Triết học của Thánh Tô-ma A-qui-nô

Bài 7: Vũ trụ luận của Thánh Tô-ma: Sáng tạo, Quan phòng và Ý chí tự do

“Vũ trụ luận” có nghĩa là logos, hay khoa học có lý tính, về vũ trụ, hay vạn vật. Nó từng là một bộ phận chính của triết học, nhưng nhiều câu hỏi của nó — những câu hỏi về thời gian, không gian và vật chất — đã được khoa học hiện đại giải đáp. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều câu hỏi triết học, đặc biệt là những câu hỏi về mối quan hệ giữa Thiên Chúa và vũ trụ.

Sáng tạo

1. Tại sao Chúa tạo ra thế giới? “Mọi tác nhân đều hành động vì cùng đích; nếu không thì một thứ sẽ không phát xuất từ hành động của tác nhân hơn là thứ khác… Bây giờ, hành động từ nhu cầu chỉ thuộc về một tác nhân không hoàn hảo… Nhưng điều này không thuộc về Thiên Chúa, và do đó, chỉ có Người là Đấng ban phát cách tự do hoàn hảo nhất, vì Người không hành động vì lợi ích của chính mình.” Điều này có nghĩa là Thiên Chúa tạo ra thế giới cho nhu cầu của chúng ta, không phải của Người, bởi vì Người không có nhu cầu đó. Chính sự tồn tại của chúng ta cũng chỉ là quà tặng. Động cơ duy nhất có thể có của Thiên Chúa là lòng quảng đại thuần khiết, tình yêu vô vị lợi và đức ái — mà theo thần học Ki-tô Giáo, đó là bản chất của Người.

2. Nhưng Người đã tạo ra thế giới như thế nào? Người không sử dụng phương tiện, phương pháp hay chất thể. Thánh Tô-ma bảo vệ công thức truyền thống cho sự sáng tạo, “ex nihilo”, từ hư vô — và “hư vô” đó không có nghĩa là không gian, hay chất thể vô hình, hay thậm chí là khả năng. Điều này tương phản rõ ràng với những câu chuyện được gọi là sáng tạo của các tôn giáo và thần thoại khác, nơi những người sáng tạo đã nhào nặn ra thế giới từ một số chất thể tồn tại từ trước; chỉ trong Kinh Thánh Do-thái, chúng ta mới thấy Thiên Chúa tạo ra chất thể, thời gian và không gian, từ hư vô.

3. Nhưng điều này có khả thi không? Có vẻ không, vì (như Thánh Tô-ma nêu ra trong phản đối) “một khoảng cách vô hạn thì không thể vượt qua, nhưng giữa hiện hữu và hư vô tồn tại một khoảng cách vô hạn.” Và câu trả lời của ngài cho phản đối này là vì nó “bắt nguồn từ một trí tưởng tượng sai lầm, như thể có một khoảng cách vô hạn nào đó giữa hư vô và hiện hữu… trí tưởng tượng sai lầm này xuất phát từ suy nghĩ về sự sáng tạo như một sự biến đổi giữa hai trạng thái.” Đối với Thánh Tô-ma, sáng tạo không phải là sự biến đổi theo thời gian từ trạng thái này sang trạng thái khác. Nó hoàn toàn không phải là một quá trình theo thời gian. Chính Chúa đã tạo ra thời gian, vì vậy, không có trạng thái trước. Đây là một khái niệm khác mà chúng ta đơn giản là không thể hiểu được theo hướng khẳng định; vì không phải là Chúa, chúng ta không có kinh nghiệm về sáng tạo theo đúng nghĩa. Nhưng chúng ta có thể hiểu nó theo hướng phủ định, tức là nó không phải là gì. Và theo Thánh Tô-ma, vì có thể hiểu Thiên Chúa theo hướng loại suy cũng như phủ định, chúng ta cũng có thể hiểu về hành vi sáng tạo theo hướng loại suy, chẳng hạn như từ các sáng tạo trí tuệ hay nghệ thuật của chúng ta, khi chúng ta có một ý tưởng sáng tạo hoàn toàn mới, nó dường như nảy sinh từ hư vô thay vì từ những ý tưởng hay kinh nghiệm đã có trước đó.

