Triết học của Thánh Tô-ma A-qui-nô – Triết gia Peter Kreeft

Bài 3. Bạn có thể chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa không?

“Năm cách thức” (hay “Ngũ đạo”) của Thánh Tô-ma là lập luận nổi tiếng nhất trong tất cả các lập luận về sự tồn tại của Thiên Chúa. Ngài gọi chúng là “những cách thức” chứ không phải là “những bằng chứng” vì hai lý do: thứ nhất, vì mục đích cuối cùng của chúng không phải chỉ để có một lập luận hợp lôgic, nhưng để trở thành một cách thức thật trong việc đưa những con người thật đến hiểu biết về Thiên Chúa thật. Thứ hai, bởi vì các phiên bản trong Tổng luận thần học chỉ là bản tóm tắt của các lập luận dài hơn nhiều. Thánh Tô-ma nói rằng nó được viết cho những người mới học. Vì thế, lấy ví dụ, cách thức đầu tiên trong số năm cách thức của ngài sẽ chỉ chiếm một đoạn ở đây, trong khi nó chiếm tới 21 đoạn trong Tổng luận chống lại các sai lầm của dân ngoại.

Sự khác biệt mà nó tạo ra để tin rằng Thiên Chúa tồn tại, và để chứng mình sự tồn tại đó là gì? Câu hỏi đầu tiên rất dễ trả lời. Chỉ cần hỏi những người vô thần. Hãy hỏi hai người vô thần nổi tiếng và xuất sắc nhất trong triết học, Nietzsche và Sartre. Đây là sự khác biệt của nó so với Nietzsche trong vấn đề liệu Chúa có tồn tại hay không, trích từ phát biểu của kẻ điên trong cuốn The Joyful Wisdom (Khôn ngoan mang lại niềm vui):

Thiên Chúa ở đâu? Tôi sẽ nói cho anh biết. Chúng ta sẽ giết ông ta, tôi và anh… Nhưng chúng ta làm sao cho xong việc này? Chúng ta làm sao để uống cạn nước biển? Ai đã cho chúng ta miếng bọt biển để lau sạch cả chân trời? Chúng ta đã làm gì khi tự tay tách trái đất khỏi mặt trời của nó? Liệu nó có đang di chuyển? Tất cả chúng ta có đang di chuyển? Rời xa tất cả mặt trời? Có phải chúng ta đang không ngừng nhào xuống? Hay lùi lại, sang ngang, tiến lên, hay rẽ theo mọi hướng? Có bất kỳ chuyển động lên xuống nào về bên trái hay không? Chúng ta có không bị lạc như đi qua một vùng hư vô không giới hạn? Có phải chúng ta không cảm nhận được hơi thở của khoảng không? Nó đã không trở nên lạnh hơn? Không phải là đêm này rồi đêm khác không ngừng nối tiếp?… Ai sẽ lau khô máu này cho chúng ta? Ở đó có nước gì cho chúng ta tự tẩy rửa? Chẳng phải sự vĩ đại của hành động này quá vĩ đại đối với chúng ta sao? Bản thân chúng ta có phải trở thành thần thánh đơn giản là để có vẻ xứng đáng với nó?

Và đây là sự khác biệt nó tạo ra đối với Sartre:

Thiên Chúa không tồn tại và chúng ta phải đối mặt với mọi hậu quả của việc này. Những người theo chủ nghĩa hiện sinh phản đối mạnh mẽ một loại đạo đức thế tục nào đó muốn loại bỏ Thiên Chúa với chi phí thấp nhất có thể… một thứ gì đó như thế này: Thiên Chúa là một giả thuyết vô dụng và tốn kém; chúng ta đang loại bỏ nó, nhưng trong khi đó, để có một nền đạo đức, một xã hội, một nền văn minh, thì điều cần thiết là các giá trị nhất định phải được coi trọng và được xác định là tồn tại tiên nghiệm. Điều tiên quyết là bắt buộc phải trung thực, không nói dối, không đánh vợ, phải sinh con cái, v.v. Vì vậy, chúng ta dự định thử nghiệm một kế sách nhỏ để cho thấy các giá trị đều tồn tại như nhau và được khắc ghi trong một thiên đường của những ý tưởng, mặc dù… Thiên Chúa không tồn tại…

