Triết học của Thánh Tô-ma A-qui-nô – Triết gia Peter Kreeft

Bài 5. Tri thức và ngôn ngữ của chúng ta về Chúa

Tư tưởng tiền hiện đại giống như tư tưởng của một đứa trẻ dưới mười tuổi; nó quan tâm đến thế giới xung quanh và thế giới bên trên mình, trong thực tại khách quan. Tư tưởng hiện đại giống như tư tưởng của một thiếu niên; nó quan tâm nhiều hơn đến chính mình. Nó thiên về nội tâm, tâm lý và chủ quan. Vì vậy, các nhà tư tưởng thời trung cổ, chẳng hạn như thánh Tô-ma, dành nhiều thời gian cho câu hỏi khách quan: “Chúa là gì?” và chỉ dành một ít thời gian cho câu hỏi chủ quan: “Làm sao chúng ta biết Chúa?” và “Chúng ta diễn tả tri ​​thức đó bằng ngôn ngữ như thế nào?” Tuy nhiên, vấn đề tương đối nhỏ mà Thánh Tô-ma nói tới, đối với các triết gia hiện đại, lại vô cùng quan trọng bởi lẽ nó giúp họ giải quyết các vấn đề hiện đại điển hình.

Có ba câu hỏi về Thiên Chúa, giống như ba câu hỏi về bất cứ điều gì khác: Chúa là gì? Chúng ta nhận biết Người thế nào? Làm sao để chúng ta diễn tả hay truyền đạt về Chúa? Cũng như tri thức về hữu thể diễn tả sự tồn tại, thì ngôn ngữ là một sự diễn tả của tri thức.

Chỉ có một từ Hy-lạp duy nhất có ý nghĩa diễn tả cả ba điều: hữu thể khả tri (có thể hiểu được – intelligible), sự hiểu biết khả tri và sự truyền đạt khả tri. Đó là “logos” hay Lời. Thứ nhất, nó có nghĩa là trật tự khách quan, hay thực tại khả tri. Thứ hai, nó cũng có nghĩa là lý trí, trí thông minh, tri ​​thức, sự khôn ngoan, hay khoa học của con người. Và thứ ba, nó còn có nghĩa là lời, hay ngôn ngữ, hay sự truyền đạt. Có thể nói, logos là sự thống nhất của cả ba khái niệm đó.

Ba chiều kích của logos cũng là ba chiều kích của triết học. Triết học cổ đại và trung đại tập trung vào chiều kích thứ nhất, về bản chất của thực tại, và do đó, về siêu hình học. Triết học hiện đại cổ điển, bắt đầu từ Descartes, tập trung vào chiều kích thứ hai, về hiểu biết của con người, về việc làm sao để chúng ta biết và có thể chắc chắn, do đó, nó tập trung vào nhận thức luận. Sau cùng, triết học đương đại tập trung vào ngôn ngữ, vào việc lời có nghĩa, hay thậm chí liệu nó có nghĩa hay không.

Thánh Tô-ma đã tự thiết lập Tổng luận thần học xoay quanh ba câu hỏi này. Ngay sau khi chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa, ngài nói:

Khi sự tồn tại của một sự vật đã được xác định chắc chắn, vẫn còn một câu hỏi nữa về cách thức nó tồn tại, để chúng ta có thể biết được bản chất của nó [“bản chất”, với Thánh Tô-ma, có nghĩa là “cách thức tồn tại”]. Bây giờ… chúng ta không thể biết Thiên Chúa là gì, nhưng đúng hơn, Người không phải là gì… vì thế, chúng ta phải xem xét, thứ nhất, Người không phải như thế nào, thứ hai, Người được chúng ta biết đến như thế nào, và thứ ba, Người được đặt tên như thế nào.

Ở đây, chúng ta đang nói đến tri thức triết học về Thiên Chúa, tri thức bởi lý trí tự nhiên, chứ không phải bởi niềm tin vào sự mặc khải hay kinh nghiệm tôn giáo, mặc dù với Thánh Tô-ma, tất cả những cách thức ấy đều hợp lệ.

