Triết học của Thánh Tô-ma A-qui-nô – Triết gia Peter Kreeft

Bài 10. Tri thức luận của Thánh Tô-ma

Khi khám phá tri thức luận của Thánh Tô-ma, chúng ta sẽ không tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi mà nhiều triết gia hiện đại cho là quan trọng nhất trong lĩnh vực này, bởi vì ngài chưa bao giờ hỏi nó. Đó là cái được gọi là “vấn đề phê bình”, hay sự phê bình và biện minh của lý trí con người. Đây là vấn đề cốt yếu của triết học hiện đại cổ điển từ Descartes đến Kant. Một trong những nguyên tắc của phương pháp khoa học là không đưa ra giả định về điều gì và hoài nghi mọi thứ, điều này dường như đòi hỏi chúng ta phải bắt đầu với tri thức luận trước thay vì siêu hình học. Tri thức luận được coi là quan trọng hơn, giống như khi dựng nhà, người thợ mộc cần phải kiểm tra dụng cụ của mình rồi mới bắt tay vào công việc. Ở đây, người thợ mộc chính là triết gia, còn ngôi nhà là siêu hình học, các dụng cụ là lý trí, và việc kiểm tra các công cụ chính là tri thức luận.

Nếu được ai đó yêu cầu đưa ra trả lời về vấn đề phê bình, Thánh Tô-ma có lẽ sẽ nói rằng bạn không thể học về tri thức luận mà không học về siêu hình học, bởi vì tri ​​thức phụ thuộc vào câu hỏi: Nó là gì? Ví dụ, nếu chỉ có chất thể là có thật, thì cũng chỉ có hiểu biết hữu hình và cảm tính mới đúng là hiểu biết thực sự. Tôi nghĩ Thánh Tô-ma cũng sẽ nói rằng câu hỏi được đặt ra theo phong cách hiện đại là không thể trả lời được về mặt lôgic vì nó chứa đựng sẵn trong mình một sự tự mâu thuẫn: Bất cứ hành vi suy luận nào mà chúng ta sử dụng để biện minh cho lý trí cũng cần được biện minh; điều tương tự cũng sẽ đúng đối với sự biện minh đó; và điều này cứ tiếp tục đúng như vậy cho đến vô cùng.

Thánh Tô-ma là một người duy thực chứ không phải duy tâm. Ngài tin rằng lý trí đạt đến thực tại khách quan chứ không chỉ là những ý tưởng của riêng chúng ta. Và chính chủ nghĩa duy thực này phân biệt ngài với cả ba trường phái chính của tri thức luận hiện đại, trong đó, tất cả chúng, mặc dù đi theo ba con đường khác nhau, nhưng đều mang màu sắc duy tâm hơn là duy thực. Trước hết, Thánh Tô-ma không bắt đầu bằng cách loại bỏ các giả định và cố gắng chứng minh điều gì đó thông qua việc suy luận ra những điều về thực tại khách quan từ các ý niệm của chúng ta, giống như chủ nghĩa duy lý của Descartes. Thứ hai, ngài không bắt đầu bằng cách xác định một ý niệm như là đối tượng đầu tiên trong tri ​​thức của chúng ta, giống như chủ nghĩa duy nghiệm của Locke. Và thứ ba, ngài không đồng ý với cái mà Kant gọi là “Cuộc cách mạng Copernic trong triết học”, thứ tuyên bố rằng trong mọi tư duy của chúng ta, chính chủ thể định hình, cấu thành và xác định đối tượng đã biết chứ không phải ngược lại. Thánh Tô-ma là một người duy thực bởi vì ngài tin rằng ngay từ đầu, lý trí đã mở ra trước thực tại và thực tại đã mở ra đối với lý trí. Ngài không cố gắng chứng minh điều này nhưng đã giả định nó, và ngài hẳn sẽ lập luận rằng chúng ta phải giả định điều đó ngay từ giây phút đầu tiên khi tuyên bố là mình biết bất cứ sự thật nào.