4. Tuổi của vạn vật có phải là vô hạn? Aristotle đã nghĩ rằng ông có thể chứng minh vạn vật không có khởi đầu. Trong triết học của ông, Thiên Chúa không tạo ra vạn vật, mà chỉ dịch chuyển nó bằng cách chính Người là nguyên nhân tối hậu, hay mục đích tối hậu, hay tiêu chuẩn của sự hoàn hảo. Vào thời trung cổ, quan điểm này là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với việc tổng hợp đức tin và lý trí, vì ở đây, Triết gia, hay lý trí nhập thể đã mâu thuẫn với Ki-tô Giáo. Trong việc biện hộ cho sự tổng hợp đó, Thánh Tô-ma không có đủ căn cứ để tin rằng Thiên Chúa đã mặc khải sự thật là vạn vật đã được tạo ra chứ không phải vĩnh cửu. Ngài phải không những không đồng ý với Aristotle mà còn phải bác bỏ các lập luận của ông. Và ngài đã làm như vậy. Ngài lập luận rằng chúng ta không thể biết được vạn vật là vĩnh cửu hay được tạo ra, bởi vì “sự mới mẻ của vạn vật không thể được chứng minh từ chính vạn vật, cũng như từ nguyên nhân hữu hiệu của nó — Thiên Chúa, vì Thiên Chúa hành động theo ý chí, và ý chí của Người không thể tiên đoán được bằng lý trí con người.”


Tất nhiên, ngày nay, chúng ta đều biết rằng Thánh Tô-ma đã sai về điểm đầu tiên trong hai điểm đó. Các nhà khoa học đã chứng minh, từ chính vạn vật, rằng nó chỉ khoảng mười lăm tỷ năm tuổi. Thánh Tô-ma không biết tới vũ trụ luận hiện đại theo thuyết Big Bang. Big Bang không chứng minh vạn vật được tạo ra bởi Chúa, nhưng nó chứng minh rằng vạn vật có điểm khởi đầu.

Thánh Tô-ma đã thực hiện một bước đi triết học quan trọng vượt xa Aristotle trong việc phân biệt giữa sáng tạo với sự biến đổi. Sáng tạo gây ra chính sự tồn tại của một sự vật trong khi sự biến đổi chỉ làm thay đổi bản chất của nó. Aristotle đã không phân biệt sự tồn tại của một sự vật với bản chất hay bản tính của nó; ông coi sự tồn tại của vạn vật là điều hiển nhiên và băn khoăn tự hỏi về bản chất, các thuộc tính và hoạt động của nó. Giáo huấn Kinh Thánh, trong câu đầu tiên của Sách Sáng Thế, rằng Thiên Chúa sáng tạo trời đất, là câu trả lời cho một câu hỏi mà chưa một người ngoại giáo nào từng hỏi: tại sao có cái gì lại hơn là không có gì? Nhưng câu trả lời này đã khiến các triết gia Do-thái và Ki-tô Giáo tiếp tục đặt ra câu hỏi mới: “Tại sao mọi thứ lại tồn tại?” – và do đó, hình thành nên sự phân biệt mới giữa bản chất và tồn tại. Và sự phân biệt đó chính là dấu hiệu xác nhận tiêu chuẩn của siêu hình học theo Thánh Tô-ma.


5. Vì Thiên Chúa là hoàn hảo và Người hành động theo cách hoàn hảo, nên Người đã tạo ra thế giới tốt nhất có thể chưa? Leibnitz lập luận rằng Ngài đã làm thế rồi, và Voltaire đã châm biếm một cách xuất sắc ý tưởng đó trong cuốn Candide. Thánh Tô-ma đồng hành với Voltaire và lẽ thường ở đây, giống như thường lệ, và thừa nhận rằng đây rõ ràng không phải là thế giới tốt nhất trong tất cả các thế giới mà Thiên Chúa có thể tạo ra. Ngài đặt ra câu hỏi “Liệu Thiên Chúa có thể làm tốt hơn những gì Người đã làm không?” và câu trả lời của ngài là có, vì “Thiên Chúa có thể tạo ra những thứ khác, hoặc thêm thứ gì đó vào sáng tạo hiện tại, và sau đó, sẽ có một vũ trụ khác và tốt đẹp hơn.”


Những thế giới có thể có cũng giống như những con số vậy: bạn luôn có thể thêm một thế giới nữa. Không có cái gì gọi là tốt nhất trong tất cả các thế giới có thể có, cũng như không có cái gì gọi là số lớn nhất có thể. Đó là một khái niệm tự mâu thuẫn.


