Triết học của Thánh Tô-ma A-qui-nô

Bài 2: Triết học và thần học, lý trí và đức tin

Vì Thánh Tô-ma chủ yếu là một nhà thần học, và vì tác phẩm chính của ngài là Tổng luận thần học, nên chúng ta sẽ tuân theo trật tự của tác phẩm này, đó là một trật tự thần học, ngay cả khi chúng ta đánh giá những phát biểu của ngài về mặt triết học.

Thánh Tô-ma là một triết gia trong việc phục vụ cho thần học. Tới lượt mình, thần học của ngài dựa trên Kinh Thánh chứ không phải triết học. Ngài trích dẫn Kinh Thánh tới hàng chục ngàn lần, từ trí nhớ, một công việc không xa lạ gì đối với một tu sĩ Công Giáo hay ráp-bi Do-thái Giáo thời trung cổ, khi mà sách thì ít, còn trí nhớ thì nhiều.

Tất cả ba điều: triết học, thần học và Kinh Thánh, đối với ngài chỉ nhằm mục đích cho điều quan trọng nhất, đó là trở nên một vị thánh, biến đổi cá vị, và cuối cùng là Thần hóa, là tham gia vào chính sự sống của Thiên Chúa vậy.

Mục đích chính của Tổng luận thần học là đổi mới tâm hồn người đọc qua việc giáo dục thần học, nhưng thực tế đó không làm tổn hại đến tính toàn vẹn về mặt lôgic trong các lập luận của Thánh Tô-ma. Tại sao một động cơ cao đẹp lại làm hỏng một công việc thấp hơn như vậy được?

Thánh Tô-ma đã bắt đầu Tổng luận thần học với Thiên Chúa, như là nguồn gốc hay Nguyên Nhân Đầu Tiên của vạn vật; sau khi nói về Đấng Sáng Tạo, ngài tiến hành khám phá sự sáng tạo, trong đó, tập trung vào con người với hai năng lực đặc biệt của chúng ta là lý trí và ý chí tự do, cũng như bàn luận về cứu cánh cuối cùng và lợi ích tốt nhất cho con người, cũng chính là Thiên Chúa, và làm thế nào để đạt được điều đó. Vì thế, Thiên Chúa là an-pha và ô-mê-ga, và Tổng luận thần học giống như một hệ thống tuần hoàn có trật tự, với Thiên Chúa được đặt tại trái tim và bơm máu hữu thể thông qua các huyết quản của tạo vật, đó là tình yêu của Thiên Chúa đối với con người, và nhận lại nó qua các động mạch của tình yêu mà con người dành cho Thiên Chúa, như vậy, hành trình luân lý của con người đã trở về với Chúa.

Câu hỏi đầu tiên của Tổng luận thần học là về mối quan hệ giữa thần học, hay “khoa học thiêng liêng” – “thánh khoa” và triết học, và như vậy, giữa đức tin (nguồn gốc của thần học) và lý trí (nguồn gốc của triết học). Câu trả lời của Thánh Tô-ma cho câu hỏi này chính là nền tảng của toàn bộ dinh thự đồ sộ các tác phẩm mà ngài nắm quyền tác giả, trong đó, “sách lược trọng yếu” là thể hiện sự hòa hợp, hay cuộc hôn nhân, giữa lý trí và đức tin, giữa triết học và thần học, giữa truyền thống Hy-lạp và truyền thống Kinh Thánh.

Triết học chỉ là công việc của riêng lý trí con người. Có một loại thần học cũng chỉ là công việc của lý trí con người. Chẳng hạn như những gì Aristotle đã thực hiện. Các học giả thời trung cổ gọi đó là thần học triết lý, hay thần học tự nhiên. Năm cách thức nổi tiếng của Thánh Tô-ma để chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa phù hợp với điều đó. Tuy nhiên, chúng chỉ hấp dẫn đối với lý trí – quan sát bằng giác quan và suy luận lôgic – chứ không phải đức tin. Cũng có một loại thần học khác giả định trước về niềm tin tôn giáo. Đó là cuộc điều tra mang tính lý trí về nội dung của những điều mà người Ki-tô hữu tin rằng do Thiên Chúa mặc khải, về cơ bản, đó là Kinh Thánh và bản tóm tắt có thẩm quyền của Giáo Hội về nó, được thể hiện trong Kinh Tin Kính.

Cấu trúc năm phần trong các câu hỏi của Thánh Tô-ma

Tổng luận thần học chứa đựng cả hai loại thần học, nhưng chính cấu trúc của nó đã tạo ra sự phân biệt. Trong mỗi câu hỏi riêng lẻ mà Thánh Tô-ma gọi là đề mục, có một cấu trúc nội dung bao gồm năm phần.