Tuy nhiên, Thánh Tô-ma đã cung cấp một lời giải thích quan trọng về tri thức con người một khi giả định này được chấp nhận: ngài giải thích cách chúng ta biết. Và ở đây, ngài cũng đưa ra một triết lý khác với cả ba câu trả lời chủ đạo của triết học hiện đại trong vấn đề tri thức luận bao gồm chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa duy nghiệm và chủ nghĩa Kant. Vì ngài biết hai trong số những triết lý này, ít nhất là giống như những lựa chọn đã xuất hiện ở Hy-lạp cổ đại, đó là chủ nghĩa duy lý từ Plato và chủ nghĩa duy nghiệm triệt để (hay nghiêm ngặt) từ các nhà duy vật thời ấy như Democritus, Epicurus và Lucretius; và giống như Aristotle, Thánh Tô-ma cũng chèo lái quan điểm của mình giữa hai thái cực. Lập trường của ngài đôi khi được gọi là chủ nghĩa duy nghiệm ôn hòa (hay mềm dẻo) bởi vì nó nói rằng tất cả tri ​​thức của con người bắt đầu từ kinh nghiệm cảm tính nhưng không giới hạn ở kinh nghiệm cảm tính.

Thánh Tô-ma hẳn sẽ nói rằng những người theo chủ nghĩa duy nghiệm triệt để đã nhầm lẫn con người với động vật trong việc hạ thấp mọi tri thức thành cảm giác thụ động, trong khi những người theo chủ nghĩa duy lý đã nhầm lẫn con người với thiên thần, khi tin rằng chúng ta có những ý niệm tiên thiên, một loại thần giao cách cảm với trí tuệ của Thiên Chúa. Vị trí chính giữa của con người trong hệ thống phân cấp vũ trụ, giữa động vật và thiên thần, là nền tảng siêu hình bất biến cho “chuẩn tắc trung dung” điển hình theo Aristotle mà Thánh Tô-ma nắm giữ.

Có ba cấp bậc của năng lực nhận thức. Đối với một năng lực nhận thức, cụ thể là cảm giác, là hành vi của một cơ quan thể lý. Có một cấp bậc khác của năng lực nhận thức không liên quan đến chất thể; đó là trí năng thiên thần. Nhưng trí năng của con người giữ vị trí trung gian, vì nó không phải hành vi của một cơ quan thể lý, nhưng là năng lực của linh hồn, thứ vốn là mô thức của thể xác.

Thánh Tô-ma đồng ý với những người theo chủ nghĩa duy nghiệm rằng chúng ta có một thứ được gọi là “trí năng thụ động”, tức là trí tuệ của con người ở dạng tiềm năng (hay thụ động, hay có thể hấp thụ) đối với tri thức. Nó không có những ý niệm tiên thiên. Ngài giải thích điều này qua việc so sánh nó với Trí Năng của Thiên Chúa:

Chúng ta có thể thấy được liệu trí năng là hiện thể hay tiềm thể bằng cách quan sát mối quan hệ của nó với hữu thể phổ quát. Vì có một trí năng có liên quan đến hữu thể phổ quát và cũng là trí năng của hiện thể nơi hữu thể trọn vẹn; đó chính là Trí Năng của Thiên Chúa, nơi mà hữu thể trọn vẹn tồn tại tiên nghiệm ngay từ lúc khởi đầu giống như trong nguyên nhân đầu tiên của nó. Do đó, Trí Năng của Thiên Chúa không ở dạng tiềm năng mà thuần túy là hiện thể. Nhưng không có trí năng thụ tạo nào có thể là hiện thể trong mối quan hệ với hữu thể trọn vẹn… trí năng của con người có tiềm năng liên quan đến những sự vật khả tri, và thoạt đầu, theo cách nói của Triết gia, nó giống như một tấm bảng sạch chưa có gì được viết. Điều này là hết sức rõ ràng, nó xuất phát từ thực tế rằng chúng ta chỉ có tiềm năng đối với việc hiểu biết, rồi sau đó, được tác động để đi tới hiểu biết một cách thực sự. Và như vậy rõ ràng là chúng ta hiểu biết theo một cách thụ động.

Vì vậy, giống như Aristotle, Thánh Tô-ma không tin tưởng vào những ý niệm tiên thiên của Plato. Ngài cho thấy tri thức luận bắt nguồn từ siêu hình học của mình như sau:

Aristotle không chấp nhận rằng mô thức của các sự vật tự nhiên tồn tại tách biệt đối với chất thể [nói cách khác, không có những ý niệm riêng biệt của Plato]… do đó, chúng ta phải gán cho trí năng một năng lực mà nó sử dụng để rút ra (trừu xuất) các mô thức dựa trên những điều kiện (yếu tố) chất thể.

