Triết học của Thánh Tô-ma A-qui-nô – Triết gia Peter Kreeft

Bài 8: Siêu hình học của Thánh Tô-ma

Bây giờ, chúng ta bắt đầu một loạt các bài học tuân theo trật tự triết học hơn là thần học của Tổng luận thần học. Bốn bộ phận quan trọng nhất của triết học là siêu hình học, nhân học triết học, nhận thức luận (hoặc lý thuyết về tri thức) và luân lý học (hay đạo đức học). Siêu hình học là cơ bản nhất vì nó giải quyết những gì là có, những gì là thật. Mọi thứ đều phụ thuộc vào điều đó. Ví dụ, nếu bạn tin rằng chỉ có vật chất là có thật chứ không phải linh hồn — nếu bạn là một người theo chủ nghĩa người duy vật trong siêu hình học của mình — thì nhân học triết học của bạn sẽ tuân theo điều đó, bạn sẽ phủ nhận rằng con người, về cơ bản, khác với động vật, và bạn cũng sẽ phủ nhận sự tồn tại của một phần hồn mang tính thuộc linh. Cùng với đó, nhận thức luận của bạn sẽ là một chủ nghĩa kinh nghiệm nghiêm ngặt, nơi không có chỗ dành cho sự độc lập của nhận thức mang tính phi vật chất, trí tuệ và có lý tính khỏi nhận thức cảm tính. Đồng thời, luân lý học của bạn sẽ chỉ tập trung vào của cải vật chất mà thôi.

Nhiều triết gia ngày nay phủ nhận tính hợp lệ của siêu hình học. Họ cho rằng nó không có chủ đề riêng biệt giống như các ngành khoa học và các bộ phận khác của triết học.

Câu trả lời của Thánh Tô-ma là, thứ nhất, mặc dù siêu hình học không có một chủ đề riêng biệt hay “đối tượng chất thể” nào, nhưng nó lại sở hữu một quan điểm, một góc nhìn riêng biệt hay còn được gọi là “đối tượng mô thức”. Tất cả các ngành khoa học đều nhìn vào hữu thể cách trực diện, nhưng siêu hình học nhìn hữu thể từ góc nhìn về các thuộc tính, quy luật và nguyên tắc phổ quát của chúng.

Thứ hai, siêu hình học không giải quyết vấn đề mọi thứ là gì, nhưng bất cứ thứ gì là gì. Heidegger tuyên bố rằng toàn bộ siêu hình học phương Tây, kể từ Plato trở đi, đều mắc tội “quên hữu thể” do họ chỉ tập trung vào vấn đề các sự vật là gì mà bỏ quên rằng thực tế chúng là gì. Nhưng Thánh Tô-ma không phải là đối tượng của lời phê bình cực đoan ấy, trong siêu hình học của ngài,  tính siêu việt của hành vi tồn tại đóng vai trò trung tâm.

Các triết gia hiện đại khác phản đối siêu hình học vì họ cho rằng nó đòi hỏi những thứ bắt nguồn từ góc nhìn của Thiên Chúa, từ tri ​​thức như thể của một đối tượng đứng bên ngoài các hữu thể mà quên rằng chính chúng ta cũng chỉ là một phần của tổng thể các hữu thể. Câu trả lời của Thánh Tô-ma là trích dẫn từ câu nói nổi tiếng của Aristotle: “triết học bắt đầu từ sự ngạc nhiên”, và chúng ta không chỉ ngạc nhiên về một số hữu thể, nhưng về toàn bộ các hữu thể. Và chính thực tế rằng chúng ta có thể đặt ra những câu hỏi về các hữu thể trong cái nhìn tổng thể cũng cho thấy rằng chúng ta không chỉ là một phần của tổng thể đó. Việc đặt câu hỏi về một sự vật không phải là một trong những phần của sự vật đó. Hành động ngạc nhiên về x chỉ có thể được thực hiện bởi một cái gì đó lớn hơn x.