Ngược lại, những người theo chủ nghĩa hiện sinh cho rằng thật là đau khổ khi Chúa không tồn tại, bởi vì mọi khả năng tìm kiếm giá trị trong thiên đường ý tưởng đều biến mất cùng với ông ta; không còn có thể là một điều tốt đẹp tiên nghiệm nếu không có ý thức vô hạn và hoàn hảo để nghĩ về nó… Dostoyevski nói: “Nếu Thiên Chúa không tồn tại, thì cái gì cũng có thể chấp nhận được.” Đó là điểm xuất phát của chủ nghĩa hiện sinh. Thật vậy, mọi thứ đều có thể chấp nhận được nếu Thiên Chúa không tồn tại, và kết quả là con người sẽ không còn hy vọng, bởi vì có ở trong ông ta hay không có ông ta, thì con người cũng chẳng tìm thấy bất cứ điều gì để bám víu.

Nhưng có một phần hiện sinh, cá vị, hay điểm thực dụng trong việc chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa đối với Thánh Tô-ma, hơn là đối với chúng ta. Điểm trọng tâm trong những lập luận của ngài, đối với bản thân, là một sự biện minh của lý trí hơn là sự biện minh của Thiên Chúa. Chúng cho thấy rằng ở câu hỏi chính về sự tồn tại của Thiên Chúa, đức tin và lý trí đã hội tụ.

Những lập luận cho sự tồn tại của Thiên Chúa được chia làm ba loại. Năm cách thức của Thánh Tô-ma là các lập luận vũ trụ học vì chúng bắt đầu với sự quan sát bằng giác quan về một số đặc điểm của vũ trụ và vạn vật.

Loại lập luận thứ hai bắt đầu với những tiền đề từ kinh nghiệm nội tại của chính chúng ta: ví dụ, kinh nghiệm tôn giáo — làm sao bạn có thể giải thích đầy đủ về kinh nghiệm tôn giáo mà không có Thiên Chúa khơi gợi? Hoặc lập luận từ kinh nghiệm luân lý — làm sao có thể có một tránh nhiệm luân lý tuyệt đối nếu chỉ có những hữu thể tương đối, dễ sai lầm? Hoặc lập luận từ “những tâm hồn khắc khoải”, từ trải nghiệm về mong muốn đối với một thứ gì đó hơn chúng ta, hay hơn những gì có trong vạn vật: làm sao có thể có mong muốn tự nhiên đối với một đối tượng không tồn tại? Hoặc lập luận hiện sinh: không có Thiên Chúa, cuộc đời không có cùng đích, trọng tâm, mục đích và hy vọng.

Loại lập luận thứ ba bắt đầu đơn giản với định nghĩa “Thiên Chúa”. Nhóm lập luận này chỉ có một thành viên: “lập luận bản thể” của Thánh Anselmô, nhưng đã bị Thánh Tô-ma bác bỏ.

Tất cả năm cách thức của Thánh Tô-ma đều có cấu trúc logic giống nhau. Chúng bắt đầu với quan sát thực nghiệm về năm đặc điểm trong vũ trụ: dịch chuyển (motion), nhân quả (causality), bất tất (không phải tất yếu – contingency), bất toàn (imperfection) và trật tự (order). Chúng giả định nguyên tắc logic rằng chỉ có hai cách giải thích có thể được đưa ra về dữ kiện này: hoặc có, hoặc không có Nguyên Nhân Đầu Tiên không được tạo ra (uncaused First Cause). Sau đó, chúng lập luận rằng một trong hai cách giải thích này không giải thích được dữ kiện: nếu không có Nguyên Nhân Đầu Tiên không được tạo ra, thì không thể có nguyên nhân thứ hai được tạo ra. Từ đó, kết luận được đưa ra là: có Nguyên Nhân Đầu Tiên.

Sau đó, chỉ sau khi hoàn tất việc chứng mình, Thánh Tô-ma mới đề cập đến từ “Thiên Chúa” bằng cách nói thêm rằng “đây là cái mà mọi người gọi là “Thiên Chúa”.” Nói cách khác, ngài tuyên bố rằng mình chỉ chứng minh sự tồn tại của một thực thể nào đó với ít nhất một số thuộc tính mà Ki-tô hữu tin rằng Thiên Chúa có. Tới lượt mình, những thuộc tính đó tuyên bố rằng chúng chỉ chứng minh một lát mỏng của Chúa, có thể nói như vậy, nhưng đủ để bác bỏ chủ nghĩa vô thần.