Và đó là lý do tại sao nơi con người cũng có một “trí năng chủ động”, chứ không chỉ đơn thuần là một trí năng thụ động, giống như lập trường cứng nhắc của những người theo chủ nghĩa duy nghiệm.

Chất thể không thể đi vào tâm trí, chỉ mô thức mới có thể. Nếu các mô thức không tồn tại sẵn trong tình trạng giải phóng khỏi chất thể, giống như suy nghĩ của Plato, thì trí tuệ của chúng ta phải hành động để tách chúng ra khỏi chất thể trước khi có thể đưa chúng vào.

Do đó, Thánh Tô-ma kết hợp cả tính thụ động và chủ động trong sự nhận biết:

Mặc dù trí năng thực sự phi chất thể, nhưng cũng chỉ ở dạng tiềm năng trong việc tiếp nhận các mô thức xác định. Và mặc dù những ảo ảnh [hình ảnh cảm quan] là hình ảnh thực sự của một số mô thức xác định, thì chúng cũng chỉ có tiềm năng để mang đặc tính phi chất thể. Do đó, không có gì ngăn cản một trí năng vừa có năng lực thực sự khiến các mô thức mang lấy đặc tính phi chất thể bằng cách trừu xuất chúng từ những chất thể riêng biệt, năng lực này [chúng ta] gọi là trí năng chủ động; và đồng thời có một năng lực khác với đặc tính dễ dàng lĩnh hội những mô thức như vậy bởi lý do là nó có tiềm năng được xác định nhờ những mô thức đó, năng lực này [chúng ta] gọi là trí năng thụ động.

Quả táo vật chất (apple) không thể đi vào trí tuệ thuộc linh, mà chỉ tính chất táo (appleness) của quả táo mới có thể. Nhưng trước tiên chúng ta phải trừu xuất tính chất táo của quả táo.

Vậy sự thật là gì? Bạn mong đợi Thánh Tô-ma, với tư cách là một người theo chủ nghĩa duy thực, nắm giữ một lý thuyết tương hợp về sự thật (correspondence theory of truth), nhưng ngài còn khôn ngoan hơn thế. Một khái niệm không chỉ là bức ảnh hay bản sao của mô thức có thật trong vạn vật (world). Bởi nếu như vậy, làm sao chúng ta có thể biết được bức ảnh nào mới là thật, khi mà mô thức cấu thành chất thể bên ngoài tâm trí và mô thức cấu thành ý niệm bên trong tâm trí là rất giống nhau? Vì vậy, đây là một lý thuyết để nhận biết sự thật. Trích dẫn Aristotle, Thánh Tô-ma nói rằng “linh hồn con người ở trong mọi sự theo một cách nào đó.” Điều này có nguyên nhân là vì mô thức của mọi sự có thể tồn tại trong tâm trí chúng ta.

Nhân loại giống như tập hợp của sáu tỷ tấm gương trong một căn phòng khổng lồ có tên là vạn vật. Mỗi tấm gương có thể phản chiếu bất cứ thứ gì bên trong căn phòng đó, kể cả những tấm gương khác. Và toàn thể vạn vật, chứ không chỉ những bức ảnh của nó, xuất hiện lặp lại sáu tỷ lần khi trí tuệ con người nhận biết nó.

Sai lầm đối với các lý thuyết tương hợp là việc chúng vật thể hóa (“thingify”) các ý niệm. Chúng coi các ý niệm như những sự vật, như hình ảnh hay bản sao, của những thứ có thật trong vạn vật. Theo ngôn ngữ chuyên môn của Thánh Tô-ma, điều đó có nghĩa là chúng coi các ý tưởng là những dấu chỉ chất thể chứ không phải dấu chỉ mô thức. Dấu chỉ chất thể là những dấu chỉ cũng đồng thời là sự vật, như biển chỉ dẫn hay bản đồ chẳng hạn: tức là những thứ chỉ ra những thứ khác. Còn dấu chỉ mô thức thì thuần túy là dấu chỉ mà không phải là sự vật. từ đó, chỉ các ý niệm mới là dấu chỉ mô thức, hành vi trí tuệ nhắm vào sự vật thì không phải là sự vật chỉ vào chúng giống như những ngón tay. Chúng là hành vi của chủ thể nhận biết, chứ không phải là đối tượng. Nếu ý niệm là các sự vật, thì chúng ta sẽ nhận biết ý niệm trước rồi mới đến sự vật sau, điều này giống như quan điểm của những người duy lý và những người duy nghiệm. Nhưng nếu điều đó là đúng, thì kết luận tất yếu của nó sẽ là chủ nghĩa hoài nghi, bởi vì khi ấy, chúng ta sẽ giống như những tù nhân chỉ nhìn thấy những gì bên trong phòng giam của mình bao gồm cả những bức ảnh trên màn hình TV của phòng giam, vốn được cho là hình ảnh của thế giới thực bên ngoài — nhưng ở đó sẽ không có cách nào để chúng ta biết được những hình ảnh nào mới là thật nếu không có tri ​​thức trực tiếp về thực tại khách quan. Đối với Thánh Tô-ma, khi bạn biết các sự vật, bạn đang có một loại kinh nghiệm lý tính bên ngoài cơ thể.