Có ít nhất bốn nguyên tắc siêu hình đã tạo nên nền tảng cho câu trả lời của Thánh Tô-ma về cách thức mà lý trí con người có thể nhận biết Chúa. Chúng bao gồm những ý tưởng về sự sáng tạo, hệ thống phân cấp vũ trụ, phép loại suy về hữu thể và lý trí của con người khi thông phần vào Lý Trí Thiêng Liêng. Nếu bất kỳ nguyên tắc nào trong số này không đúng, Thánh Tô-ma hẳn sẽ nói rằng ở đây, chúng ta không thể sử dụng lý trí tự nhiên để nhận biết Thiên Chúa.

1. Sáng tạo

Nếu Thiên Chúa sáng tạo vạn vật, điều đó thiết lập mối quan hệ giữa vạn vật với Người, và vì thế, thiết lập khả năng của một mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa, giữa Tư Tưởng của Thiên Chúa với tư tưởng của phàm nhân.

Vì mọi sự sáng tạo đều cho chúng ta biết điều gì đó về người sáng tạo; nên những gì vạn vật nói với chúng ta về Thiên Chúa cần phải được xác định rõ ràng. Và Thánh Tô-ma đã đặt những thông tin do vạn vật cung cấp vào trong những giới hạn khắt khe; nhưng chí ít, chúng vẫn cung cấp cho chúng ta một điều gì đó để biết, dù không nhiều. Thánh Tô-ma không đồng ý với cả hai thái cực là chủ nghĩa duy lý và thuyết bất khả tri, dù rằng quan điểm của ngài gần với thuyết bất khả tri hơn:

Từ những kết quả không tương ứng với nguyên nhân, không thể thu thập được tri ​​thức hoàn hảo về nguyên nhân. Tuy nhiên, từ mọi kết quả, sự tồn tại của nguyên nhân của nó có thể được chứng minh rõ ràng, và do đó, chúng ta có thể chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa từ những kết quả của Người, mặc dù từ chúng, chúng ta không thể hiểu biết về Người như chính Người trong bản chất của Người được.

Nhưng chúng ta có thể biết điều gì đó về Thiên Chúa thông qua luật nhân quả, vì sự sáng tạo là một loại quan hệ nhân quả: tạo ra kết quả là sinh ra chính sự tồn tại của kết quả.

2. Hệ thống phân cấp vũ trụ

Điều ngụ ý trong quan niệm Thiên Chúa sáng tạo vạn vật không chỉ là quyền năng mà còn là trí tuệ của Thiên Chúa, và như vậy, thiết kế và trật tự của vạn vật. Điều này đưa chúng ta đến với nguyên tắc siêu hình thứ hai mà Thánh Tô-ma giả định, rằng vạn vật do Thiên Chúa sáng tạo là một hệ thống phân cấp có trật tự, một bậc thang vũ trụ hay một “chuỗi hữu thể khổng lồ”. Đây cũng là giả định của cách thức thứ tư trong số năm cách thức chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa, rằng có những mức độ hoàn hảo khác nhau trong vạn vật. Đồng thời, giả định này cũng thiết lập cơ sở cho nguyên tắc và phép loại suy tiếp theo mà Thánh Tô-ma sử dụng dọc theo các nấc thang của bậc thang này.

3. Phép loại suy về hữu thể

Lấy ví dụ, sự sống thực vật là một hình ảnh loại suy mờ nhạt và không hoàn hảo về sự sống động vật, tương tự như vậy giữa sự sống động vật với sự sống con người, và sự sống con người với sự sống Thiên Chúa. Bạn có thể nói điều tương tự về logos: trật tự (hay logos), trong một hóa chất vô cơ là một loại thấp hơn, một trật tự thấp hơn, của cùng một thứ — ấy là trí thông minh và thiết kế thông minh — mà chúng ta tìm thấy trong đời sống thực vật hoặc hóa chất hữu cơ; nhưng ngay cả trong nguyên tử hydro đơn giản cũng có sự hoạt động theo trật tự của các phần tử nhằm hướng đến một mục đích chung.

Khi bạn chuyển sang cấp độ động vật, bạn tìm thấy trí thông minh có ý thức, tri ​​thức về thế giới — trí thông minh trong chính con vật chứ không chỉ trong tâm trí của người tạo ra nó và thiết kế nó. Và khi bạn tiếp cận với trí thông minh của con người, bạn sẽ thấy rằng nó có khả năng tự hiểu biết, tự phê bình và có lý tính — khác với trí thông minh của động vật. Bên trên trí thông minh của con người còn có trí thông minh thiên thần, vốn hoàn toàn thuộc linh, một tri thức tiên nghiệm và tiên thiên (bẩm sinh) về các ý tưởng theo chủ nghĩa duy tâm Plato, một loại thần giao cách cảm có giới hạn với Thiên Chúa.