Bằng Chứng Đầu Tiên

Bằng chứng đầu tiên cũng là bằng chứng dài nhất, và Thánh Tô-ma gọi nó là “rõ ràng nhất” chỉ vì dữ kiện của nó rõ ràng nhất, rằng các sự vật biến đổi. Đối với điều này, ngài dùng từ “dịch chuyển” (motion), nghĩa là không chỉ riêng chuyển động trong không gian (movement) mà thôi, nhưng là mọi loại biến đổi.

Thật là chắc chắn và hiển nhiên đối với các giác quan của chúng ta rằng một số thứ trong vũ trụ (world) nằm trong sự dịch chuyển. Bây giờ bất cứ thứ gì nằm trong sự dịch chuyển đều được đưa vào đó bởi một thứ khác. Vì sự dịch chuyển không có gì khác hơn là việc giảm bớt một thứ gì đó từ tiềm năng thành hiện thực, và không thứ gì có thể giảm từ tiềm năng thành hiện thực nếu không bởi một thứ gì đó ở trạng thái hiện thực. Vì vậy, thứ thực sự nóng, chẳng hạn như lửa, làm cho gỗ, có tiềm năng nóng, trở nên thực sự nóng, và vì thế, dịch chuyển nó. Vì vậy, bất cứ thứ gì đang dịch chuyển phải được dịch chuyển bởi một thứ khác.

Bây giờ, giả sử một thứ tự đưa mình vào dịch chuyển cũng [nhất thiết phải] được đưa vào dịch chuyển bởi một thứ khác (gọi là động cơ) – một thứ cũng lại được đưa vào dịch chuyển bởi một động cơ khác. Thì chắc chắn cơ chế này không thể tiếp tục [hồi quy] như vậy cho tới vô cùng được, vì sẽ không có động cơ đầu tiên [hay động cơ đệ nhất] (không được dịch chuyển), và tất nhiên, cũng không có động cơ nào khác nữa, bởi chúng không có động cơ đầu tiên, giống như cái ba toong không thể tự di chuyển nếu không được tay người tác động vậy.

Do đó, phải cần đến một động cơ đầu tiên tự mình dịch chuyển chứ không bởi một động cơ nào khác.

Và ai cũng hiểu đó là Chúa.

Vậy tại sao động cơ đầu tiên không thể là vạn vật tự nó? Thưa: vì nếu không thứ gì có thể tự dịch chuyển, thì cả chuỗi sự vật đang dịch chuyển mà chúng ta gọi là vạn vật, cũng không thể. Vạn vật giống như một chuỗi quân cờ đôminô vô cùng lớn và phức tạp. Bất kể chuỗi dài bao nhiêu, nếu không có ngón tay đẩy quân cờ đầu tiên đi, thì cũng chẳng có quân cờ nào bị đổ.

Điều này là đúng cho dù nguyên nhân có trước kết quả hay không, cho dù nhân quả giống như một quả bi-a đẩy được những quả khác hay một viên bi sắt trong ổ trục. Vì vậy, bằng chứng này không phụ thuộc vào việc vạn vật có điểm khởi đầu về thời gian hay không.

Trên thực tế, Thánh Tô-ma nói rằng Thiên Chúa không nằm trong (bị giới hạn bởi) thời gian, và vì thế, hành vi của Ngài nhằm tạo ra sự tồn tại của các sự vật là hiện tại chứ không chỉ là quá khứ. Thánh Tô-ma không phải là một tín đồ của tôn giáo lý tính (Deist). Thiên Chúa của ngài sống động và hiện hữu, chứ không phải một Đấng đã chết trong thì quá khứ.

Nguyên tắc đằng sau lập luận này là cái mà các triết gia gọi là Nguyên tắc lý do đầy đủ (hay lý tính toàn túc – Principle of Sufficient Reason), rằng không có điều gì xảy ra mà không có lý do. Không có thứ gì tồn tại một cách đột nhiên, bất thình lình.

Vì vậy, nếu mọi thứ đều cần một lý do đầy đủ, thì năm đặc điểm này của vũ trụ (universe) — dịch chuyển, nhân quả, bất tất, bất toàn và trật tự — cũng cần một lý do đầy đủ. Chúng tồn tại, nhưng chúng không chỉ tồn tại, chúng có lý, có lý do đầy đủ.