Đó là lý do tại sao Thánh Tô-ma nói rằng các ý niệm không phải là những sự vật đã được hiểu, nhưng có nghĩa là những thứ mà nhờ chúng, chúng ta nhận biết các sự vật. Ngài hỏi: “Liệu các chủng loại khả tri [hay mô thức] được trừu xuất từ ảo ảnh [hình ảnh cảm quan] có liên hệ đến trí năng  của chúng ta như những điều đã được hiểu không?” Và ngài trả lời: Không, nó là những phương thế của sự nhận biết, không phải đối tượng được biết.

Ngài đã đưa ra hai lập luận cho kết luận này:

Trước tiên, nếu những gì chúng ta hiểu chỉ đơn thuần là chủng loại khả tri [mô thức] trong linh hồn, thì theo đó, mọi môn khoa học sẽ không quan tâm đến các đối tượng bên ngoài linh hồn, nhưng chỉ quan tâm đến các chủng loại khả tri bên trong linh hồn.

Nói cách khác, tất cả các môn khoa học sẽ là những phân ngành của môn tâm lý học.

Thứ hai, điều đó không đúng vì nó sẽ đưa tới quan điểm của các nhà ngụy biện cổ đại rằng “bất cứ điều gì có vẻ đúng, thì là đúng,” và do đó, những điều mâu thuẫn sẽ đúng đồng thời với nhau. Vì nếu một phân khoa chỉ biết cảm giác (impression) của riêng mình, thì nó chỉ có thể phán đoán về cảm giác của nó mà thôi. Bây giờ, một điều dường như đúng theo cảm giác được áp dụng đối với khoa nhận thức. Từ đó, khoa nhận thức sẽ luôn phán đoán cảm giác của chính nó như vậy, và do đó, mọi phán đoán sẽ là đúng: ví dụ, nếu vị giác chỉ nhận thức được cảm giác của riêng nó, thì khi bất cứ ai có vị giác bình thường nhận thức rằng mật ong là ngọt, anh ta sẽ phán đoán đúng, và nếu bất cứ ai có vị giác bất thường nhận thức rằng mật ong là đắng, thì anh ta cũng đúng một cách bình đẳng như người kia… do đó, mọi quan điểm ​​sẽ đúng như nhau.

Kết luận vô lý đó chính là điều mà nhiều nhà tư tưởng hiện đại vui vẻ chấp nhận và gọi nó là sự bao dung: mọi quan điểm đều bình đẳng. Họ nói rằng “đúng” chỉ có nghĩa là “đúng với tôi” hay “đúng với anh”. Vì vậy, không có ai là người sai, và chúng ta nên là người không bao giờ xét đoán, trừ khi bị xét đoán. Nói cách khác, sự thật tự nó là tương đối.

Điều này, tất nhiên, đơn giản là vô lý. Thánh Tô-ma thậm chí còn không cảm thấy cần phải giải thích tại sao quan điểm rằng “mọi quan điểm ​​đều đúng như nhau” lại là điều vô lý. Bởi lẽ nó ngay lập tức tự mâu thuẫn giống như tất cả các hình thái khác của chủ nghĩa hoài nghi phổ quát: nếu mọi quan điểm ​​đều đúng như nhau, thì ý kiến ​​sau đây cũng đúng như vậy: không phải mọi quan điểm ​​đều đúng như nhau.