Hầu hết các triết gia hiện đại đều phản đối siêu hình học vì những nhận thức luận hạn chế và hoài nghi của họ. Chẳng hạn, những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm của Thomas Hobbes hay David Hume đã quên rằng chính trí óc con người đang tự hạ thấp nó để trở thành, theo cách gọi của Hobbes, “kẻ do thám cho các giác quan”, và không thể giải thích những vấn đề mà chính mình tự hỏi. Còn với những người theo Kant, họ hạ thấp những gì con người có thể hiểu biết thành các hiện tượng hay vẻ bề ngoài, đồng thời, phủ nhận khả năng hiểu biết về “sự vật tự chúng”, và vì thế, mâu thuẫn với chính mình, vì điều họ nói có nghĩa rằng quả là đúng chứ không chỉ là vẻ bề ngoài đối với quan điểm là chúng ta không thể biết gì về thực tại, nhưng chỉ là vẻ bề ngoài.

Nhu cầu của chúng ta muốn hiểu biết về tất cả các hữu thể là một trong hai cơ sở hình thành nên siêu hình học của Thánh Tô-ma. Điều còn lại chính là khả năng hiểu rõ, hay khả năng hiểu biết, về tất cả các hữu thể. Nếu bất kỳ hữu thể nào cũng đều không thể hiểu được về mặt bản chất và không thể biết được về mặt nguyên tắc, thì hiển nhiên, khao khát tự nhiên và bẩm sinh muốn tìm hiểu về chúng sẽ khiến chúng ta cảm thấy nản lòng, và điều này đơn giản là vô lý. Thay vì một sự thèm khát thứ thức ăn không có, một cơn đói không tồn tại như vậy, Thánh Tô-ma khẳng định rằng trí thông minh và khả năng hiểu biết của con người được sinh ra là để dành cho nhau, là để mở ra cho nhau, giống như Romeo và Juliet của vũ trụ vậy.

Điều này đưa chúng ta đến với một nguyên tắc loại suy thú vị mà với Thánh Tô-ma, nó là một thuộc tính của thuật ngữ “hữu thể”, của khái niệm hữu thể và của hữu thể tự nó. Một khái niệm loại suy không tạo ra sự giống nhau hay khác nhau hoàn toàn trong tất cả các cách sử dụng. Những khái niệm như “hai” hay “Boston, Massachusetts” là đơn nghĩa: nó có cùng một ý nghĩa duy nhất trong bất cứ hoàn cảnh nào. Trong khi đó, những thuật ngữ bóng bẩy hay mơ hồ có thể mang hai hay nhiều ý nghĩa không liên quan đến nhau, chẳng hạn như chữ đá trong từ hòn đá và đá bóng. Nhưng một khái niệm loại suy thì khác, nó có một phạm vi bao gồm nhiều ý nghĩa liên quan đến nhau, chẳng hạn như chữ “biết” khi nói về một con cá vàng “biết” chỗ đặt thức ăn trong bể, một con chó “biết” giọng nói của chủ, một người học trò “biết” triết học của Thánh Tô-ma, và Thiên Chúa “biết” vũ trụ (universe) mà Người đã sáng tạo. Đối với Thánh Tô-ma, “hữu thể” hay “tồn tại” cũng có một phạm vi ý nghĩa loại suy tương tự.

Một vấn đề được phép loại suy giải quyết là việc làm thế nào để chúng ta có thể biết bất cứ điều gì về Thiên Chúa. Nếu chúng ta hiểu tất cả các thuộc tính của Người là những thuật ngữ đơn nghĩa, thì thần học của chúng ta sẽ mang tính nhân hình. Mặt khác, nếu các thuật ngữ về Thiên Chúa mà chúng ta sử dụng là lập lờ nước đôi, thì chúng không cho chúng ta biết bất cứ điều gì về Người cả, thần học của chúng ta, vì thế, sẽ thuộc về thuyết bất khả tri. Nhưng nếu các thuộc tính của Thiên Chúa là loại suy, thì chúng ta biết được một số hình ảnh phản chiếu thực sự về Người mặc dù mờ nhạt — giống như Nước Trời và những câu chuyện dụ ngôn.