Bằng Chứng Thứ Hai

Thánh Tô-ma áp dụng nguyên tắc lý do đầy đủ vừa nêu cho sự biến đổi trong vũ trụ (universe) đối với bằng chứng đầu tiên của ngài và cho chính sự tồn tại của vũ trụ (universe) trong bằng chứng thứ hai, khi nói về những nguyên nhân hữu hiệu (nguyên nhân thành sự) hay những nguyên nhân của sự tồn tại:

Trong thế giới của tri giác, chúng ta thấy có một trật tự của các nguyên nhân hữu hiệu. Không có trường hợp nào từng được biết đến, hoặc có thể xảy ra, mà trong đó, một sự vật được xác định là nguyên nhân hữu hiệu của chính mình; vì nếu vậy, nó sẽ có trước chính mình – điều này là không thể.

Bây giờ, trong số những nguyên nhân hữu hiệu nằm trong trật tự, nguyên nhân đầu tiên là nguyên nhân của nguyên nhân trung gian, và nguyên nhân trung gian là nguyên nhân của nguyên nhân cùng đích, cho dù nguyên nhân trung gian có nhiều hay chỉ một. Bây giờ, lấy đi nguyên nhân là lấy đi hiệu quả. Vì thế, nếu không có nguyên nhân đầu tiên trong số các nguyên nhân hữu hiệu thì sẽ không có nguyên nhân cùng đích hoặc nguyên nhân trung gian nào. Nhưng nếu số các nguyên nhân hữu hiệu có thể tiến tới vô hạn, thì sẽ không có nguyên nhân hữu hiệu đầu tiên, hoặc sẽ không có hiệu quả cuối cùng, và cũng không có nguyên nhân hữu hiệu trung gian nào cả; tất cả đều là sai. Do đó, cần phải thừa nhận một nguyên nhân hữu hiệu đầu tiên, mà mọi người đều đặt tên là Chúa.

Bằng chứng này khác với bằng chứng đầu tiên ở chỗ nó nói về nguyên nhân của sự tồn tại chứ không chỉ nguyên nhân của sự biến đổi. Nó không bao gồm phân tích về sự biến đổi tiềm năng thành hiện thực, và vì thế, ngắn hơn.

Về mặt trực quan, nó thực sự rất đơn giản. Giả sử tôi kể với bạn rằng có một cuốn sách mà bạn muốn, cuốn sách đó giải thích tất cả mọi thứ.

Bạn hỏi tôi: “Anh sẽ đưa nó cho tôi chứ?”

Tôi nói: “Được, nhưng tôi phải mượn bạn tôi đã.”

Bạn hỏi tiếp: “Anh ta có nó không?”

“Không, anh ấy phải mượn từ thư viện.”

“Thư viện có nó không?”

“Không, họ phải mượn nó từ người khác.”

“Vậy ai có nó?”

“Thực ra chẳng ai có, ai cũng đi mượn.”

Và như vậy thì bạn sẽ không bao giờ nhận được nó, giống như bất cứ người nào khác.

Bây giờ hãy tưởng tượng rằng cuốn sách đó là sự tồn tại. Các con tôi có nó. Chúng nhận nó từ tôi. Tôi nhận nó từ cha mẹ tôi. Nếu bản chất không ai có nó và không phải nhận nó từ người khác, hay nói cách khác, nếu không có nguyên nhân đầu tiên không được tạo ra của sự tồn tại, thì nó không thể được truyền lại và sẽ không ai có được nó. Vì thế, phải có ai đó có nó. Và hữu thể có thể ban sự tồn tại như đã sở hữu nó trong bản chất thiết yếu mình được gọi là Thiên Chúa.

Bằng Chứng Thứ Ba

Bằng chứng này khó hơn một chút:

Trong tự nhiên, chúng ta thấy có những thứ có thể tồn tại hoặc không tồn tại, vì chúng được thấy là xuất hiện hoặc biến mất khỏi sự tồn tại… Nhưng không thể có bất kỳ hữu thể nào trong số này luôn luôn tồn tại, và cũng không thể có bất cứ thứ gì có khả năng không tồn tại, rồi đôi lúc lại không có khả năng đó… Vì vậy, nếu mọi thứ có khả năng không tồn tại, thì tại một thời điểm, có thể không có bất cứ thứ gì tồn tại. Nhưng nếu điều này là đúng, thì bây giờ sẽ không có bất cứ thứ gì tồn tại, bởi lẽ cái không tồn tại không thể bắt đầu tồn tại ngoại trừ cái gì đó đã tồn tại. Do đó, nếu tại một thời điểm không có gì tồn tại, thì sẽ không thể có bất kỳ thứ gì bắt đầu tồn tại, và do đó, ngay cả bây giờ cũng không có thứ gì tồn tại— điều này là vô lý. Vì vậy, không phải tất cả mọi hữu thể đều chỉ đơn thuần là có khả có thể tồn tại, nhưng phải tồn tại một thứ gì đó mà sự tồn tại của nó là tất yếu.