6. Vũ trụ này có phải là vũ trụ duy nhất? Thánh Tô-ma đồng ý như vậy, bởi vì vũ trụ là một trật tự vật lý đơn nhất với duy nhất một tập hợp các quy luật; đó là những gì khiến cho nó trở thành một vũ trụ được sắp đặt (cosmos). Cá nhân tôi nghĩ rằng Thánh Tô-ma đã sai ở đây, bởi vì ngay cả một người sáng tạo, một nhà văn giả tưởng, cũng có thể tạo ra các thế giới giả tưởng khác, với các quy luật vật lý khác trong đó; và các nhà khoa học hiện đại cũng có thể mơ tưởng ra những vũ trụ tuân theo lôgic và những định luật hoàn toàn khác so với các định luật trong thế giới này.

7. Với tiến hóa thì sao? Nó có mâu thuẫn với những gì Thánh Tô-ma định nghĩa về sáng tạo không? Rõ ràng là không, vì hai ý tưởng này ​​trả lời cho hai câu hỏi hết sức khác nhau: sự sống sinh học của con người bắt đầu thế nào, và vật chất bắt đầu như thế nào? Vật chất không thể tiến hóa thành con người cho đến khi nó tồn tại lần đầu tiên, và tiến hóa không nói gì về điều đó.


Ngoài ra, thuyết tiến hóa không nói gì về linh hồn con người. Linh hồn không để lại hóa thạch. Vì vậy, sự sáng tạo trực tiếp cách thiêng liêng của linh hồn con người và sự tiến hóa sinh học của cơ thể con người khá tương thích.

Thánh Tô-ma đã giải quyết hầu hết các vấn đề bằng cách tạo ra những sự phân biệt và đó chắc chắn là những gì mà ngài hẳn sẽ làm ở đây. Ngài sẽ phân biệt vấn đề về nguyên nhân chất thể với nguyên nhân tối hậu và bác bỏ tuyên bố của các nhà tiến hóa rằng quá trình tiến hóa diễn ra một cách tình cờ mà không có nguyên nhân tối hậu hay thiết kế nào; và ngài sẽ nói đó không phải là một vấn đề của khoa học, nhưng là một vấn đề của triết học và thần học. Thiết kế không phải là thứ mà khoa học có thể quan sát theo kinh nghiệm và đo lường bằng toán học. Cuộc tranh cãi hiện tại giữa thuyết tiến hóa qua biến đổi đơn thuần và thiết kế thông minh không phải là một vấn đề của khoa học, nhưng là một vấn đề của triết học, và tôi nghĩ Thánh Tô-ma sẽ phê bình cả hai bên vì đã nhầm lẫn hai điều này.

8. Thiên Chúa có yêu mọi sự có trong vạn vật không? Đây là lập luận của Thánh Tô-ma để trả lời là có: “Ý muốn của Thiên Chúa là nguyên nhân của mọi sự. Do đó, cần phải có một sự vật có được sự tồn tại hay bất cứ loại điều thiện nào, chỉ vì nó phát xuất từ ý muốn của Thiên Chúa. Vì vậy, đối với mỗi thứ hiện có, Thiên Chúa muốn một số điều thiện nào đó. Do đó, vì yêu bất cứ thứ gì không gì khác hơn là muốn điều thiện cho thứ đó, nên hiển nhiên là Thiên Chúa yêu tất cả những gì tồn tại.”


Thánh Tô-ma tiếp tục giải thích rằng: “Nhưng ý chí của chúng ta không phải là nguyên nhân dịch chuyển tích cực của điều thiện nơi những thứ mà nó yêu, nhưng được dịch chuyển bởi nó. Vì vậy, tình yêu của chúng ta không phải là nguyên nhân của điều thiện, nhưng là một điều thiện nào đó, dù có thật hay chỉ là vẻ bề ngoài, là nguyên nhân tạo ra tình yêu của chúng ta… nhưng tình yêu của Thiên Chúa gây ra và tạo ra điều thiện.”


9. Sau đó, Thánh Tô-ma hỏi rằng liệu Thiên Chúa có yêu thương tất cả mọi thụ tạo như nhau không, và ngài trả lời là không, bởi lẽ “vì tình yêu của Thiên Chúa là nguyên nhân của điều thiện trong mọi sự, như đã nói, không có thứ nào tốt hơn thứ khác nếu Thiên Chúa không muốn điều thiện cho nó tốt hơn so với thứ kia.” Hãy nhớ rằng vạn vật là một hệ thống phân cấp, và Thiên Chúa đã muốn như vậy. Người yêu con người hơn con hàu; đó là lý do tại sao con người có giá trị hơn con hàu. Sự bình đẳng giữa người với người là tốt về mặt chính trị, nhưng vũ trụ rõ ràng không phải là một nền dân chủ. Liệu chúng ta có thích như vậy không? Liệu chúng ta có thích một vũ trụ nơi mọi sinh vật đều có phiếu bầu cử giá trị như nhau, kể cả muỗi?

