở nên miễn cưỡng và u sầu. Mong ước của ta là con có một tâm hồn rộng mở trên con đường đến với Thiên Chúa[7].

17. Con đường vương giả của tình yêu

Xét xem mọi khía cạnh của một tình huống, cách thức tiến tới, đặt nền tảng trên bình an, tự do, tín thác vào Thiên Chúa, bình tâm chấp nhận những thiếu sót ngay cả những sa sẩy của mình,… vậy tại sao đây là đường lối được khuyên bảo? Tại sao con đường này lại đúng đắn hơn việc cứ tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa khi lòng đầy âu lo, do dự và bồn chồn, ước ao không ngơi nghỉ sự trọn lành?

Bởi vì, sự trọn lành đích thực duy nhất chính là sự trọn lành của tình yêu, và trong cách thức thứ nhất, tình yêu đích thực dành cho Thiên Chúa sẽ lớn hơn so với cách thức thứ hai. Thánh Faustina nói, “Khi tôi không biết phải làm gì, tôi hỏi tình yêu, vì tình yêu là vị cố vấn tốt nhất!”. Chúa Giê-su mời gọi chúng ta trở nên trọn lành, “Anh em hãy nên trọn lành như Cha anh em trên trời là Đấng trọn lành”. Nhưng dẫu vậy, theo Thánh Kinh, người trọn lành nhất không phải là người cư xử không có gì đáng chê trách, nhưng là người yêu nhiều nhất.

Cách cư xử hoàn hảo nhất không phải là cách cư xử theo đúng hình ảnh về sự trọn lành mà đôi khi chúng ta tự tạo cho mình, chẳng hạn như cách cư xử không chê vào đâu, không phạm sai lầm và vô tỳ tích. Đúng hơn, cách cư xử hoàn hảo là nơi mà tình yêu đối với Thiên Chúa sẽ vô vị lợi nhất và ở đó, tự phụ tìm kiếm chính mình cũng ít nhất. Ai nhận mình yếu đuối, nhỏ bé và ai thường xuyên té ngã và nhìn nhận mình không là gì dưới cái nhìn của bản thân cũng như cái nhìn của tha nhân, ai không quá lo lắng với hoàn cảnh của mình vì họ được phấn khích bởi niềm tin lớn lao vào Thiên Chúa và biết rằng tình yêu của Người thì vô cùng quan trọng và đáng kể hơn những bất toàn và lỗi lầm của họ gấp bội,… người đó sẽ yêu mến nhiều hơn những ai phải dồn nén mối bận tâm nên trọn lành riêng của mình đến nỗi đi tới chỗ phải lo lắng.

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ”. Phúc cho họ vì được chiếu sáng bởi Thánh Thần, họ học biết không còn cường điệu sự nghèo khó của mình nhưng đón nhận nó cách vui tươi vì họ đặt tất cả hy vọng của mình không vào bản thân nhưng vào Thiên Chúa. Chính Người là sự giàu có của họ, Người sẽ là sự trọn lành, sự thánh thiện và là nhân đức của họ. Phúc cho những ai biết yêu lấy sự nghèo khó của mình vì đó là một thời cơ diệu kỳ để Thiên Chúa thể hiện sự vô biên của Tình Yêu và Lòng Thương Xót của Người. Chúng ta sẽ nên thánh vào ngày khi mà sự bất lực và hư vô của chúng ta không còn là đối tượng để chúng ta buồn phiền và lo lắng nhưng nó trở nên nguồn mạch của bình an và niềm vui.

Con đường nghèo khó cũng là con đường yêu mến, là cách thức hiệu quả nhất để chúng ta lớn lên và dần dần đạt tới tất cả các nhân đức cũng như rửa sạch chính mình khỏi mọi lỗi lầm. Chỉ có tình yêu mới là nguồn phát sinh sự trưởng thành, chỉ có tình yêu mới đơm hoa kết trái và chỉ có tình yêu mới tẩy sạch tội lỗi hoàn toàn. Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su nói với chúng ta, “Lửa tình yêu tẩy sạch hơn lửa luyện ngục”. Lối suy nghĩ đặt nền tảng trên việc đón nhận cách vui tươi cái khó nghèo riêng tư của mỗi người này không đồng nghĩa với việc cam chịu sự xoàng xĩnh hay từ bỏ khát khao trở nên trọn lành; đúng hơn, đây là con đường nhanh nhất, bảo đảm nhất dẫn đến trọn lành vì nó đặt chúng ta vào chỗ nhỏ bé, tin tưởng và phó thác; nhờ đó, chúng ta được đặt trọn vẹn vào tay Thiên Chúa, Đấng có thể hoạt động trong chúng ta bằng ân sủng của Người, có thể mang chúng ta đến sự trọn lành bằng lòng thương xót tinh tuyền mà chúng ta không tài nào đạt được bằng sức riêng.