Sau cùng, ở mức cao nhất, là trí thông minh của Thiên Chúa. Trí thông minh này không giống với bất kỳ loại thông minh nào khác ở chỗ nó hoàn hảo, không giới hạn và thực sự tạo ra những gì nó biết.

Bạn thấy đấy, dọc theo các nấc thang vũ trụ này có cả sự giống nhau và khác nhau. Điều tương tự — logos, thiết kế, trí thông minh — tự thể hiện chính nó ở các mức độ khác nhau trên những cấp độ khác nhau. Và các cấp độ này có tính loại suy đối với nhau: nghĩa là chúng không hoàn toàn giống nhau và cũng không hoàn toàn khác nhau, vì thế, bạn có thể biết một chút về một cấp độ từ tri ​​thức mà bạn có về một cấp độ khác.

Vì trí thông minh của động vật có tính loại suy, hay một chút giống với trí thông minh của con người, do đó, chúng ta có thể biết điều gì đó, nhưng không phải toàn bộ, về trí thông minh của con người khi nghiên cứu động vật – đó chính xác là một trong những điều mà các nhà tâm lý học đã làm. Và tương tự như vậy, từ việc nghiên cứu trí thông minh của con người, chúng ta thậm chí có thể biết một chút về Thiên Chúa bởi vì Người chính là Đấng thông minh, mặc dù sự khác biệt giữa trí thông minh của Người với trí thông minh của chúng ta trổi vượt hoàn toàn so với sự khác biệt giữa trí thông minh của chúng ta với trí thông minh của một con kiến. Nhưng ít nhất cũng có sự nối kết nào đó, bất kể nó mỏng manh đến mức nào, bởi vì có phép loại suy, và phép loại suy có trong mối liên hệ đó là bởi vì có trí thông minh đã tạo ra hệ thống phân cấp trong vũ trụ, bởi vì nó đã được tạo ra.

4. Lý Trí Thiêng Liêng

Nguyên tắc siêu hình thứ tư đặt vào tri ​​thức của chúng ta về Thiên Chúa có lẽ là nguyên tắc khó hiểu nhất đối với tư tưởng hiện đại. Đó là quan niệm về lý trí của con người như một sự thông phần, hay dự phần vào Lý Trí Thiêng Liêng (hay Lý trí của Thiên Chúa).

Điều này không có ý nói tới một kinh nghiệm thần bí. Thánh Tô-ma chỉ đang nói về lý trí của con người theo nghĩa thông thường, rằng nó được dự phần vào Lý Trí Thiêng Liêng. Điều này có rất ít ý nghĩa nếu chúng ta coi lý trí chỉ đơn thuần là suy luận hay lập luận. Hãy sử dụng phép loại suy về ánh sáng, vốn là hình ảnh chất thể yêu thích của những người thời trung cổ khi minh họa trí thông minh phi vật chất. Các nhà logic học thời ấy đã phân biệt cái mà họ gọi là “ba hành vi của tư tưởng”, trong đó, ánh sáng là hình ảnh của hành vi đầu tiên: quan niệm, hay việc hình thành nên một khái niệm có thể hiểu được, việc hiểu một chất, một “cái gì đó”. Ví dụ: “quả táo”, hay “con người”, hay “động vật”. Hành vi thứ hai của tư tưởng là phán đoán, nơi chúng ta xác nhận một khái niệm dựa trên khái niệm khác và nói “con người là động vật” hoặc “con người không phải là quả táo”. Sự đúng-sai chỉ dành cho những phán đoán, không phải cho khái niệm. Sau cùng, hành vi thứ ba của tư tưởng là việc suy luận từ những phán đoán này sang những phán đoán khác, lập luận từ những tiền đề để đi đến những kết luận. Vì thế, chúng ta có sự hiểu biết, phán đoán và suy luận.