Và đây là một thuộc tính khác của Thiên Chúa: hữu thể tất yếu, hữu thể vĩnh cửu, hữu thể không bao giờ mất đi sự tồn tại của mình.

Thánh Tô-ma một lần nữa bắt đầu bằng cách quan sát một đặc điểm của vạn vật: mọi thứ trong đó đều có ngày chấm dứt, mọi hữu thể đều có thể ngừng tồn tại. Nếu không có Thiên Chúa, thì việc mọi thứ ngừng tồn tại chỉ là vấn đề thời gian. Thánh Tô-ma không nói rõ điểm này, nhưng tôi nghĩ ngài ngụ ý rằng nếu không có Chúa, thì vạn vật chắc chắn không có ngày chào đời, vì không có Đấng Sáng Tạo dựng nên nó. Nhưng nếu nó không có lúc khởi đầu và có nhiều thời gian đến mức vô hạn, thì đã có đủ thời gian để mọi khả năng trở thành thực hữu. Và một trong số những khả năng đó là sự chết của mọi sự. Và một khi vạn vật chết đi, nó không thể tái khởi động, vì không có gì là không có nguyên nhân.

Bạn có thể nghĩ đến nguyên lý thứ hai của nhiệt động lực học, nguyên lý entropy, như một phép loại suy ở đây. Tất cả các dạng năng lượng có xu hướng chảy từ nơi có nồng độ cao hơn xuống nơi có nồng độ thấp hơn, để tiêu tán. Cuối cùng, vạn vật sẽ là một khối đồng nhất mà trong đó không có gì xảy ra. Lý do duy nhất khiến điều này chưa xảy ra là chưa có đủ thời gian; vạn vật mới chỉ khoảng mười bốn tỷ năm tuổi. Tất nhiên, Thánh Tô-ma không biết về thuyết Big Bang. Hay đúng hơn là ngài đã sử dụng, mặc dù không biết rằng điều đó có thể chứng minh được về mặt khoa học. Ngài gọi đó là sự sáng tạo ra vạn vật. Bạn có thể xem bằng chứng thứ ba của Tô-ma là một sự song song của triết học với vũ trụ luận theo thuyết Big Bang của khoa học và entropy.

Vì Thánh Tô-ma đã phát biểu nó thành công thức, lập luận này có ít nhất một tiền đề đáng ngờ, rằng “không thể có bất cứ thứ gì có khả năng không tồn tại, rồi đôi lúc lại không có khả năng đó”, rằng nếu có đủ thời gian, mọi khả năng đều có thể trở thành thực hữu. Tôi nghĩ nhiều nhà vật lý hiện đại sẽ thắc mắc điều này.

Bằng Chứng Thứ Tư

Cách thức thứ tư được lấy từ sự phân cấp được tìm thấy trong mọi sự. Trong số các hữu thể, có một số hơn và một số kém [theo tiêu chí] về tốt đẹp, chân thật, cao quý, và những điều tương tự như vậy. Nhưng cái “hơn” và “kém” khi nói về những thứ khác nhau được xác định bằng cách đối chiếu chúng -theo những cách thức khác nhau- với một cái gì đó được coi là cực điểm… vì thế, có một cái gì đó chân thật nhất, cái gì đó tốt đẹp nhất, cái gì đó cao quý nhất, do đó, là hữu thể tối thượng… Và chúng ta gọi đó là Chúa.