18. Một vài lời khuyên dưới hình thức kết luận

Vậy hãy đem ra thực hành tất cả những gì vừa được nói đến với lòng kiên tâm, bền chí và trên hết, không chút nản chí nếu chúng ta chưa đến được với sự trọn lành! Cho phép tôi làm sáng tỏ một sự thật hơi nghịch lý sau đây: Trên hết mọi sự, không bao giờ được đánh mất bình an, bởi lẽ chúng ta không bao giờ có thể tìm thấy bình an hoặc sống trong bình an mãi mãi theo ý muốn của mình! Tiến trình tái đào tạo của mỗi người thì lâu dài, vì thế, kiên nhẫn với chính mình là một điều thật cần thiết.

Cho nên, đây sẽ là nguyên tắc nền tảng: “Tôi sẽ không bao giờ nản lòng!”. Đây là một cách nói khác mượn từ lời của thánh Tê-rê-sa bé nhỏ, một mẫu gương tột bậc về tinh thần mà chúng ta đang cố gắng mô tả trong những trang sách này. Và chúng ta cũng lặp lại ở đây những lời của thánh Tê-rê-sa A-vi-la, “Kiên nhẫn đạt được mọi sự”.

Một nguyên tắc rất hữu ích và thiết thực khác là: Nếu không có khả năng làm những việc lớn lao, tôi sẽ không nản lòng, nhưng tôi sẽ làm những việc nhỏ. Đôi khi, bởi không có khả năng làm những việc trọng đại, phi thường, chúng ta lại bỏ qua những việc nhỏ vốn luôn sẵn có cho mình; hơn thế nữa, chúng đem lại biết bao hoa trái cho sự tiến bộ thiêng liêng và như thế, trở nên nguồn mạch của niềm vui, “Tốt lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành thì ta sẽ giao nhiều cho anh. Hãy đến mà hưởng niềm vui của chủ anh!” (Mt 25,21). Nếu Thiên Chúa thấy chúng ta trung thành và bền chí trong những việc nhỏ theo những gì mà Người trông mong, thì chính Người sẽ can thiệp và cũng cố nơi chúng ta những ân huệ cao trọng hơn. Hãy áp dụng: Nếu tôi vẫn không thể giữ lấy bình an khi đối mặt với những hoàn cảnh khó khăn; tốt hơn, tôi nên bắt đầu cố gắng giữ lấy sự bình an này ở những hoàn cảnh thuận tiện hơn trong cuộc sống thường ngày: bình thản và không cáu kỉnh làm những công việc vặt thường ngày, cam kết với chính mình sẽ làm mỗi việc thật tốt trong giây phút hiện tại mà không bận tâm với những gì sẽ đến, nói năng hoà nhã và dịu dàng với những người chung quanh, không quá vội vã trong cử chỉ cũng như trong cách đi lên cầu thang! Những bậc cấp đầu tiên trên bậc thang nên thánh cũng rất có thể là những bậc cấp trong căn hộ của tôi lắm chứ! Linh hồn thường được tái giáo dục bởi thân xác! Những việc nhỏ được làm với lòng yêu mến và để làm vui lòng Chúa thật vô cùng hữu ích trong việc làm chúng ta lớn lên; đó là một trong những bí quyết nên thánh của chị Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su.

Và nếu kiên trì trên con đường này, bằng lời cầu nguyện cùng với những hành vi bé nhỏ mà chúng ta cộng tác với ơn Chúa, chúng ta sẽ có khả năng sống những lời của thánh Phao-lô:

“Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su” (Pl 4,6-7).

Với bình an này, ai có thể giựt mất nó khỏi chúng ta?


Chú thích

[1] The Dialogue of St. Catherine of Siena, Algar Thorold, tr., TAN Books & Publishers, 1991, chapter 140.

[2] Saint Thérèse of the Child Jesus, inspired by John of the Cross.

[3] The Spiritual Combat & A Treatise on Peace of Soul, William Lester and Robert Mohan, trs., TAN Books & Publishers, 1993, chapters 4 and 5.

[4] The Spiritual Combat & A Treatise on Peace of Soul, William Lester and Robert Mohan, trs., TAN Books & Publishers, 1993, chapter 25.

[5] Divine Mercy in My Soul: The Diary of the Servant of God, Sister Faustina Kowalska, Marian Press, 1988, No. 799.

[6] Letter to Mme. de la Fléchère, 13 May 1609.

[7] Letter to Mme. de Chantal, 1 November 1604.