Khi dùng từ “lý trí”, Thánh Tô-ma có ý nói tới cả ba hành vi tư tưởng chứ không chỉ riêng hành vi thứ ba; đồng thời, ngài coi cả ba hành vi này như một sự phản chiếu mờ nhạt của cho trí thông minh của Thiên Chúa, một sự dự phần ít ỏi vào Lý Trí Thiêng Liêng, vì đối với ngài, con người là những thụ tạo được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa. Nhưng hành vi tư tưởng đầu tiên giống với trí thông minh của Thiên Chúa cách đặc biệt. Cả phán đoàn và suy luận đều cần có thời gian, nhưng sự hiểu biết có thể xảy ra lập tức. Thiên Chúa không phải phán đoán hay suy luận vì Ngài hiểu rõ mọi sự cách đồng thời, trong khi chúng ta chỉ có thể thực hiện điều này từng chút một.

Chỉ nhờ quyền năng Thiên Chúa, chúng ta mới có thể suy luận. Vì thế, Thiên Chúa giống như một nguồn điện cung cấp năng lượng cho bộ não máy tính của chúng ta. Thánh Tô-ma giải thích điều đó theo quan niệm rằng Thiên Chúa đã tạo ra chúng ta “theo hình ảnh Người”. Khi bạn nhìn thấy hình ảnh mặt trời trong tấm kính cửa sổ, hình ảnh phản chiếu đó là một sự thông phần vào ánh sáng mặt trời thực sự, một phần nhỏ năng lượng thực sự và các photon thực sự tới từ mặt trời. Và khi chúng ta suy luận, chúng ta sử dụng ánh sáng mặt trời thiêng liêng.

Điều này không chỉ đơn thuần là một sự giống nhau hay loại suy thụ động, nhưng là sự thông phần sống động thực sự vào quyền năng vô hạn củaThiên Chúa. Thánh Tô-ma đã đặt sự thông phần này vào sự sáng tạo. Ngài nói rằng lý do để lý trí con người thực sự thông phần vào Lý Trí Thiêng Liêng là vì mọi kết quả không chỉ giống với nguyên nhân của nó qua phép loại suy mà thôi, nhưng còn theo một cách thông phần nào đó vào sức mạnh của chính nguyên nhân tạo ra mình (khi lửa đốt cháy giấy, ngọn lửa trên giấy có sức mạnh của lửa).

Ở đây, có thể thấy một giả thiết khác là việc Thiên Chúa có lý trí và có tính hợp lý chứ không phải một Đấng quyền năng mù tối. Bạn luôn có thể tìm thấy nhiều giả thiết đằng sau mọi điều mà Thánh Tô-ma phát biểu. Triết lý của ngài cũng giống như vạn vật: nó chứa đầy hành vi tư tưởng đầu tiên và có thể hiểu được, nhưng không phải tất cả những điều đó đều có thể suy luận được bằng hành vi tư tưởng thứ ba. Ngài sử dụng rất nhiều lý luận suy đoán, nhưng không phải nó đã giữ các phần trong hệ thống suy luận của ngài lại với nhau, mà là phép loại suy. Ngoài ra, Hệ thống suy luận của ngài cũng không phải là một hệ thống suy đoán như hầu hết các triết lý hiện đại, vì trước hết, nó không phải là một hệ thống ý tưởng, nhưng là một hệ thống sự vật, một tấm bản đồ về vạn vật.

Tri thức về Thiên Chúa

Bây giờ, dựa trên bốn giả định siêu hình vừa phân tích, chúng ta cùng xác định xem trong Tổng luận thần học, chính xác thì Thánh Tô-ma đã nói những gì liên quan đến tri thức về Thiên Chúa.

Đầu tiên, hãy xem xét hai đề mục nằm ngay trước phần nội dung về năm cách thức. Đề mục thứ nhất nói rằng sự tồn tại của Thiên Chúa không tự hiển nhiên đối với con người, mặc dù tự nó hiển nhiên trong chính mình. Vì vậy, nó phải được làm cho rõ ràng trước mắt chúng ta. Đề mục thứ hai nói rằng đòi hỏi này có thể được thỏa mãn. Thiên Chúa không được biết đến một cách trực tiếp và tiên thiên — tư tưởng của chúng ta không mạnh đến mức ấy — nhưng sự tồn tại của Người có thể được nhận biết nhờ lý trí, có thể được chứng minh — tư tưởng của chúng ta không yếu để có thể làm điều này.