Trước tiên, ngài trình bày câu hỏi dưới dạng một cuộc thảo luận có tính chất ủng hộ hay phản bác, với chỉ hai câu trả lời hợp lôgic có thể được đưa ra.

Kế đến, ngài liệt kê những quan điểm phản đối, vốn lập luận cho câu trả lời mà mình bác bỏ. Những sự phản đối này luôn được tóm tắt một cách công bằng, mạnh mẽ, rõ ràng và ngắn gọn.

Sau phần phản đối vừa nêu là hai phần mà ngài dùng để lập luận cho câu trả lời của mình. Phần đầu tiên được bắt đầu với trích dẫn từ một nhân vật có uy tín trong Giáo Hội, hoặc một cá nhân, hoặc từ Kinh Thánh. Và phần thứ hai, liền sau đó, là một lập luận hoàn toàn theo lý tính.

Phần cuối cùng trong cấu trúc này là câu trả lời của ngài dành cho mỗi phản đối, thường theo cách phân biệt hai ý nghĩa của cùng một thuật ngữ chính, để nhờ đó, người phản đối được chứng minh rằng họ có một phần đúng và một phần sai.

Đề mục đầu tiên của Tổng luận thần học có tựa đề: “Liệu ngoài triết học, có cần dạy thêm gì nữa không?” Và đây là lý do khiến Thánh Tô-ma nói “có”:

Điều cần thiết cho ơn cứu độ của con người là phải có một hiểu biết do Thiên Chúa mặc khải, bên cạnh khoa triết học được xây dựng bởi lý trí. Vì con người hướng về Thiên Chúa cũng giống như hướng về như một mục đích vượt quá tầm hiểu biết của lý trí. Nhưng mục đích, trước tiên, phải được biết đến bởi con người, vốn là những kẻ hướng tư tưởng và hành động của mình về phía đích. Do đó, điều cần thiết cho ơn cứu độ của con người là phải hiểu được một số chân lý, vốn vượt quá tầm hiểu biết của lý trí, nhờ vào sự mặc khải của Thiên Chúa.

(Nhưng) ngay cả khi lưu tâm đến những chân lý về Thiên Chúa mà lý trí con người có thể khám phá ra, thì con người cũng cần được dạy dỗ bởi một sự mặc khải của Người, bởi vì chân lý về Thiên Chúa, giả như lý trí có thể khám phá ra, cũng sẽ chỉ được hiểu rất ít, sau một thời gian dài và bị hòa trộn cùng với nhiều sai sót. Nhưng toàn bộ ơn cứu độ của con người phụ thuộc vào sự hiểu biết về chân lý này.

Đọc tới đây, có lẽ bạn sẽ tự hỏi rằng liệu Tổng luận thần học có thể được gọi là triết học, với ý nghĩa là một bộ môn khác biệt với thần học tôn giáo hay không, vì nó bắt đầu bằng cách nói về Thiên Chúa và ơn cứu độ. Câu trả lời là có, nhưng nó sử dụng triết học cho các mục đích thần học, bởi vì nó là Tổng luận thần học, không phải Tổng luận triết học.

Khi Thánh Tô-ma nói rằng đức tin và lý trí luôn luôn hòa hợp với nhau, ngài không có ý nói tới sự hòa hợp trong những hành vi chủ quan và thuộc về tâm lý học của việc tin tưởng và suy luận, nhưng là trong những chân lý khách quan mà chúng biết. Ngài đang so sánh hai nhóm mệnh đề: những mệnh đề có thể biết được bằng lý trí của con người mà không cần dựa vào sự mặc khải của Thiên Chúa và những mệnh đề chỉ có thể biết được nhờ đức tin. Vì vậy, câu hỏi của ngài ở phần đầu của Tổng luận thần học là hai loại mệnh đề này có thể liên quan với nhau như thế nào.

Bây giờ có năm câu trả lời khả thi cho câu hỏi về mối quan hệ giữa hai loại sự vật bất kỳ. Hãy nghĩ về hai vòng tròn A và B, chúng có thể nằm trong năm mối quan hệ như sau: A là một phần của B, hoặc B là một phần của A, hoặc chúng hoàn toàn riêng biệt, hoặc hoàn toàn giống hệt nhau, hoặc chồng chéo lên nhau. Thánh Tô-ma muốn chứng tỏ rằng chúng chồng chéo lên nhau, để từ đó, có một số chân lý chỉ được biết đến bởi đức tin (như Thiên Chúa Ba Ngôi), một số chân lý chỉ được biết đến bằng lý trí (như khoa học tự nhiên), và một số chân lý có thể được biết đến bởi cả đức tin và lý trí, như sự tồn tại của Thiên Chúa, sự tự do của ý chí và sự bất tử của linh hồn, đó là ba điều mà Kant gọi là ba định đề cơ bản của luân lý học.