Thánh Tô-ma nói rằng trí năng của chúng ta hiểu “theo thành phần và tổng thể” (“composition and division”), điều này có nghĩa là chúng ta chỉ biết sự thật trong một phán đoán xác nhận hay phủ định một khái niệm – một thuộc tính – của một khái niệm khác – một chủ thể. Sau đó, chúng ta suy luận từ một số phán đoán này, như những tiền đề, đến một số phán đoán khác, như những kết luận. Và đây là ba hành vi của trí tuệ: (1) hiểu ý nghĩa của một khái niệm, (2) đưa ra phán đoán về sự thật và (3) suy luận.

Thánh Tô-ma nói rằng hành vi đầu tiên của trí tuệ, hiểu, hay sự nắm bắt đơn giản của trí năng về một khái niệm, là không thể sai lầm. Tại sao vậy? Thưa là vì chỉ những phán đoán mới có thể đúng hoặc sai. Khái niệm về quả táo của bạn có thể nhầm lẫn, nhưng nó không sai cho đến khi bạn đưa ra phán đoán, chẳng hạn như “táo là thuốc độc” hay “táo là thực vật”.

Điểm tiếp theo trong tri thức luận của Thánh Tô-ma là việc “một người có thể hiểu tốt hơn người khác về cùng một sự vật.” Giữa các trí năng khác nhau không có sự ngang bằng về năng lực hiểu biết (hay nhận thức) cho dù các quy luật logic và toán học đối với mọi trí óc đều như nhau. Và phán đoán của chúng ta vừa tuân theo sự hiểu biết, vốn biến đổi, nhưng cũng vừa tuân theo suy luận, vốn bao hàm những nguyên tắc bất biến. Các quy luật logic đều như nhau đối với mọi người, nhưng khả năng hiểu biết của mỗi người thì khác. Điều này lý giải tại sao giữa loài người chúng ta luôn tồn tại những bất đồng, trong đó, bao gồm cả những triết gia.

Và Descartes đã cố gắng để chấm dứt những bất đồng liên lỉ giữa các triết gia bằng cách sử dụng duy nhất phương pháp khoa học, mà về mặt bản chất, ông coi đó là phương pháp toán học. Việc sử dụng phương pháp này trên thực tế đã tạo ra sự đồng tình đáng kể và có thể xem như khám phá vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học, vì nó giống như một chiếc chìa khóa vạn năng có thể mở toang tất cả các cánh cửa. Vào thời trung cổ, các nhà khoa học cũng bất đồng nhiều như các triết gia, vì phương pháp của họ về cơ bản giống với phương pháp của các triết gia. Nhưng sang thời hiện đại, các nhà khoa học lại đồng tình với nhau nhiều hơn là bất đồng, trong khi các triết gia vẫn tiếp tục đi theo chiều ngược lại. Tại sao vậy? Descartes hẳn sẽ nói rằng đó là vì các triết gia không sử dụng phương pháp khoa học, như ông đã đề xuất trong cuốn Khảo luận về phương pháp. Còn Thánh Tô-ma hẳn sẽ đưa ra một lý do khác. Ngài sẽ nói rằng đó là do sự bất bình đẳng có tính chất tiên thiên. Mặc dù tất cả chúng ta đều bình đẳng như nhau trong khả năng suy luận, cũng như trong tri ​​thức về các quy luật suy luận, nhưng chúng ta không có sự đồng đều về mặt hiểu biết hay phán đoán theo sự hiểu biết đó. Đó là lý do tại sao hy vọng của Descartes nhằm chấm dứt những bất đồng trong triết học, thậm chí cả trong tôn giáo và chính trị, và thậm chí cả trong chiến tranh, bằng cách sử dụng phương pháp khoa học, có lẽ là một giấc mơ không tưởng.

Một điểm khác mà Thánh Tô-ma đưa ra là “trí năng không thể nhận biết những thứ đơn lẻ [hay những sự vật cá biệt cụ thể], chỉ những năng lực cảm quan mới có thể”. Vì vậy, nếu không có các giác quan, chúng ta chỉ có thể nhận biết các mô thức, các chủng loại và những điều phổ quát. Chúng ta cần các giác quan để biết những thứ đơn lẻ, hay những thứ cá biệt, bởi vì chất thể là nguyên tắc cho sự cá biệt hóa như chúng ta đã thấy trong siêu hình học, và chúng ta cần các giác quan để nhận biết chất thể.