Cách thức thứ tư này cũng có một tiền đề đáng ngờ, mặc dù không phải bởi khoa học mà bởi một số nhánh của triết học hiện đại. Đó là quan niệm về giá trị khách quan, rằng một số thứ thực sự tốt hơn những thứ khác. Mọi xã hội và triết gia tiền hiện đại trong lịch sử, ngoại trừ những nhà ngụy biện và những người theo chủ nghĩa hoài nghi, đều chấp nhận tiền đề này. Ngày nay, hầu hết giới trí thức của Châu Âu và Bắc Mỹ nghi ngờ nó. Vì vậy, đây là một lập luận mà sức hấp dẫn của nó sẽ còn đặt ra nhiều nghi vấn trong thời đại và văn hóa của chúng ta.

Nhưng hầu hết chúng ta vẫn sắp xếp các sự vật theo cấp bậc. Chúng ta không nghĩ rằng hoa mào gà, hay con gà, ngang hàng với con người. Nếu phán đoán về mặt giá trị này chỉ là sự thể hiện cảm nhận của bản thân, thì chúng ta không thể áp dụng lập luận như vậy sang bất cứ điều gì khác về thực tại khách quan được. Nhưng nếu hệ thống phân cấp này là đúng, nếu con người thực sự trổi vượt hơn các loài thực vật, thì cách thức thứ tư của Thánh Tô-ma có thể đi vào hoạt động.

Sau cùng, chúng ta có thể tóm gọn lập luận này theo một cách rất đơn giản: khi nói một thứ tốt hơn thứ khác, sự “tốt hơn” đó giả định trước một sự “tốt nhất”, và “tốt nhất” là một từ khác dùng để chỉ Thiên Chúa.

Bằng Chứng Thứ Năm

Đây có lẽ là cách thức phổ biến hơn cả. Nó lập luận từ việc thiết kế cho tới Nhà thiết kế:

Cách thức thứ năm được lấy từ sự cai quản vạn vật. Chúng ta thấy những thứ thiếu trí thông minh, chẳng hạn như các thân xác tự nhiên, hành động cho mục đích cuối cùng và điều này được thể hiện rõ qua hành động của chúng, khi luôn luôn (hoặc gần như luôn luôn) theo cùng một cách để đạt được kết quả tốt nhất. Vì vậy, rõ ràng là không phải ngẫu nhiên, nhưng nhờ thiết kế mà chúng đạt tới mục đích cuối cùng. Bây giờ, bất cứ thứ gì thiếu trí thông minh đều không thể đi tới cùng đích trừ khi nó được hướng dẫn bởi một hữu thể nào đó được phú bẩm trí thông minh và sự hiểu biết, giống như mũi tên được phong tới mục tiêu bởi cung thủ. Vì vậy, một số hữu thể có trí thông minh tồn tại là nhờ vào một Đấng mà mọi sự vật tự nhiên đều hướng về đó làm cùng đích của chúng; và chúng ta gọi đó là Chúa.

Sử dụng hình ảnh của Thánh Tô-ma, vạn vật giống như tập hợp của một lượng lớn các mũi tên. Chúng không di chuyển ngẫu nhiên, nhưng nhắm đến các mục tiêu thích hợp. Bê lớn thành bò, và bò sinh ra bê. Vạn vật giống một cuốn sách hơn là một vụ nổ trong xưởng in. Và nếu có một cuốn sách, thì phải có một tác giả.

Càng tìm thấy nhiều thiết kế, bạn càng ít có khả năng giải thích thứ gì đó giống như một sự tình cờ. Lấy ví dụ, nếu bạn tìm thấy một chữ “S” gọn gàng trên bờ cát, bạn nghĩ rằng nó có thể được viết bởi ngón tay người, nhưng nó cũng có thể được tạo ra một cách tình cờ bởi gió và sóng. Nếu bạn thấy chữ “SOS”, nhiều khả năng đó là một thiết kế có trí thông minh hơn là một sự tình cờ. Và nếu bạn nhìn thấy toàn bộ bản văn trang đầu tiên của vở kịch Hamlet được viết trên cát, bạn biết rằng có một trí tuệ đã ở đó.

Hay là bạn nghĩ thế này. Ai đó — tôi nghĩ là Bertrand Russell — đã nói rằng một triệu con khỉ soạn trên một triệu máy đánh chữ trong một triệu năm sẽ tình cờ gõ ra trang đầu tiên của Hamlet. Có lẽ vậy, nhưng không ai định nghĩa Hamlet theo cách đó cả. Lý do duy nhất họ giải thích vạn vật theo cách đó là để tránh né Thiên Chúa. (Trên thực tế, một nhà toán học đã tìm ra nó và sửa lỗi cho Russell: sẽ mất một nghìn tỷ năm để một nghìn tỷ con khỉ tình cờ gõ ra thậm chí chỉ là đoạn đầu tiên của Hamlet.)

