Triết học của Thánh Tô-ma A-qui-nô

Bài 4: Quan điểm chống lại Thiên Chúa và các bằng chứng của Thánh Tô-ma

Thánh Tô-ma luôn cố gắng tìm ra ít nhất ba quan điểm phản đối cho mọi luận điểm của mình. Nhưng ngài chỉ có thể tìm thấy hai lập luận duy nhất chống lại sự tồn tại của Thiên Chúa trong suốt lịch sử triết học, đó là sự dữ và khoa học.

Trong hai điều này, chỉ có sự dữ là thực sự muốn chứng minh Chúa không tồn tại, trong khi khoa học chỉ cố gắng chứng minh rằng nó có thể giải thích mọi sự mà không cần đến Người, vì vậy, Chúa là một giả thuyết không cần thiết.

Thánh Tô-ma đã nêu ra vấn đề sự dữ một cách rất ngắn gọn:

Có vẻ như Chúa không tồn tại, bởi vì nếu một trong hai điều tương phản là vô hạn, thì điều còn lại sẽ hoàn toàn bị triệt tiêu. Nhưng từ “Thiên Chúa” có nghĩa rằng Người là Đấng tốt lành vô hạn. Do đó, nếu Chúa tồn tại, sẽ không thể tìm ra sự dữ nào; nhưng trên thế gian có sự dữ. Vì thế, Chúa không tồn tại.

Đây là lập luận mạnh mẽ vì nó dựa trên cơ sở thực tế và sự quan sát vạn vật – cũng là căn nguyên cho năm lập luận mạnh mẽ của Thánh Tô-ma.

Lành-dữ (thiện-ác) là tương phản, không phải là mâu thuẫn. Những đặc tính đối lập là tương phản; những mệnh đề loại trừ lẫn nhau là mâu thuẫn. Nhưng những đặc tính đối lập không phải lúc nào cũng loại trừ lẫn nhau. Vậy điều gì làm cho sự dữ trên thế gian mâu thuẫn với Thiên Chúa? Câu trả lời ở đây là lời tuyên bố rằng Thiên Chúa là Đấng tốt lành vô hạn. Nếu có sự lành vô hạn, dường như không thể có chỗ cho sự dữ.

Câu trả lời của Thánh Tô-ma cho phản đối này, về cơ bản, là việc sự dữ tồn tại trong thế gian hoàn toàn phù hợp về mặt logic với một Thiên Chúa tốt lành, khôn ngoan và quyền năng vô hạn:

Như Thánh Augustinô đã nói: ‘Vì Thiên Chúa là Đấng chí thiện, nên Người sẽ không cho phép bất kỳ sự dữ nào tồn tại trong các công trình của mình trừ khi sự toàn năng và tốt lành của Người có thể mang lại điều lành ngay cả từ sự dữ.’ Đó là một phần trong sự tốt lành vô hạn của Thiên Chúa, rằng Người sẽ cho phép sự dữ tồn tại để từ đó, sinh ra điều lành.

Lưu ý rằng câu trả lời của Thánh Tô-ma không phải là một công thức logic vượt thời gian mà là một câu chuyện, một cách giải thích dữ kiện sự dữ trong vạn vật bằng giả thuyết về Thiên Chúa, rằng Người là Đấng khôn ngoan xét thấy việc cho phép những sự dữ thể lý xảy ra trong tự nhiên sẽ dẫn đến một thế giới tốt đẹp hơn, và việc cho phép những sự dữ luân lý xảy ra trong đời sống con người, bằng cách tạo ra con người với ý chí tự do, sẽ dẫn đến một lịch sử tốt đẹp hơn.

Tất nhiên,sự dữ có nghĩa bao gồm hai điều rất khác nhau. Sự dữ thể lý là những thứ như chết chóc, bệnh tật, đau đớn, yếu nhược. Sự dữ luân lý là những thứ như hận thù, bất công và dối trá. Lập luận phản đối đã đề cập đến cả hai loại sự dữ này. Và câu trả lời của Thánh Tô-ma cũng vậy.