Tuy nhiên, Thánh Tô-ma cũng rất coi trọng trí năng, và ngài nói rằng “sự vô hạn tồn tại ở dạng tiềm năng trong trí tuệ chúng ta qua việc nó nhận biết hết điều này tới điều khác, bởi vì trí năng của chúng ta không bao giờ hiểu hiểu quá nhiều thứ đến nỗi nó không thể hiểu được thêm nữa”. Vì vậy, trí năng của con người có tiềm năng vô hạn, giống như dãy số; trong khi Trí Năng của Thiên Chúa thì thực sự vô hạn.

Làm thế nào để chúng ta nhận biết chính mình? Thánh Tô-ma nói rằng đó là nhờ sự phản chiếu tri ​​thức của chúng ta về vạn vật (world). Tri thức cảm tính về một vật thể nào đó phải có trước; chỉ khi ấy, chúng ta mới có thể suy ngẫm về thực tế rằng chúng ta đã biết vật thể đó, và kế đến, hiểu rằng chúng ta là những trí năng, không phải chỉ là vật thể. Không giống như Descartes, Thánh Tô-ma không bắt đầu với “Tôi suy tư, tôi hiện hữu” nhưng với “Tôi thấy một cái cây, vì thế, tôi không phải một đối tượng đã thấy cái cây, nhưng là một người quan sát nó”. Tri thức về chính mình phải đến sau cùng, không phải đầu tiên.

Thánh Tô-ma không nghĩ rằng chúng ta có bất cứ ý niệm tiên thiên nào, mặc dù chúng ta có những năng lực tiên thiên; và ngài nghĩ rằng chúng ta nhận biết các mô thức phi chất thể, hay cái mà Plato gọi là ý niệm, chỉ qua con đường duy nhất là trừu xuất chúng từ các vật thể. (Tất nhiên, những ý niệm của Plato không phải là những ý kiến ​​chủ quan mà là những mô thức có thật.) Thánh Tô-ma nói rằng các ý niệm tồn tại ở ba nơi là: ante rem, in re, và post rem: trước sự vật, trong sự vật và sau sự vật; nơi đầu tiên là trong Trí Tuệ của Thiên Chúa trước khi chúng có trong các sự vật ngoài tự nhiên; nơi thứ hai là trong những sự vật ngoài tự nhiên đó; và nơi thứ ba, trong trí tuệ của chúng ta sau khi chúng ta trừu xuất chúng từ các sự vật.

Và ngay cả sau khi các mô thức nằm trong trí tuệ của chúng ta thông qua trừu xuất, Thánh Tô-ma nói rằng chúng ta không thể hiểu chúng nếu không có sự trợ giúp của trí tưởng tượng, hay cái mà ngài gọi là sự chuyển đổi sang ảo ảnh, hay hình ảnh cảm quan. Chúng ta cần có những minh họa hay phép loại suy cụ thể để hiểu các nguyên tắc trừu tượng. Thánh Tô-ma rất đồng thuận với lẽ thường và gần gũi với chủ nghĩa duy nghiệm hơn là chủ nghĩa duy lý.

Nhưng ngài không đơn thuần là một nhà duy nghiệm. Ngài cũng nói rằng linh hồn, khi tách rời khỏi thể xác, vẫn có hành vi hiểu biết của riêng nó. Năng lực đó không phải là năng lực cảm quan. Điều này giải thích làm thế nào mà các kinh nghiệm bên-ngoài-thể-xác thậm chí có thể xảy ra trước khi con người ta đi qua cái chết. Trí tuệ không phải là năng lực của một cơ quan thể lý, thậm chí không phải của não bộ. Mặt khác, trong các thực hành của mình, nó mang tính có điều kiện được quy định bởi thể xác và bộ não. Thánh Tô-ma hẳn sẽ không lấy làm ngạc nhiên hay cảm thấy khó chịu trước những phát hiện gần đây rằng các thành phần hóa học của não bộ có khả năng làm biến đổi các trạng thái tinh thần. Thậm chí, đó chính xác là những gì mà ngài mong đợi về giả thiết của mình rằng linh hồn là mô thức của thể xác.