Thánh Tô-ma lập luận rằng chúng ta không thể nhận biết Thiên Chúa cách trực tiếp ở đời này, nhưng chúng ta có thể biết, ngay cả ở đời này, rằng chúng ta có thể nhận biết Người cách trực tiếp ở đời sau:

Vì hạnh phúc tối hậu của con người bao gồm việc sử dụng năng lực cao nhất của mình, đó là vận dụng trí óc; nếu chúng ta giả sử rằng trí óc không bao giờ có thể nhìn thấy Thiên Chúa, thì nó sẽ không bao giờ đạt tới hạnh phúc, hoặc hạnh phúc của nó sẽ bao gồm một thứ gì đó ngoài Chúa. Quan điểm ​​này là phản lý trí, bởi vì ở mỗi con người đều có một khao khát tự nhiên muốn biết nguyên nhân của bất kỳ kết quả nào mà anh ta nhìn thấy, và do đó, nảy sinh sự tò mò trong con người. Nhưng nếu trí thông minh của thụ tạo có lý trí không thể đạt đến nguyên nhân đầu tiên của các sự vật, thì khao khát tự nhiên này sẽ trở ra vô ích. Tuy nhiên, không có khao khát tự nhiên nào là vô ích.

Thánh Tô-ma thường xuyên đề cập đến nguyên tắc hạnh phúc này, rằng “không có khao khát tự nhiên nào là vô ích” Nó có vẻ đúng theo kinh nghiệm. Làm sao khao khát tự nhiên của chúng ta có thể mong muốn cái gì đó mà bản chất của chúng ta không thể có? Nếu khao khát tự nhiên của chúng ta là muốn biết Chúa, thì nó phải có khả năng nhận biết Người. Nếu khao khát đó không thể được thỏa mãn ở đời này, thì nó phải được thỏa mãn ở đời sau.

Ở đây, Thánh Tô-ma phân biệt hai cấp độ khác nhau của tri ​​thức là lĩnh hội (nhận thức thấu đáo – comprehension) và nắm bắt (apprehension). Ngài nói rằng một trí óc hữu hạn không bao giờ có thể lĩnh hội, bao quát, hay hiểu được tư tưởng của Thiên Chúa cách trọn vẹn; nhưng nó hoàn toàn có thể nắm bắt.

Vậy chúng ta có thể tiến được bao xa trong hiểu biết này? Thánh Tô-ma đã phân biệt ra bốn điều có thể biết về Thiên Chúa bằng lý trí tự nhiên: thứ nhất, Người tồn tại; thứ hai, Người là nguyên nhân của các thụ tạo; thứ ba, Người sở hữu một số thuộc tính có thể xác định qua suy đoán; thứ tư, Người không phải là một thụ tạo và không cùng loại với các thụ tạo, ngay cả về mặt tồn tại, Người là hữu thể vô biên, vô lượng trong khi các thụ tạo chỉ là hữu hạn.

Thánh Tô-ma nói rằng chỉ có hai loại thông tin mà chúng ta có thể biết về bản chất của Thiên Chúa, đó là Người không như thế nào và giống như thế nào. Chúng ta có thể có tri thức phủ định và tri ​​thức loại suy, nhưng chúng ta không thể có tri ​​thức khẳng định và đơn nghĩa, hay không mang tính loại suy về Người. Tất cả tri thức đơn nghĩa của chúng ta về Chúa là phủ định, và tất cả kiến ​​thức khẳng định của chúng ta về Chúa là loại suy.

Theo Thánh Tô-ma, lý do khiến tri thức đơn nghĩa của chúng ta về Thiên Chúa chỉ có được ở dạng phủ định là vì chúng ta chỉ biết, nhờ kinh nghiệm, rằng các thụ tạo là gì chứ không phải Đấng Sáng Tạo là gì, vì chúng ta là những thụ tạo chứ không phải Đấng Sáng Tạo. Vì chúng ta không phải Thiên Chúa, nên chúng ta biết, nhờ kinh nghiệm, rằng thời gian và sự hữu hạn là gì, nhưng chúng ta không thể biết được vĩnh cửu và vô hạn là gì, ngoại trừ theo cách phủ định.