Ngoài ra, cũng cần lưu ý từ “cho phép” của Thánh Tô-ma. Thiên Chúa không làm ra sự dữ, nhưng Người cho phép nó xảy ra. Người tạo ra sự sống và những hữu thể sống động, và Người không giết hại, nhưng tạo ra những hữu thể hữu hạn, với số ngày đời là hữu hạn. Và Người không phạm tội, nhưng dựng nên những hữu thể có ý chí tự do và có thể phạm tội nếu chúng chọn. Vì vậy, Người không phạm tội làm điều dữ, nhưng Người vẫn có trách nhiệm vì đã cho phép nó xảy ra. Và Người cũng có thể không cho phép sự dữ, nhưng thay vào đó, đã để cho sự dữ hoạt động vì điều thiện tốt đẹp hơn.

Thánh Tô-ma không nói rằng người ta có thể chứng minh lập luận này là một điều chắc nịch. Nhưng tất cả những gì họ phải làm là chứng minh rằng có thể sự tồn tại của sự dữ không phải là bằng chứng thuyết phục để bác bỏ Thiên Chúa.

Để giải thích tính cần thiết của sự dữ thể lý, Thánh Tô-ma coi vạn vật như một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại, giống như một bức tranh hay một câu chuyện, và nói rằng việc Chúa cho phép sự dữ xảy ra vì một phần nguyên nhân là sự thiện tốt đẹp hơn cho tổng thể. Một tác phẩm nghệ thuật phụ thuộc một phần vào tổng thể, và điều đó đòi hỏi sự không hoàn hảo ở một số phần.

Khi chúng ta đối mặt với sự dữ luân lý, hay tội lỗi, Thánh Tô-ma giải thích rằng việc Thiên Chúa cho phép nó xảy ra là để bảo tồn ý chí tự do và để cứu chúng ta khỏi tội lỗi qua hành động yêu thương tột bậc: hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người. Đó là một điều gây kinh ngạc, một bộ phim truyền hình, một câu chuyện cổ tích. Thay vì một công thức, Thiên Chúa đã viết một vở kịch và đưa nó cho những nhân vật đã bỏ quên lời thoại của mình. Nhưng một vở kịch lộn xộn sẽ tốt hơn một công thức hoàn hảo, đặc biệt nếu nó kết thúc có hậu.

Đó là câu trả lời hữu thần truyền thống cho vấn đề sự dữ; nó không phải là bản gốc của riêng Thánh Tô-ma. Và nó hấp dẫn bởi vì tự sâu thẳm, chúng ta đều đồng ý với nguyên tắc của nó, rằng tốt hơn là phải có những con người tự do ngay cả khi một số người trong số họ gây ra những điều khủng khiếp, bằng cách lạm dụng sức mạnh của ý chí tự do để lựa chọn làm những điều xấu xa cho người khác.

Nhưng sự tồn tại của Thiên Chúa vẫn là một vấn đề bỏ ngỏ, vì sự dữ vẫn được coi là bằng chứng chống lại Người, và tại sao Người cho phép quá nhiều sự dữ xảy ra trên thế gian vẫn còn là một điều bí ẩn; đồng thời, việc con người không thể biện minh và giải thích tất cả mọi thứ khiến chúng ta bị buộc lại trong những xung đột với nhau và vẫn còn đó hai cánh cửa mở ra cho cả đức tin và sự nghi ngờ.

Phản đối thứ hai chống lại sự tồn tại của Chúa là quan điểm cho rằng khoa học tự nhiên có thể giải thích mọi thứ mà không cần đến một vị Thiên Chúa siêu nhiên. Vì vậy, Thiên Chúa là một giả thuyết không cần thiết.