Một điểm cuối cùng nữa cần nói đến là mối quan hệ giữa trí năng và ý chí. Thánh Tô-ma đã giải quyết vấn đề này trong phần nội dung về nhân học của Tổng luận thần học, nơi ngài cũng đồng thời nói về tri thức luận vì bàn tới trí năng. Ngài hỏi rằng “liệu ý chí có phải là năng lực cao hơn trí năng không”. Câu hỏi này có ý nghĩa quan trọng vì nó dường như cho thấy sự bất đồng quan điểm giữa các triết gia ngoại giáo Hy-lạp và Ki-tô hữu, giữa quan điểm Kinh Thánh và quan điểm cố điển, giữa “Chủ nghĩa Do-thái (Hebraism) và Chủ nghĩa Hy-lạp (Hellenism)”, theo cách gọi của Matthew Arnold. Aristotle cũng như Plato đã xác định cái tôi chân thật và cao nhất của chúng ta, năng lực cao nhất của chúng ta, với lý trí và trí năng. Nhưng Kinh Thánh đã xác định những điều đó bằng tình yêu, một hành động của ý chí. Những người ngoại giáo là những người theo chủ nghĩa lý trí (hay thuyết chủ trí – intellectualism), trong khi các Ki-tô hữu là những người theo chủ nghĩa ý chí (hay thuyết chủ chí – voluntarism); vì thế, có vẻ như thử nghiệm của sự tổng hợp vào thời trung cổ, ở vị trí nằm giữa khôn ngoan cổ điển và khôn ngoan Kinh Thánh, sẽ không hiệu quả, phải vậy không?

Bạn có thể sẽ không ngạc nhiên về câu trả lời của Thánh Tô-ma rằng có sự thật trong cả hai truyền thống và ngài đã tổng hợp hai nền nhân học này. Ngài nói rằng cả hai bên đều đúng theo những cách khác nhau. Ngài đưa ra hai sự phân biệt quan trọng để giải quyết vấn đề. Phân biệt thứ nhất là giữa các đối tượng khác nhau của hai năng lực, và phân biệt thứ hai là giữa hai cách thức khác nhau mà chúng tác động lên nhau.

Khi cái thiện cao cả hơn linh hồn, thì ý chí cao hơn trí năng. Nhưng khi cái thiện không cao cả bằng linh hồn, thì trí năng lại cao hơn ý chí. Như vậy, tình yêu Thiên Chúa tốt [cao] hơn tri thức về Người, nhưng tri thức về vật chất thì tốt [cao] hơn tình yêu dành cho chúng.

Thánh Tô-ma giải thích như vậy bởi lẽ tình yêu thì lôi cuốn chúng ta vào đối tượng mình yêu và khiến chúng ta trở nên thích nghi với đối tượng đó, trong khi tri thức thì ngược lại, vì một sự vật chỉ được biết đến ở mức độ chiếu theo những năng lực của người biết. Khi chúng ta biết Chúa, chúng ta phải kéo Người xuống cấp độ hiểu biết của chúng ta, nhưng khi chúng ta biết quả táo, chúng ta nâng nó lên cấp độ của chúng ta cả về tâm linh, trí năng và trí tuệ, nó đi vào trí tuệ chúng ta chỉ như một ý niệm mà thôi. Nhưng tình yêu thì hành động theo cách thức trái ngược với suy tư. Khi chúng ta yêu mến Chúa, chúng ta cố gắng trở nên giống như Người, chúng ta thích nghi với Người. Và khi chúng ta càng yêu quả táo, thì suy tư và mong muốn của chúng ta, linh hồn của chúng ta, sẽ càng trở nên giống như quả táo. Vì vậy, trong mối quan hệ với vạn vật (world), tri thức của chúng ta cao hơn tình yêu; nhưng trong mối quan hệ với Thiên Chúa, tình yêu của chúng ta lại cao hơn tri thức. Người Hy-lạp đã đúng về vạn vật (world), còn người Do-thái và Ki-tô hữu đã đúng về Thiên Chúa.

Sự khác biệt thứ hai mà Thánh Tô-ma sử dụng để so sánh trí năng và ý chí là cách chúng gây ra hoặc dịch chuyển lẫn nhau. Mỗi thứ có sức mạnh để dịch chuyển thứ còn lại theo những cách khác nhau, với hai loại nhân quả khác nhau.