Nếu một thuật ngữ là loại suy, chúng ta phải phân biệt nhiều ý nghĩa khác nhau nhưng có liên quan của nó. Và Thánh Tô-ma đã tạo ra sự phân biệt đó, trước hết, giữa hữu thể có thực (thực thể) và hữu thể tinh thần dựa trên một tiêu chuẩn, đó chính là hành vi tồn tại. Hữu thể có thực tồn tại tự nó; còn hữu thể tinh thần thì không. Loại tồn tại duy nhất mà một khái niệm, một thứ trừu tượng, một thứ mơ tưởng, hay một cấu trúc tâm lý có được là sự tồn tại của người suy tưởng. Hữu thể có thực tồn tại và chúng có thể tạo ra khái niệm, nhưng khái niệm không thể tạo ra thực thể, vì bản thân chúng không tồn tại, chúng không thể tạo ra bất cứ thứ gì khác tồn tại.

Nguyên tắc mà Thánh Tô-ma sử dụng ở đây là thực thể hành động bởi vì nó thực hữu. “Agere sequitur esse”: Hoạt động theo sau hành vi tồn tại. Thánh Tô-ma gọi hoạt động là “hành vi thứ hai” và thực tế tồn tại là “hành vi đầu tiên” (hay “hành vi đệ nhất”). Và nguyên lý rất trừu tượng này có nghĩa là sự tồn tại luôn luôn hoạt động, luôn tự hiến mình cho thứ gì đó trong một hành vi của lòng quảng đại hữu thể học — như thể sự tự hiến được dựng lên trong chính bản chất của sự tồn tại. Tại sao điều này phải như vậy quả là một mầu nhiệm lớn, nhưng lời giải thích thần học của Thánh Tô-ma là nó bắt nguồn từ chính bản chất của Thiên Chúa là tình yêu tự hiến và thực tế là tất cả các hữu thể khác đều là những hình ảnh loại suy của Người.

Một trong những đặc tính được gọi là siêu việt, hay tuyệt đối phổ quát, của tất cả mọi hữu thể là trở nên duy nhất. Thánh Tô-ma định nghĩa nó theo cách này — “trở nên duy nhất là trở nên không bị phân chia trong chính nó và đồng thời, phân tách nó khỏi những cái khác” — để gắn kết và tạo ra sự khác biệt giữa một hữu thể với những hữu thể khác.

Tính đơn nhất này cũng là loại suy: Thiên Chúa là Đấng cao hơn một linh hồn con người; nhân vị con người cao hơn một con vật, vì chúng ta có thể nói “Tôi” một cách có ý nghĩa; và một con vật cao hơn một loài thực vật. Và thậm chí một cái cây còn hơn một tảng đá, hay một nguyên tử, hay một hạt hạ nguyên tử.

Nhưng các hữu thể vừa duy nhất (nhất thể) cũng lại vừa có nhiều (đa phức), đó rõ ràng là một sự mâu thuẫn. Parmenides đã giải quyết điều này bằng cách đơn giản là phủ nhận một nửa của nghịch lý, rằng có nhiều — và vì thế, biến đổi — là cái nhiều trong thời gian, cái nhiều của trước và sau, và như vậy, ông đã trở thành người đầu tiên theo thuyết nhất nguyên và phiếm thần trong triết học. Đối lập với Parmenides là Heraclitus, người phủ nhận tính duy nhất và vĩnh cửu, và nổi tiếng với câu nói rằng thực tại giống như một dòng sông mà bạn không bao giờ có thể tắm hai lần. Plato đã giải quyết vấn đề bằng cách phân biệt hai thế giới bao gồm một thế giới thấp hơn của vật chất (vốn có nhiều) và một thế giới cao hơn của các mô thức Plato mang đặc tính duy nhất. Aristotle đã nối kết hai thế giới của Plato bằng học thuyết của mình rằng một thực thể bao gồm đồng thời cả chất thể và mô thức.