Bằng chứng này kêu gọi một nguyên tắc được gọi là Nguyên tắc tiết kiệm tư tưởng, hay Dao cạo của Ockham, dựa theo tên của William xứ Ockham, một triết gia thời trung cổ, sống sau Thánh Tô-ma một thế kỷ: “Thật là dư thừa nếu cho rằng thứ có thể được giải thích bằng ít nguyên nhân lại được tạo ra bởi nhiều nguyên nhân hơn thế.”

Đây là nguyên tắc thiết yếu của phương pháp khoa học — mặc dù bạn phải cẩn thận khi áp dụng nó. Giả thuyết đơn giản nhất không phải lúc nào cũng đúng. Khoa học hầu như luôn phát hiện ra vạn vật phức tạp hơn chúng ta tưởng. Ockham không phát minh ra nguyên lý này, nhưng ông đã làm cho nó trở nên nổi tiếng bằng cách áp dụng vào siêu hình học và kết luận rằng những cái phổ quát — “hình thức” hay “mô thức” (eidos của Plato hay form của Aristotle) — là không cần thiết và do đó không có thực; chúng chỉ là những cái tên (hay danh). Trong tiếng La-tinh, từ “tên” là “nomina”, vì thế, hệ tư tưởng này được gọi là Nominalism – Chủ nghĩa duy danh.

Thánh Tô-ma không phải là người theo Chủ nghĩa duy danh, nhưng ngài không bất đồng với Nguyên tắc tiết kiệm tư tưởng, vốn là tiền đề cho phản đối đầu tiên; đồng thời, ngài không đồng ý với tiền đề thứ hai khi tóm tắt thế này:

Nhưng có vẻ như mọi thứ chúng ta thấy trên trong vạn vật đều có thể được giải thích bởi các nguyên tắc khác, trong đó, chúng cho rằng Chúa không tồn tại. Vì tất cả những điều tự nhiên có thể được thu gọn về một nguyên tắc, đó là tự nhiên; và tất cả những điều tự ý có thể được thu gọn về một nguyên tắc, đó là lý trí hay ý chí của con người.

Câu trả lời của Thánh Tô-ma để đáp lại quan điểm phản đối, về cơ bản, chính là lập luận rằng: năm cách thức của ngài cho thấy chúng cần phải giả thiết sự tồn tại của Thiên Chúa để có thể giải thích một cách đầy đủ về những sự vật tự nhiên. Để giải thích chúng một cách đầy đủ — nói cách khác, nếu bạn vừa là một triết gia, vừa là một nhà khoa học, và nếu bạn muốn tìm ra nguyên nhân đầu tiên của những thứ trong tự nhiên, thì bạn phải cần đến Thiên Chúa, theo một số hình thức nào đó. Nhưng nếu bạn không đặt ra câu hỏi với ý hướng triết học, bạn không cần phải tìm đến câu trả lời triết học. Nếu bạn chỉ hỏi những câu hỏi tức thời mà câu trả lời có thể được xác minh bằng thực nghiệm, nói cách khác, nếu bạn kìm hãm sự tò mò tự nhiên về triết học và giới hạn câu hỏi của mình trong những phạm trù khoa học, bạn có thể hài lòng với những câu trả lời thuần túy khoa học.

Năm phản đối nhắm vào năm cách thức của Thánh Tô-ma

Bây giờ chúng ta hãy xem xét năm loại phản đối mà các triết gia khác đã đưa ra để chống lại năm cách thức của Thánh Tô-ma.

1. Phản đối sự dịch chuyển trong vũ trụ

Một nhà khoa học có thể hỏi rằng: “Liệu chúng ta có thể tin tưởng vào các lập luận vũ trụ học được hình thành trong kỷ nguyên mà khoa học vũ trụ vẫn đang ở tình trạng sơ khai?” Trong chừng mực các lập luận phụ thuộc vào những tiền đề bị khoa học hiện đại bác bỏ, chúng ta không thể. Nhưng về phần mình, liệu chúng có thể?