Một sự vật được cho là dịch chuyển theo hai cách thức: Thứ nhất, như một cùng đích hay nguyên nhân tối hậu, chẳng hạn khi chúng ta nói rằng cái cùng đích dịch chuyển tác nhân. Bằng cách này, trí năng dịch chuyển ý chí, bởi vì điều thiện được hiểu là đối tượng của ý chí và dịch chuyển nó như một cùng đích. Thứ hai, một thứ được cho là dịch chuyển như một tác nhân hay nguyên nhân hữu hiệu, như thứ biến đổi -các chuyển động đã được thay đổi- và thứ thúc đẩy -các chuyển động đã được thúc đẩy. Bằng cách thức này, ý chí dịch chuyển trí năng và tất cả các năng lực của linh hồn.

Nói cách khác, trí năng là hoa tiêu duy nhất và ý chí là thuyền trưởng duy nhất của linh hồn. Mỗi thứ trong số chúng đều cần đến nhau.

Chúng ta có thể dễ dàng hiểu tại sao những năng lực này lại bao hàm lẫn nhau trong các hành vi của chúng, bởi vì trí năng hiểu những gì ý chí muốn, còn ý chí thì muốn trí năng hiểu. Theo cách tương tự, điều thiện được bao hàm trong sự thật là bởi vì nó đã được hiểu, và sự thật được bao hàm trong điều thiện là bởi vì nó đã được khao khát.

Bên cạnh đó, trí năng và ý chí cũng đòi hỏi lẫn nhau vì sự kết hiệp với Thiên Chúa trên Thiên đàng. Đây là sự kết hiệp của tình yêu chỉ vì nó cũng là sự kết hiệp của trí tuệ. Trên thực tế, chất keo thực sự kết dính chúng ta với Thiên Chúa trong khi hưởng vinh phúc diện kiến tôn nhan Người chính là trí tuệ chứ không phải ý chí. Và đây là lập luận của Thánh Tô-ma cho kết luận đó:

Việc đạt tới cùng đích tối hậu của chúng ta không nằm trong chính hành vi của ý chí, vì ý chí hướng đến cùng đích tối hậu theo hai cách thức: khi vắng mặt (absent), nó khao khát cùng đích và khi hiện diện (present), nó thích thú khi được nghỉ ngơi trong cùng đích ấy. Bây giờ, khao khát hướng tới cùng đích, tự nó, hiển nhiên không phải là sự đạt tới cùng đích, nhưng là một chuyển động hướng tới cùng đích; trong khi ý chí chỉ tìm được sự thích thú khi cùng đích đã hiện diện.

Vì thế, ý chí cũng quan trọng như trí năng trong việc đạt tới cùng đích tối hậu của chúng ta, nhưng hành vi của sự hiệp nhất tự nó là một hành vi của trí tuệ. Đó là điều Chúa Giê-su đã nói: “Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật” (Ga 17,3).

Tất nhiên, điều này không chỉ đơn thuần là tri thức duy lý được tạo nên bởi các khái niệm, nhưng là tri thức cá vị đến từ kinh nghiệm. Nó là tri thức. Nó là điều đã tạo ra sự thích thú lớn nhất nơi những cặp tình nhân: sự hiểu biết về nhau và sự thân thiết của họ, cả trên khía cạnh thể xác lẫn tinh thần. Nếu họ hoàn toàn yêu đối phương, họ có thể chỉ cần ngồi và nhìn chằm chằm một cách hạnh phúc vào mắt nhau mãi mãi. Đó là nguyên nhân dẫn tới hạnh phúc của họ; tri thức là nguyên nhân của sự thích thú nơi họ.

Do đó, đối với vấn đề kinh điển của chủ nghĩa lý trí và chủ nghĩa ý chí, điểm mấu chốt là Thánh Tô-ma đã vạch ra ranh giới giữa chúng, ranh giới này vượt qua mối quan hệ hoặc cái này – hoặc cái kia. Trí năng và ý chí giống như nam và nữ: chúng được tạo ra cho nhau và không thể thiếu cho sự hoàn thiện của nhau.


Câu hỏi

  1. Tại sao phải có cả trí năng chủ động và trí năng bị động?
  2. Thánh Tô-ma đã đồng ý/không đồng ý ra sao với chủ nghĩa duy nghiệm?

Sách đề xuất

  • Kreeft, Peter, ed. — Summa of the Summa. San Francisco: Ignatius Press, 1990.

Sách khác

  • Gilson, Etienne. — Thomist Realism and the Critique of Knowledge. Trans. Mark A. Wauck. San Francisco: Ignatius Press, 1986.