10. Tại sao Thiên Chúa làm cho vũ trụ trở nên đa dạng như vậy? Thánh Tô-ma đặt câu hỏi rằng “liệu ​​sự phong phú muôn hình vạn trạng của các sự vật có đến từ Chúa không?” — và câu trả lời “có” của ngài cho câu hỏi này khiến ngài cắt đứt quan hệ với tất cả những người theo thuyết phiếm thần và thuyết nhất nguyên, những người rất thường thấy trong cả triết học và tôn giáo. Thánh Tô-ma nói: lý do cho sự đa dạng của mọi sự chính là thánh ý Thiên Chúa. Đây là điều đầy ý nghĩa, bởi vì một đặc điểm chung của cả thuyết nhất nguyên và thuyết phiếm thần là họ chỉ xem Thiên Chúa đơn thuần là một thực thể, một sức mạnh, hay cùng lắm là một ý thức, nhưng không bao giờ là một ý chí, bởi vì ý chí phân biệt, lựa chọn và phân định rạch ròi một sự vật từ những sự vật khác. Thánh Tô-ma tìm thấy nguồn gốc của điều thiện nơi sự đa dạng của vạn vật từ điều thiện nơi thánh ý Thiên Chúa.


Và những ứng dụng thực tiễn của điều này là rõ ràng. Sự đa dạng và không đồng đều trong giới tự nhiên, động vật, con người, giới tính, cơ thể, linh hồn, trí tuệ, thậm chí cả trên Thiên Đàng, đều là tốt đẹp. Thuyết phiếm thần quả thật là nhàm chán, nó cho rằng chỉ có một hữu thể hoàn hảo, vô hạn và đó là tất cả chúng ta. Thánh Tô-ma ca ngợi sự đa dạng, hữu hạn và không hoàn hảo — bởi vì Chúa đã tạo ra chúng.


11. Các thụ tạo kéo chúng ta xa hay tiến lại gần Chúa? Có nhiều người hoài nghi thế gian bởi vì họ xem nó là một sự cám dỗ khiến con người yêu thích những sự trên thế gian thay vì Thiên Chúa. Bạn có thể tìm thấy tâm lý tiêu cực này ngay cả ở những vị thánh và những nhà tư tưởng vĩ đại, chẳng hạn như Thánh Augustinô. Và bạn cũng thấy nó ở những con người hiện đại, những người thích nói về “tâm linh” như mục tiêu của tôn giáo thay vì nên thánh. Nhưng Thánh Tô-ma không phải là thành viên của “chủ nghĩa duy linh”. Trên thực tế, ngài nói rằng “các thụ tạo không rút chúng ta xa khỏi Chúa, nhưng dẫn chúng ta đến với Người.” Ngài trích dẫn lời Thánh Phao-lô để chứng minh điều này: “Những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa… thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người.” Và Thánh Tô-ma giải thích: “Vậy, nếu chúng rút con người xa khỏi Chúa, thì đó là lỗi của những người đã sử dụng chúng một cách điên rồ. Và chính việc chúng có thể rút chúng ta xa khỏi Chúa chứng tỏ rằng chúng đến từ Người, vì chúng không thể dẫn kẻ điên rồ xa khỏi Thiên Chúa, trừ khi dựa vào những sự quyến rũ của một số điều thiện mà họ có được từ Người.”

12. Tiếp theo, Thánh Tô-ma hỏi rằng “Liệu vũ trụ cũng như con người có Thiên Chúa là cùng đích của nó không?” Và câu trả lời mà ngài đưa ra là có. Sau này, trong phần nội dung liên quan đến luân lý học, ngài sẽ cố gắng chứng minh rằng không có gì kém hơn Chúa có thể là cùng đích của chúng ta, nhưng ở đây, ngài nói điều tương tự về toàn bộ vũ trụ, vì luật nhân quả cuối cùng. Nguyên nhân tối hậu khiến hạt sồi phát triển thành cây sồi là vì cây sồi giống với Chúa hơn. Mọi thứ xảy ra bởi vì Thiên Chúa là sự thiện tối hậu và nguyên nhân cuối cùng của chúng, là cùng đích cũng như nguồn gốc của chúng.