Có, nhưng một chút. Tôi đã đề cập đến tiền đề đáng ngờ ở cách thức thứ ba, rằng với thời gian vô hạn, mọi thứ đều có thể trở thành hiện thực. Cũng có tuyên bố trong cách thức thứ tư rằng “một thứ được cho là nóng hơn vì nó gần giống với thứ nóng nhất” — nhưng liệu có một thứ nóng nhất nào đó, trong khi nó không có? Nhưng đó chỉ là một minh họa tồi, chứ không phải tiền đề.

Nghiêm trọng hơn, những người thời trung cổ, theo sau Aristotle, đã hiểu sai về động lượng. Điều này có thể gây nghi ngờ về một bước thiết yếu trong lập luận đầu tiên của Thánh Tô-ma, rằng mọi thứ đang dịch chuyển phải được dịch chuyển bởi một thứ khác. Aristotle đã biết rằng một vật thể ở trạng thái đứng yên có xu hướng tiếp tục đứng yên trừ khi bị tác động bởi một vật thể khác. Nhưng ông không biết rằng một vật thể đang dịch chuyển có xu hướng tiếp tục dịch chuyển trừ khi bị tác động bởi một vật thể khác. Ông cũng không biết rằng không gian là một vùng chân không, hoặc gần như là chân không, để từ đó, một hành tinh có thể chuyển động mãi mãi xung quanh một ngôi sao nếu nó có quỹ đạo ổn định, do không có lực nào cản lại. Nhiều nhà thiên văn học thời trung cổ đã nghĩ rằng các hành tinh phải được di chuyển bởi các thiên thần vì chúng không bao giờ chậm lại, giống như mọi thứ trên trái đất này.

Tuy nhiên, cách thức đầu tiên của Thánh Tô-ma không hoạt động trên cấp độ khoa học, nhưng trên cấp độ siêu hình học. Từ “dịch chuyển” mà ngài sử dụng không chỉ là sự chuyển động trong không gian, nhưng là mọi loại biến đổi; và bằng chứng của ngài, rằng không thứ gì có thể tự dịch chuyển không phụ thuộc vào các khái niệm vật lý về động lượng, hay lực cản, hay chân không, nhưng chỉ dựa vào các khái niệm siêu hình về khả năng và hiện thực.

2. Hoài nghi về nhân quả

Loại phản đối thứ hai đến từ một số triết gia, chẳng hạn như Hume, khi họ nghi ngờ nguyên tắc siêu hình của Thánh Tô-ma về nhân quả, và thực tế là nghi ngờ khả năng của bất cứ nguyên tắc siêu hình nào. Đối với Hume, quan hệ nhân quả chỉ là thói quen tâm lý chủ quan của chúng ta khi liên kết những thứ mình đã thấy lại với nhau nhiều lần. Nhưng sự phê bình đối với quan hệ nhân quả như vậy không chỉ loại bỏ siêu hình học, nhưng còn cả vật lý, khoa học và lẽ thường.

Một triết gia khác, Kant, cũng hoài nghi về tuyên bố có tri thức khách quan trong quan hệ nhân quả. Ông nói rằng chúng ta chỉ có thể biết rằng mình phải suy nghĩ theo quan hệ nhân quả, chứ không phải mọi thứ tự nó phải tuân theo nguyên tắc nhân quả. Nhưng đây là một sự hoài nghi thậm chí còn triệt để hơn quan điểm của Hume đối với tri thức của chúng ta về thực tại khách quan; nó dường như có ý nói rằng: có lẽ cha mẹ tôi không thực sự tạo ra sự tồn tại của tôi về mặt sinh học, nhưng tôi phải nghĩ rằng chính các ngài đã thực hiện điều đó.

Ngoài ra, có một phản đối khác về khía cạnh nhân quả thừa nhận sự hoạt động của nó trong giới tự nhiên, nhưng hoài nghi rằng liệu nó có hoạt động đối với Thiên Chúa không, nếu Người khác tự nhiên ở mức vô hạn. Thánh Tô-ma hẳn sẽ trả lời rằng Thiên Chúa không khác với tự nhiên ở mức “vô hạn”, nhưng có một sự loại suy giữa hai đối tượng, như giữa một họa sĩ và bức tranh của mình; vì vậy, chúng ta hoàn toàn có thể biết được điều gì đó về nguyên nhân dựa trên kiến thức của bản thân về kết quả.