Chúng ta vừa xem xét một trong hai câu hỏi chính về đức tin và lý trí, vốn là nền tảng trong tác phẩm của Thánh Tô-ma: lý trí có thể chứng minh được bao nhiêu phần trăm đức tin? Và câu trả lời của ngài là: Không phải tất cả, cũng không phải không, nhưng là một số. Câu hỏi thứ hai, và quan trọng hơn, là: Có khi nào xảy ra mâu thuẫn nào giữa hai điều này không? Đức tin và lý trí có hòa hợp cách tuyệt đối không? Nếu không, thì câu trả lời tốt nhất cho câu hỏi đầu tiên không phải là kết hôn hay chồng chéo, mà là ly hôn, hoặc ly thân. Và đó là câu trả lời mà hầu hết các triết gia hiện đại đưa ra. Vì vậy, vấn đề này cũng là vấn đề của triết học trung đại và hiện đại.

Triết học thời trung cổ tự coi mình như một người học việc hay một người nữ tỳ cho thần học. Trái lại, triết học hiện đại tự coi mình là độc lập. Nhưng trên thực tế, nó thường tập trung vào khoa học (đặc biệt là cái gọi là triết học phân tích), hoặc vào hệ tư tưởng chính trị (đặc biệt là chủ nghĩa hậu hiện đại).

Dưới đây là hai lập luận của Thánh Tô-ma cho xác tín nền tảng của ngài về đức tin và lý trí, rằng không có mệnh đề nào được biết đến bởi lý trí có thể mâu thuẫn với bất kỳ mệnh đề nào được biết đến bởi đức tin; nói cách khác, cuộc hôn nhân của đức tin và lý trí sẽ có sự tiến triển.

Trong cuốn Tổng luận chống lại các sai lầm của dân ngoại, ngài viết:

Chân lý mà lý trí con người được ban tặng để biết một cách tự nhiên không thể đối nghịch với chân lý của đức tin Ki-tô Giáo. Vì chân lý mà lý trí con người được ban tặng một cách tự nhiên rõ ràng là đúng nhất; đến nỗi chúng ta không thể nghĩ rằng chân lý như vậy là sai. [Ngài đang đề cập đến các tiên đề lôgic hay các mệnh đề hiển nhiên.] Cũng không thể tin là sai đối với chân lý mà đức tin của chúng ta nắm giữ, vì điều này được xác nhận là thuộc về Thiên Chúa một cách rõ ràng. [Nói cách khác, nếu bạn tin rằng đức tin Ki-tô Giáo do Thiên Chúa mặc khải, bạn phải tin điều đó là sự thật vì Thiên Chúa không nói dối. Sau đó, Thánh Tô-ma rút ra kết luận của mình.] Vì vậy, chỉ có cái sai mới đối lập với cái đúng, như đã thấy một cách hiển nhiên qua việc xem xét các định nghĩa của chúng, không thể nào có một chân lý của đức tin lại đối lập với những nguyên tắc mà lý trí con người biết đến một cách tự nhiên.

Quả là dễ hiểu: nếu điều gì lý trí nói với chúng ta là đúng và nếu điều gì đức tin Ki-tô Giáo nói với chúng ta là đúng, thì không bao giờ có thể có bất kỳ mâu thuẫn thực sự nào giữa hai điều này, vì không có chân lý nào có thể mâu thuẫn với một chân lý khác.

Điều đó có vẻ hiển nhiên. Nhưng điểm có thể gây tranh cãi ở đây đối với con người ngày nay là giả định của Thánh Tô-ma rằng tôn giáo không chỉ là một tập hợp các mệnh lệnh, hay lý tưởng về mặt luân lý, hay những gợi ý hữu ích và đầy hy vọng về mặt tâm lý, nhưng là một tập hợp của các mệnh đề khách quan như những mệnh đề của khoa học và lẽ thường, mặc dù chúng được biết đến bằng đức tin chứ không phải bằng phương pháp khoa học hay quan sát bằng giác quan. Và điều mà Thánh Tô-ma muốn nói tới khi dùng chữ “đức tin” không phải là một cái gì đó mang tính chủ quan và thuộc về tâm lý, nhưng chỉ đơn giản là chấp nhận bất cứ điều gì được Thiên Chúa cho biết là đúng qua sự mặc khải của Người. Và sự giả định ở đây là đức tin Ki-tô Giáo là một trong số những điều thuộc về một tập hợp các mệnh đề đúng một cách khách quan do Thiên Chúa mặc khải.