Thành quả thực tiễn của ý tưởng này là tầm nhìn cổ xưa về một vũ trụ có mục đích theo cứu cánh luận, rằng vũ trụ giống chúng ta hơn là như chúng ta thường nghĩ. Nó không chỉ là một tập hợp của các hạt cơ bản hay trường năng lượng mù và câm, nhưng giống như một ngôi nhà để chúng ta sinh sống. Và điểm trọng tâm của vũ trụ luận như vậy không chỉ là về vũ trụ, mà còn về chúng ta. Chủ nghĩa duy vật hiện đại giảm chúng ta xuống thành một thứ gì đó tuyệt nhiên không có mục đích, giống như một vũ trụ vật chất đơn thuần; nhưng vũ trụ luận cổ đại điển hình của Thánh Tô-ma đã nâng vũ trụ lên thành một thứ có mục đích giống như chúng ta.


Điều gì đang diễn ra trong vạn vật

13. Aristotle, phát ngôn viên của lẽ thường thời cổ đại, nói rằng một số điều xảy ra cách ngẫu nhiên, trong khi một số khác xảy ra do tự nhiên hoặc do nghệ thuật của con người. Khi Ki-tô Giáo đến với thế giới, nó đã thêm nhiều phạm trù vào tư tưởng ngoại giáo, nhưng đây là một trong những điều đã bị loại trừ: Trong một vũ trụ được tạo dựng, thiết kế và chăm sóc cẩn thận bởi một vị Thiên Chúa toàn trí và trọn vẹn yêu thương, không có gì xảy ra mà đơn thuần là ngẫu nhiên cả. Thánh Tô-ma nói rằng: “Mọi thứ đều là chủ thể đối với sự quan phòng của Thiên Chúa.” Vì vậy, sự ngẫu nhiên (hay tình cờ) có thể chỉ có nghĩa là sự thiếu hiểu biết chủ quan của con người, chứ không phải bất cứ điều gì có thật cách khách quan. Thánh Tô-ma đưa ra ví dụ: “Chẳng hạn như cuộc gặp gỡ của hai người tôi tớ, mặc dù đối với họ, nó dường như một tình huống ngẫu nhiên, những thực tế đã được lường trước hoàn toàn bởi ông chủ, người đã cử họ đến gặp nhau một cách có chủ định tại một địa điểm theo cách mà hai người họ không hề biết về nhau.” Vì vậy, Thiên Chúa có thể chủ tâm đưa vào thiết kế của Người những yếu tố vũ trụ xuất hiện cách ngẫu nhiên trong tâm trí con người. Chỉ cần thay thế hai người tôi tớ vừa nêu bằng “một nhà khoa học” và “một hạt hạ nguyên tử”, bạn sẽ có được chỗ đứng cho lý thuyết lượng tử. Khái niệm khoa học về tính ngẫu nhiên trong các lĩnh vực như vật lý lượng tử, chọn lọc tự nhiên, hay bánh xe cò quay trong sòng bạc sẽ tương thích về mặt logic với sự toàn trí và quan phòng của Thiên Chúa. Không có gì thực sự nhường lời giải thích cho sự ngẫu nhiên, nhưng một số thứ có thể cần thiết phải xuất hiện với chúng ta theo cách như vậy.

14. Sự quan phòng của Thiên Chúa hoạt động như thế nào? Thánh Tô-ma trả lời câu hỏi này bằng cách sử dụng nguyên tắc ân sủng giúp hoàn thiện bản tính. Giống như một người quản lý tài ba, Thiên Chúa cai quản thế giới nhờ các cấp dưới của Người. Thánh Tô-ma nói:

Vì những thứ được cai quản nên được hoàn thiện bởi sự cai quản, và sự cai quản sẽ càng tốt nếu mức độ hoàn thiện của những thứ được cai quản càng cao. Và sẽ có một sự hoàn hảo hơn nếu một thứ không những chỉ tốt tự nơi mình, nó còn là nguyên nhân của sự tốt đẹp nơi những thứ khác. Do đó, Thiên Chúa cai quản mọi sự đến nỗi Người khiến cho một số trong số chúng trở thành nguyên nhân của những thứ khác trong sự cai quản; như một người thầy, Người không chỉ truyền đạt kiến ​​thức cho học trò của mình mà còn ban cho họ khả năng trong việc dạy dỗ người khác.