3. Phủ nhận tri thức có lý tính về Thiên Chúa

Loại phản đối thứ ba đối với các bằng chứng của Thánh Tô-ma là một sự hoài nghi đối với bất cứ tri thức có lý tính nào về Thiên Chúa, một kiểu ngắt kết nối giữa Thiên Chúa và lý trí con người. Một số người thậm chí còn đi xa hơn tới mức cho rằng bản thân logic không áp dụng cho Thiên Chúa; tuy nhiên, khi xem xét tuyên bố này, bạn sẽ thấy rằng nó chỉ đơn giản là vô nghĩa. Nó nói rằng có một hữu thể mà bạn không thể nói gì về đối tượng đó cả. Nói cách khác, nó nói rằng có một thứ gì đó: (1) tồn tại – có, (2) là một hữu thể và (3) khác với những hữu thể mà chúng ta có thể nói về chúng; và như vậy, tự nó đã nói lên ít nhất ba điều về hữu thể này, vì thế, nó tự mâu thuẫn. Cho nên việc nói rằng “Thiên Chúa vượt quá lôgic” chỉ đơn giản là vô nghĩa.

Việc nhiều người nghi ngờ những bằng chứng có lý tính về sự tồn tại của Người là vì họ thấy lý trí và đức tin rất khác nhau. Nhưng điều đó đưa chúng ta trở lại mối quan hệ giữa chúng. Bạn không thể tách biệt chúng một cách hoàn toàn như thể hai thế giới khác nhau được, bởi vì cả lý trí và đức tin đều tuyên bố sẽ cho chúng ta biết những điều chân thật. Việc cho rằng đức tin và lý trí không bao giờ hội tụ mà không xét đến các tuyên bố chứng tỏ chúng có thể, giống như năm cách thức của Thánh Tô-ma, và chỉ ra sai sót về mặt logic của các tuyên bố như vậy, là điều không hợp lý.

Một ý kiến phản đối khác nhã nhặn hơn dựa trên khoảng cách giữa đức tin và lý trí cho rằng Thiên Chúa trong các bằng chứng của Thánh Tô-ma và Thiên Chúa của đức tin tôn giáo là khác xa nhau, rằng vị Thiên Chúa của ngài giống như một hình ảnh ma quái, một vị thần xa xôi của chủ nghĩa tự nhiên thần luận, mà theo Pascal, tương cận với chủ nghĩa vô thần về mặt cách biệt so với Ki-tô Giáo.

Thánh Tô-ma, một cách đơn giản, đồng ý rằng đây là một lát cắt rất mỏng về Thiên Chúa. Nhưng nó là một phần của cùng một Thiên Chúa, một Thiên Chúa thật. Đó không phải là Thiên Chúa của chủ nghĩa tự nhiên thần luận bởi vì chủ nghĩa này phủ nhận một Thiên Chúa “dày hơn”.

Thánh Tô-ma hẳn sẽ đồng ý rằng bạn có thể hiểu biết Thiên Chúa tốt hơn nếu sử dụng đức tin thay vì chứng minh lôgic. Giống như Pascal, ngài coi đức tin tôn giáo không chỉ là tín ngưỡng hay quan điểm, nhưng là một nhân đức, một trong ba “nhân đức đối thần” là: đức tin, đức cậy và đức mến.

4. Phản đối trên phương diện tâm lý học

Điều này dẫn chúng ta đến với một loại phản đối khác, một loại phản đối trên phương diện tâm lý học theo trường phái Freud, rằng các bằng chứng của Thánh Tô-ma thực sự là sự ngụy trang cho đức tin của ngài, rằng việc ngài tin vào Chúa không liên quan tới đức tin, nhưng vì cha mẹ và các linh mục đã dạy ngài, ngài tin họ rồi mới đi tìm lý lẽ cho đức tin.