Và lý do khiến tất cả những tri thức khẳng định của chúng ta về Thiên Chúa đều là loại suy chứ không đơn nghĩa là vì chúng ta biết, bằng kinh nghiệm trực tiếp, về vạn vật, về bức tranh của Thiên Chúa, chứ không phải về Người. Nhưng bức tranh chỉ có sự tương đồng với người họa sĩ. Vì vậy, tri thức khẳng định của chúng ta chỉ là kiến thức về những điểm tương đồng với Chúa.

Nhiều triết gia ngày nay đặt câu hỏi liệu ngôn ngữ về Thiên Chúa có ý nghĩa gì không. Chúng ta có biết mình đang nói về điều gì khi nói về Chúa không?

Tôi nghi ngờ rằng trong đa số trường hợp, sự tin hay không tin vào sự tồn tại của Chúa phụ thuộc vào việc hiểu biết của chúng ta về ý nghĩa của thuật ngữ “Chúa”. Tôi chưa bao giờ gặp một người vô thần nào, theo suy nghĩ của tôi, hoàn toàn hiểu được ý nghĩa mà một nhà thần học thông minh như Thánh Tô-ma diễn tả qua từ “Chúa”. Sau khi nói chuyện một lúc với một người vô thần thông minh, tôi luôn thấy mình đồng ý với anh ta trong việc phủ nhận vị Thiên Chúa mà anh ta phủ nhận; nhưng chỉ có tôi là khẳng định đó không phải vị Thiên Chúa mà Thánh Tô-ma đã nói. Ví dụ: một vị Thiên Chúa chuyển vần theo thời gian và không ngừng biến đổi, do đó, trở nên tốt hơn hoặc xấu đi theo cách nào đó; hoặc một vị Thiên Chúa bất diệt và bất biến bằng cách không làm gì cả. Cả hai khái niệm này về Thiên Chúa đều không hoàn hảo. Thánh Tô-ma nói rằng sự hoàn hảo của Thiên Chúa là hành vi thuần túy, thực tế thuần túy và hoạt động thuần túy của việc hiểu biết và yêu thương. Thiên Chúa không thay đổi, Người không học sự thật bởi vì chính Người là tất cả sự thật, và Người không yêu vì cùng một lý do khiến nước không cần phải ẩm ướt: chính Người là tình yêu.

Một cuộc tấn công khác nhắm vào ý nghĩa khái niệm Thiên Chúa của Thánh Tô-ma đến từ những người nói rằng khái niệm toàn năng, hay quyền năng vô hạn, là tự mâu thuẫn và vì thế, là vô nghĩa. Họ hỏi rằng liệu Thiên Chúa có thể biến một tảng đá ra lớn hơn so với những gì Người có thể nhấc lên hay không; nếu bạn nói có, thì họ nói rằng có thể có thứ gì đó lớn hơn tảng đá mà Người có thể nâng, vì thế, Người không có quyền năng vô hạn; nhưng nếu bạn nói không, thì họ nói rằng có điều gì đó mà Thiên Chúa không thể làm, vì thế một lần nữa, quyền năng của Người cũng không phải là vô hạn.

Tuy nhiên, sự mơ hồ về mặt ngôn ngữ trong câu hỏi đó không nằm ở khái niệm về Thiên Chúa mà nó đặt ra; vì “một tảng đá lớn hơn so với những gì quyền năng vô hạn có thể nhấc lên” là một khái niệm tự mâu thuẫn, nhưng “quyền năng vô hạn”, tự nó, không phải là một khái niệm tự mâu thuẫn. Vì vậy, câu trả lời đơn giản cho câu hỏi đó là: Không, Thiên Chúa không thể biến một tảng đá ra lớn hơn so với những gì Người có thể nhấc lên thêm một chút nào so với những gì Người có thể làm cho bất cứ thứ gì khác có tính chất tự mâu thuẫn và vì thế, vô nghĩa.

Một câu hỏi nghiêm túc khác về ý nghĩa của khái niệm Thiên Chúa theo Thánh Tô-ma sẽ đến từ những nguồn mà ngài chưa bao giờ nghe nói, chẳng hạn như các nhà thần bí triết học theo Đạo Hindu như Shankara, người lập luận rằng Thiên Chúa không thể là một Nhân vị được, bởi vì Người là vĩnh cửu và vô hạn; rằng nếu Chúa là hữu thể tự nơi chúng, thì Người không thể là hữu thể tự nơi Người. Đó là một vấn đề sâu xa hơn nhiều và đã được giải quyết bởi những người theo Học phái Tô-ma hiện đại như Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, một Tô-mít theo chủ nghĩa nhân cách, người coi nhân cách là chóp đỉnh của hữu thể hơn là bất kỳ loại khiếm khuyết nào trong hữu thể. Nếu bạn muốn có một bản giới thiệu ngắn gọn và hấp dẫn về siêu hình học theo chủ nghĩa nhân cách thuộc Học phái Tô-ma, tôi xin đề xuất cuốn sách nhỏ có tự đề Person and Being (Nhân vị và Hữu thể) của cha Norris Clarke Dòng Tên.