Đây là lý do căn bản nhất để có thể nói Thánh Tô-ma hẳn sẽ không gặp khó khăn về mặt thần học với thuyết tiến hóa. Trên thực tế, ngài sẽ thấy việc sử dụng các sức mạnh tự nhiên như “chọn lọc tự nhiên” thể hiện sự hoàn hảo trong Chúa hơn là sự sáng tạo đặc biệt của từng loài bằng phép lạ. Phép lạ có, nhưng hiếm khi xảy ra. Sự quan phòng (hay an bài) khác với phép lạ chủ yếu nằm ở chỗ nó sử dụng những “nguyên nhân thứ hai” hay sức mạnh tự nhiên hơn là những sức mạnh siêu nhiên.

Thánh Tô-ma phản đối ý tưởng tôn giáo khá phổ biến và gắn liền với chủ nghĩa cơ yếu rằng có một số loại cạnh tranh nhất định giữa Thiên Chúa và tự nhiên. Ngài viết: “Một số người đã hiểu Thiên Chúa hoạt động trong mọi tác nhân theo cách mà không một sức mạnh thụ tạo nào có được bất cứ kết quả nào trong các sự vật, mà chỉ có một mình Thiên Chúa là nguyên nhân trực tiếp của mọi sự… Nhưng điều này là không thể. Thứ nhất, bởi vì trật tự của nguyên nhân và kết quả sẽ bị tước khỏi các thụ tạo, và điều này có nghĩa là Đấng Sáng Tạo đã thiếu quyền năng, bởi vì nhờ quyền năng của Nguyên Nhân mà thụ tạo mới truyền xuống sức mạnh chủ động cho các kết quả của mình. Thứ hai, bởi vì những sức mạnh chủ động được coi là tồn tại trong các sự vật sẽ được truyền cho những thứ khác mà không có mục đích nếu những sức mạnh này thực sự không đạt được gì thông qua chúng.”


15. Vì ân sủng hoàn thiện và sử dụng bản tính, điều này cũng áp dụng cho ý chí tự do của con người vốn cũng xảy ra dưới sự quan phòng của Thiên Chúa. Theo Thánh Tô-ma, trên thực tế, hầu hết mọi thứ đều đang diễn ra; tuy nhiên, điều này không đe dọa đến trật tự tự nhiên của các sự vật, nhưng lấp đầy nó một cách chính xác. Đó là lý do cơ bản giải thích tại sao ý chí tự do của con người không bị đe dọa bởi sự quan phòng hay tiền định của Thiên Chúa. Thánh Tô-ma viết: “không gì có thể xảy ra ngoài mệnh lệnh từ sự cai quản của Thiên Chúa”, nhưng “là một phần của sự cai quản mà ở đó, những điều tự nhiên xảy ra theo tự nhiên và những lựa chọn tự do xảy ra theo ý chí tự do của con người”.

16. Nhưng vẫn còn chỗ được dành ra cho những điều kỳ diệu. Thánh Tô-ma hỏi rằng “liệu Thiên Chúa có thể làm bất cứ điều gì ngoài trật tự tự nhiên đã được thiết lập hay không”, và ngài đưa ra câu trả lời là có, bởi vì “Người không phụ thuộc vào trật tự của những nguyên nhân thứ hai (hay thứ yếu), nhưng trái lại, trật tự này phụ thuộc vào Người.”

Thánh Tô-ma không bảo vệ các phép lạ một cách công phu bởi vì không có ai trong thời đại của ngài đặt ra câu hỏi về chúng. Dường như đối với ngài, và đối với toàn bộ thế giới Ki-tô Giáo thời trung cổ, việc tin vào các phép lạ là hoàn toàn hợp lý, bởi họ tin rằng Thiên Chúa có thể thực hiện được những điều như vậy. Nếu ngay từ đầu đã có một vị Thiên Chúa thực hiện phép lạ lớn lao là tạo ra vũ trụ, thì việc chùn bước trước những phép lạ nhỏ bé dường như là điều phi lôgic. Thánh Tô-ma, với tư cách là một học trò của Thánh An-béc-tô Cả, chắc hẳn đã bảo vệ khoa học. Nhưng ngài không bao giờ bảo vệ các phép lạ nhằm chống lại khoa học vì ngài không bao giờ nhìn thấy bất kỳ vấn đề hay xung đột nào giữa chúng.