Điều đó có thể đúng, nhưng nó không làm mất đi hiệu lực của bản thân các bằng chứng. Bạn không thể tạo ra hay làm mất hiệu lực của một lập luận logic bằng cách khám phá ra động cơ đức tin đứng sau các lập luận; đó là điều mà các nhà logic học gọi là “ngụy biện di truyền”.

Cũng không phải mọi lý lẽ tôn giáo đều là sự giải thích nhằm hợp lý hóa đức tin, chẳng hạn Aristotle. Ông không có đức tin, nhưng đã đi đến kết luận về sự tồn tại của một vị Thiên Chúa tối cao, hay Nguyên Nhân Đầu Tiên, mà chỉ dùng lý trí. Đây ắt hẳn cũng là con đường trí tuệ của nhiều người.

Câu trả lời tương tự cũng phải được đưa ra dành cho sự phản đối đến từ những người theo chủ nghĩa Marx, vốn là một kiểu phân tâm học tập thể. Họ không chỉ ra những ngụy biện logic trong các bằng chứng; nhưng nghi ngờ đối với động cơ phía sau. Họ nói rằng các bằng chứng của Thánh Tô-ma chỉ là sự hợp lý hóa của thể chế kinh tế đã được thiết lập nhằm giữ cho tôn giáo hoạt động như một loại thuốc phiện dành cho những người bị áp bức. Câu trả lời cho sự phản đối này chỉ đơn giản là: nếu vậy thì sao? Ngay cả khi điều đó là đúng, nếu lôgic trong các bằng chứng của Thánh Tô-ma hoạt động, thì nó sẽ hoạt động, và sự tồn tại của Chúa được chứng minh.

Ngoài ra, có một phản đối tâm lý học khác nghiêm trọng hơn nhiều, và tôi nghĩ, phổ biến hơn nhiều. Đó là sự phản đối của Nietzsche, có lẽ là người vô thần cách triệt để nhất trong lịch sử triết học (và Sartre cũng nói điều gì đó rất tương tự). Đó là không thể có Thiên Chúa bởi vì Ngài sẽ cản trở sự tự do của con người. Nietzsche viết: “Bây giờ, tôi sẽ bác bỏ sự tồn tại của tất cả các vị thần. Nếu đã có thần, làm sao mà tôi không làm thần được cơ chứ. Do đó [và ông ta nhấn mạnh “do đó”] không có thần nào cả.” Ở những nơi khác, ông ta còn viết rằng Thiên Chúa phải chết vì Ngài sẽ không thể chịu đựng nổi khi nhìn thấy mặt tối của chúng ta. Tất nhiên, điều này không làm mất hiệu lực logic của các bằng chứng, nhưng nó cho thấy động cơ sâu xa không phải ở Thánh Tô-ma, nhưng là ở Nietzsche. Đây là hai đòi hỏi tuyệt đối: chính mình trở thành Thiên Chúa hơn là cúi đầu trước người khác, và cúi đầu trước sự thật khách quan rằng bạn không phải là Thiên Chúa. Chân lý tự nó là một kiểu Thiên Chúa không có khuôn mặt, và Nietzsche đã nhận ra điều này. Đó là lý do tại sao ông ta viết: “Tại sao lại là sự thật? Tại sao chẳng thà nói dối?” Câu hỏi táo bạo này quả thực không thể trả lời bằng lý trí được.

5. Phản đối do hiểu lầm

Sau cùng, có một vài phản đối dường như dựa trên sự hiểu lầm.

Thứ nhất là phản đối chống lại giả định của Thánh Tô-ma rằng chúng ta không thể có một sự hồi quy vô hạn. Tại sao không? Trong toán học, dãy số nguyên là vô hạn và không có số nguyên lớn nhất đấy thôi.