Lập luận từ thiết kế vũ trụ có trật tự trên thực tế đã thuyết phục được nhiều nhà khoa học sành sỏi như Einstein và các triết gia như Antony Flew, một người đã từng vô thần. Giống như bốn lập luận khác, kết luận của nó không vượt xa chủ nghĩa tự nhiên thần luận (deism), nhưng đủ để bác chủ nghĩa vô thần.

Những người được gọi là các lý thuyết gia theo quan điểm “Minh Định” (hay “thiết kế thông minh” – “Intelligent Design”) ngày nay tuyên bố rằng khoa học có thể chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa từ các ví dụ về thiết kế thông minh, chẳng hạn, “sự phức tạp không thể giải thích” trong cấu trúc của các sinh vật bậc thấp. Tôi nghĩ Thánh Tô-ma sẽ không đồng ý với tuyên bố này. Bằng chứng thứ năm của ngài là một bằng chứng triết học, không phải một bằng chứng khoa học. Khái niệm về thiết kế thông minh cũng không phải là điều gì đó chỉ đơn thuần có tính thực nghiệm hay có thể định lượng, vì thế nó không hoàn toàn mang tính khoa học, nhưng là triết học, là lẽ thường.

Ví dụ mạnh mẽ nhất về thiết kế trong vạn vật là bộ não con người, chính công cụ mà chúng ta nhận ra thiết kế và dựa vào đó để lập luận. Bộ não thì hơn chứ không kém một máy tính. Bây giờ, nếu một máy tính được lập trình cách tình cờ, bạn sẽ không tin tưởng nó. Vậy tại sao bạn tin tưởng vào bộ não của mình khi dùng nó để làm khoa học, hay lập luận triết học? Tại sao bạn tin tưởng những lập luận của mình về chủ nghĩa vô thần nếu bạn tin rằng chiếc máy tính bạn đang sử dụng để tranh luận chẳng qua là kết quả tình cờ của việc những phân tử hóa học mù và câm va vào nhau? Làm sao trí thông minh vốn hiểu được toàn bộ vũ trụ vật chất (material universe) lại có thể chỉ đơn thuần được tạo ra bởi vật chất vô tri? Làm sao cái hơn có thể đến từ cái kém? Điều này vi phạm nguyên tắc khoa học cơ bản về quan hệ nhân quả.

Bạn nói rằng bộ não con người đã xuất hiện trong vũ trụ (universe) bởi quá trình tiến hóa. Vâng, và tôi nghĩ Thánh Tô-ma sẽ nói rằng sự tiến hóa là một ví dụ tuyệt vời về thiết kế vũ trụ có trật tự, là bằng chứng cho sự tồn tại của Thiên Chúa. Ngài sẽ nói rằng mũi tên của sự tiến hóa chỉ bay đến mục tiêu là bộ não con người bởi vì nó được dẫn đường bởi trí thông minh của một cung thủ thần thiêng. Thánh Tô-ma sẽ không nằm trong số những người theo trào lưu chính thống chống học thuyết Darwin ngày nay. Tôi nghĩ nếu nhìn thấy tầm biển vô thần với tên của Darwin được lồng trong biểu tượng con cá của Ki-tô Giáo, ngài sẽ không hiểu ý nghĩa mỉa mai của nó, nhưng sẽ diễn giải nó như một lập luận của chủ nghĩa hữu thần.


Câu hỏi

  1. Lý lẽ đằng sau khẳng định của Dostoyevski rằng “nếu Thiên Chúa không tồn tại, thì cái gì cũng có thể chấp nhận được” là gì?
  2. Tại sao động cơ đầu tiên không thể là vạn vật tự nó?

Sách đề xuất

  • Kreeft, Peter, ed. — Summa of the Summa. San Francisco: Ignatius Press, 1990.

Sách khác

  • Moreland, James Porter, and Kai Nielsen. — Does God Exist?: The Debate Between Theists and Atheists. Ed. Peter Kreeft. Amherst, NY: Prometheus Books, 1993.

Sách Audio

  • Flew, Antony. — There Is a God. Prince Frederick, MD: Recorded Books, LLC, 2008. 5 CDs/5.75 hours.