Thánh Tô-ma đã xác định sai lầm của Parmenides và những người theo thuyết nhất nguyên bằng cách nói rằng: “họ rơi vào sai lầm vì đã nghiên cứu về hữu thể như thể nghĩ rằng nó là một khái niệm đơn nghĩa và là một bản chất… tuy nhiên, điều này không thể có được, vì nó là mang tính loại suy… Parmenides lập luận rằng: ‘bên ngoài hữu thể không có gì khác ngoài cái không phải là hữu thể (phi hữu thể), và cái không là hữu thể thì không là gì cả. Bởi vì hữu thể là duy nhất, bất cứ thứ gì ở bên ngoài cái duy nhất đều không là gì cả.’ Từ lập luận này, có thể thấy rõ rằng Parmenides đã nghĩ đến khái niệm hữu thể, thứ dường như luôn là duy nhất, giống nhau và đơn nghĩa, vì quả là không thể tưởng nghĩ ra một thứ gì đó được thêm vào khái niệm hữu thể để từ đó, một khái niệm về hữu thể được phân biệt với những cái khác. Vì thứ được thêm vào hữu thể nhất thiết phải là một thứ gì đó nằm bên ngoài và phân biệt với hữu thể. Nhưng thứ duy nhất nằm bên ngoài, hay không liên quan đến hữu thể là cái phi hữu thể, hay không là gì cả. Do đó, có vẻ như quan niệm về hữu thể không thể bị biến đổi, không thể mang bất kỳ tính chất nào khác ngoài tính duy nhất, đơn nhất và đơn nghĩa.”

Nhưng nếu chỉ có một hữu thể duy nhất, thì tính cá thể là một cảm giác sai lầm. Nếu vũ trụ (universe) của nhiều sự vật chỉ là một giấc mơ thì ai đang mơ nó và tại sao? Thánh Tô-ma rõ ràng đã đứng quá xa về phía lẽ thường để có thể bị thuyết nhất nguyên cám dỗ.

Trong khi đó, thuyết đa nguyên triệt để mang trong nó màu sắc của chủ nghĩa duy danh: nó phủ nhận tính chân thực của bất cứ thuật ngữ phổ quát nào giống như hữu thể và giảm chúng xuống thành những từ ngữ đơn thuần hay những điều trừu tượng về mặt tinh thần. Và nếu hữu thể được quy cho những gì không có thực, thì siêu hình học quả là bất khả thi, hoặc là một câu chuyện hoang đường hay sai lầm nào đó được kế thừa từ quan niệm mê tín nguyên thủy rằng mọi từ ngữ phải đề cập đến một điều có thực.

Nhưng kinh nghiệm cho chúng ta thấy cả đơn và đa, cả duy nhất và có nhiều. Giống như trong khoa học, một giả thuyết tốt phải tính đến tất cả các dữ kiện chứ không thể chỉ một phần của nó.

Thánh Tô-ma giải thích tính đơn nhất của các hữu thể bằng thực tế là tất cả chúng đều chia sẻ hành vi tồn tại, thứ tự nó là đơn nhất và cũng là một hành vi đơn nhất như nhau nới mọi hữu thể. Nhưng các hữu thể khác nhau vì hành vi tồn tại này được tiếp nhận trong nhiều bản chất khác nhau.

Đối với Thánh Tô-ma, cũng như đối với Aristotle, chất thể không có nghĩa là các nguyên tử và phân tử có thật, nhưng là tiềm năng đón nhận mô thức. Mô thức là tính hiện thực trong mối quan hệ với chất thể. Khi tôi làm ra một bức tượng về một con ngựa hay một người đàn ông từ khối đất sét không có hình thù, hay mô thức, tôi áp đặt mô thức đã định trước lên một khối chất thể không được định hình. Hiện thực hoàn hảo hơn tiềm năng, do đó, mô thức hoàn hảo hơn chất thể.

Nhưng mô thức đó chỉ là tiềm năng đối với sự tồn tại. Mô thức của loài kỳ lân là khá hoàn hảo như một bản chất nhưng nó thiếu mất sự hoàn hảo tối quan trọng: sự tồn tại thực tế. Bởi vì đó là sự hoàn hảo tối thượng, nên Thánh Tô-ma đã gọi Thiên Chúa là hành vi tồn tại thuần khiết không giới hạn bởi bất kỳ bản chất hữu hạn nào.