Nhưng những điều có thật không phải là những con số; những điều có thật cần có nguyên nhân, và nếu không có nguyên nhân thứ nhất thì không thể có nguyên nhân thứ hai, thứ ba, hay bất kỳ nguyên nhân nào khác tiếp theo. Sự tương tự với các con số đơn giản là không hoạt động.

Phản đối thứ hai là: Tại sao vạn vật không thể là nguyên nhân đầu tiên? Và câu trả lời đơn giản là không có gì có thể là nguyên nhân của chính mình. Bằng chứng thứ ba tuyên bố cho thấy rằng các hữu thể phụ thuộc phải cần đến một hữu thể thiết yếu.

Nhưng sau đó, người phản đối có thể nói: Tại sao Thiên Chúa không cần phải có nguyên nhân? Chẳng lẽ câu hỏi của những đứa trẻ rằng “Ai đã tạo ra Chúa?” không có ý nghĩa gì sao?

Không, không phải vậy, vì nó hiểu sai ý nghĩa của từ “Chúa”. Nó hỏi: “Ai đã tạo ra người tạo ra không được tạo ra, ai đã gây ra nguyên nhân không có nguyên nhân?” Theo định nghĩa, Thiên Chúa không có nguyên nhân bởi vì Thiên Chúa không có khởi đầu. Bản chất của Người là sự tồn tại.

Nhưng người phản đối có thể nói, vậy thì không có sự tự mâu thuẫn nào trong các bằng chứng sao? Tất cả chúng đều kết luận về một vị Thiên Chúa không cần nguyên nhân, nhưng chúng bắt đầu với nguyên tắc rằng mọi thứ đều cần có nguyên nhân.

Đây thực sự là một phản đối tồi tàn đáng xấu hổ, mặc dù nó được tìm thấy trong các bài viết của một thiên tài không kém Bertrand Russell. Và câu trả lời đơn giản là Thánh Tô-ma không bao giờ nói rằng mọi thứ đều cần có nguyên nhân. Ngài nói rằng mọi thứ dịch chuyển đều cần có nguyên nhân, mọi thứ bắt đầu tồn tại đều cần có nguyên nhân, mọi thứ phụ thuộc đều cần nguyên nhân, mọi thứ không hoàn hảo đều cần nguyên nhân và mọi hữu thể thiếu trí khôn hành động vì một mục đích đều cần có nguyên nhân. Nếu bạn đọc kỹ các lập luận một cách đủ cẩn thận, những hiểu lầm này sẽ biến mất.

Những câu trả lời trên đây không có nghĩa là tất cả những phản đối đều được trả lời. Vấn đề vẫn còn để ngỏ đơn giản là vì mọi vấn đề trong triết học đều để ngỏ ngoại trừ những vấn đề được khép lại bởi định luật không mâu thuẫn, được khép lại bằng cách cho thấy rằng mệnh đề được đề cập là hiển nhiên về mặt lôgic và đối lập của nó về mặt lôgic là tự mâu thuẫn. Và Thánh Tô-ma không tin rằng sự tồn tại của Thiên Chúa là hiển nhiên đối với chúng ta; đó là lý do tại sao ngài bác bỏ lập luận bản thể của Thánh Anselmô. Ngài nói rằng sự tồn tại của Chúa cần được chứng minh. Và bất cứ điều gì cần được chứng minh, ngay cả khi có những bằng chứng xác đáng cho nó, vẫn luôn là một vấn đề bỏ ngỏ đối với các triết gia. Thánh Tô-ma đã không khép lại vấn đề Thiên Chúa một lần dứt điểm. Không ai có thể làm điều đó. Và ngay cả Chúa cũng không làm như vậy.


Câu hỏi

  1. Thánh Tô-ma đã giải đáp vấn đề sự dữ như thế nào?
  2. Tại sao việc nói rằng Thiên Chúa vượt quá lôgic là vô nghĩa?

Sách đề xuất

  • Kreeft, Peter, ed. — Summa of the Summa. San Francisco: Ignatius Press, 1990.

Sách khác

  • Lewis, C.S. — The Problem of Pain. New York: HarperOne, 2001.