Một sự phê bình khác về ý nghĩa của khái niệm Thiên Chúa theo Thánh Tô-ma đến từ những người được gọi là các triết gia quá trình, hay các nhà thần học quá trình. Họ cho rằng khái niệm về một vị Thiên Chúa vĩnh cửu và bất biến là vô nghĩa về mặt tôn giáo, một vị gì đó mà những con người trần thế chúng ta không thể liên quan tới một cách có ý nghĩa. Tuy nhiên, đây thực sự là một câu hỏi về tâm lý học hơn là ngôn ngữ học. Thánh Tô-ma lập luận rằng Thiên Chúa phải là vĩnh cửu bởi vì nếu Người biến đổi, thì Người là sự pha trộn giữa tiềm năng và hiện thực, và vì thế, không hoàn toàn là hiện thực, và vì thế, không hoàn hảo tuyệt đối, nhưng chỉ đang trong quá trình trở nên hoàn hảo hơn. Và rồi Người sẽ giống một triết gia hoặc một vị thánh hơn là đối tượng cùng đích trong tư tưởng của các triết gia hay tình yêu của các vị thánh. Trong trường hợp đó, đối tượng của Người, lý tưởng của Người sẽ là gì, nếu Người vẫn đang phát triển? Đó chỉ là một lý tưởng trừu tượng về sự hoàn hảo vì không có hữu thể thực sự hoàn hảo nào trong triết lý của nó. Thuật ngữ truyền thống dành cho loại triết học tuyên bố rằng không có hữu thể thực sự hoàn hảo như vậy chính là chủ nghĩa vô thần.

Ngoài ra, các triết gia có đầu óc khoa học hơn sẽ phản đối ý nghĩa của khái niệm Thiên Chúa theo Thánh Tô-ma từ một phần tư khác: nó không mang tính thực nghiệm và hoàn toàn trừu tượng giống như môn hình học. Đâu là cơ sở thực nghiệm cho tất cả những gì ông ấy nói về Chúa vậy?

Câu trả lời là ngay từ đầu đã có năm cơ sở thực nghiệm cho những lập luận của Thánh Tô-ma về sự tồn tại của Chúa. Và từ nền móng nhỏ bé ấy, ngài đã dựng lên một tòa nhà khá cao, như Đài tưởng niệm Washington. Đó không phải là phương pháp khoa học thông thường, ít nhất, không phải là khoa học thực nghiệm. Nhưng việc khăng khăng rằng thần học phải sử dụng các phương pháp của khoa học thực nghiệm là không công bằng, nó cũng giống như việc khăng khăng rằng khoa học thực nghiệm phải sử dụng các phương pháp của thần học vậy. Có gì sai với lôgic của các lập luận chăng? Nhà phê bình thực ra đang tấn công vào chính thể loại triết học không dùng thực nghiệm và thần học nói chung. Điều đó giống như việc tấn công chiếc máy tính bỏ túi vì nó liên quan tới toán học, hay tấn công Dante vì ông là một nhà thơ, thay vì chỉ ra một sai sót trong các phương trình hoặc trong một bài thơ nào đó.


Câu hỏi

  1. Bốn nguyên tắc siêu hình nào đã tạo nên câu trả lời của Thánh Tô-ma về việc lý trí con người có thể nhận biết Thiên Chúa?
  2. Những phản đối nào có thể nảy sinh nhắm vào nguyên tắc của Thánh Tô-ma rằng “không có khao khát tự nhiên nào là vô ích”?

Sách đề xuất

  • Kreeft, Peter, ed. — Summa of the Summa. San Francisco: Ignatius Press, 1990.

Sách khác

  • Murray, John Courtney. — The Problem of God. New Haven: Yale University Press, 1965.