Lập luận thứ hai của Thánh Tô-ma cũng giả định rằng Ki-tô Giáo là đúng. Lập luận này cho rằng Thiên Chúa là thầy dạy cả về lý trí và đức tin, đồng thời, người thầy này không bao giờ mâu thuẫn với chính mình:

Điều mà người thầy đưa vào tâm hồn học trò được chứa đựng trong kiến ​​thức của người ấy — trừ khi lời dạy của ông là hư cấu, điều không đúng khi nói về Thiên Chúa. Giờ đây, sự hiểu biết về các nguyên tắc mà chúng ta biết đến một cách tự nhiên đã được Thiên Chúa ghi khắc nơi mỗi người, vì Người chính là Tác Giả của bản tính chúng ta. Những nguyên tắc này, vì thế, cũng được chứa đựng bởi sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Do đó, bất cứ điều gì chống lại chúng đều đối nghịch với Đức Khôn Ngoan, và vì thế, không thể đến từ Thiên Chúa. Vậy, những nguyên tắc mà chúng ta nắm giữ bởi đức tin như đã được Thiên Chúa mặc khải, vì thế, không thể trái với tri ​​thức tự nhiên của chúng ta.

Và ngay cả những người nối gót Thánh Tô-ma cho đến nay thường sẽ chùn chân trước bước đi tiếp theo của ngài, cho dù nó là hệ quả lôgic trực tiếp của các lập luận trước đó:

Từ điều này, một cách hiển nhiên, chúng ta rút ra kết luận sau đây: bất kỳ lập luận nào được đưa ra nhằm chống lại các giáo lý của đức tin đều là những kết luận không chính xác, điều này có thể được suy ra từ các nguyên tắc cơ bản và hiển nhiên… Việc chứng minh những lập luận như thế không có sức thuyết phục, chúng chỉ là hoặc có thể xảy ra, hoặc ngụy biện. Và vì vậy, tồn tại khả năng [để chúng ta] đáp lại chúng.

Nói cách khác, mọi lập luận chống lại bất kỳ giáo lý nào của Ki-tô Giáo đều có trong nó một sai lầm lý tính ở đâu đó, và vì thế, chúng có thể được giải đáp chỉ bằng lý trí mà không cần đến đức tin.

Thánh Tô-ma không tuyên bố rằng mọi giáo lý Ki-tô Giáo đều có thể được chứng minh bằng lý trí, chỉ là không có điều nào trong số đó có thể bị bác bỏ. Ngài cũng không tuyên bố rằng có bất kỳ nhân vật cụ thể nào đủ trí tuệ sành sỏi để bác bỏ nó, nhưng chỉ là trong lập luận họ đưa ra có một số sai lầm mà ai đó có thể phát hiện ra.

Có một điểm quan trọng trên phương diện lịch sử về cuộc hôn nhân hạnh phúc của đức tin và lý trí. Một lý do mạnh mẽ khiến các Ki-tô hữu, giống như những người Do-thái trước họ, có quan hệ gần gũi với thần học và triết học, đức tin và lý trí. Đó là học thuyết tôn giáo cho rằng Thiên Chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh Người và một phần của hình ảnh đó chính là tính hợp lý. Hãy nhớ rằng các tôn giáo Phương Đông không có khái niệm về một Thiên Chúa có ngôi vị đã tạo ra con người theo hình ảnh của chính Người với lý trí như một công cụ do Thiên Chúa sáng tạo nhằm tìm ra chân lý khách quan.

Hệ quả thực tiễn và cá vị nhất từ quan điểm của Thánh Tô-ma về đức tin và lý trí là nó mang lại cho các tín hữu sự toàn vẹn và thống nhất về mặt lý trí. Tư tưởng của họ có thể nên một với lời cầu nguyện.

Thánh Bônaventura, người bạn cùng thời với Thánh Tô-ma, đã phàn nàn rằng việc ngài sử dụng Aristotle đã làm loãng rượu Tin Mừng bằng nước của triết học ngoại giáo. Thánh Tô-ma trả lời: “Không, tôi đang biến nước thành rượu đấy chứ.” Đối với ngài, tất cả lý trí đều là đồng minh của đức tin, vì tất cả chân lý đều là chân lý của Thiên Chúa.


Câu hỏi

  1. “Sách lược trọng yếu” trong nghiệp tác giả của Thánh Tô-ma là gì?
  2. Tại sao Thánh Tô-ma đưa ra quan điểm rằng lý trí không thể mâu thuẫn với đức tin Ki-tô Giáo?

Sách đề xuất

  • Kreeft, Peter, ed. — Summa of the Summa. San Francisco: Ignatius Press, 1990.

Sách khác

  • Gilson, Etienne. — Reason and Revelation in the Middle Ages. New York: Charles Scribner’s Sons, 2000 (1938).