Nhưng việc gọi Thiên Chúa là hành vi tồn tại nghe giống như đã giảm một Ngôi Vị Thần Linh có thực thành một thứ trừu tượng siêu hình. Nó khơi dậy ở Pascal một sự phản đối mãnh liệt: “hãy trả cho tôi Thiên Chúa của Áp-ra-ham, I-sa-ác và Gia-cóp, không phải Thiên Chúa của các triết gia và các nhà kinh viện.”

Đó là vì Pascal, giống như hầu hết chúng ta, coi sự tồn tại là điều hiển nhiên và nhìn vào nó như thể một thực tế, thay vì một hành vi. Đó chính là điểm mấu chốt: hành vi tồn tại không phải là một chân lý trừu tượng nào đó, nhưng là năng lượng thực tế và năng động của sự tồn tại. Các bản chất không phải là sự bổ sung tích cực cho sự tồn tại, những là giới hạn cho sự tồn tại, giống như hai bờ sông giới hạn một dòng sông. Đó là lý do tại sao Thánh Tô-ma nói rằng Thiên Chúa là sự tồn tại vô hạn và thuần khiết. Các thụ tạo chỉ là những hữu thể hữu hạn bởi vì sự tồn tại của chúng bị giới hạn bởi những bản chất hữu hạn.

Điều này có nghĩa rằng trong hành vi tồn tại, tất cả các hữu thể có một mối quan hệ họ hàng. Mọi thứ đều có thật bởi chúng có cùng một năng lượng hữu thể học. Nếu năng lượng đó là Thiên Chúa, thì chúng ta có thể hiểu được vì sao Người hiện diện khắp mọi nơi.

Đó chính là điều mà Etienne Gilson gọi là “tam đoạn luận vĩ đại”: Thiên Chúa là sự tồn tại tự nó, và sự tồn tại tự nó hiện diện mật thiết nhất trong lòng (trái tim) mỗi hữu thể. Vì thế, Thiên Chúa hiện diện mật thiết nhất trong lòng mỗi hữu thể.

Nếu trái tim của triết học là thâm nhập vào thực tại tối thượng, và nếu trái tim của tôn giáo là thực tập sự hiện diện của Thiên Chúa, thì đây chính là nơi mà triết học và tôn giáo gặp nhau.

Thiên Chúa hiện diện khắp mọi nơi, nhưng điều này không đồng nghĩa với thuyết phiếm thần, bởi chỉ nhờ tính siêu việt của hành vi tồn tại nơi tất cả các bản chất mà sự tồn tại mới có thể hiện diện cách mật thiết với mọi bản chất. Không một diễn viên nào có thể hiện diện trong mọi phân cảnh với mọi bạn diễn vào mọi thời điểm của một vở kịch, nhưng người sáng tạo siêu việt của vở kịch đó, hay tác giả, mới lới người hiện diện trong mọi diễn viên và màn diễn.

Cấp độ tiếp theo của vấn đề về tính duy nhất và có nhiều là cấp độ của mô thức và chất thể. Mô thức, hoặc chủng loại của con người, con bò, hay ngôi sao là duy nhất; nhưng trong vũ trụ có nhiều con người, nhiều con bò, nhiều ngôi sao khác nhau là bởi vì chất thể nhân mô thức lên và tạo thành nhiều hữu thể khác nhau từ cùng một mô thức.

Đối với các bản chất, mô thức không có nghĩa là hình dạng, một cái gì đó có tính chất nằm bên ngoài, mang tính chất thể và có thể nhìn thấy bằng các giác quan. Mô thức có nghĩa là bản chất. Mô thức là cái chung cho tất cả các chi của cùng một loài.

Nếu bạn phủ nhận các mô thức phổ quát, nếu bạn là người theo chủ nghĩa duy danh và giảm những thứ phổ quát thành những cái tên đơn thuần giống như nhiều triết gia hiện đại, thì bạn gặp phải một vấn đề nghiêm trọng khi giải thích tại sao tất cả chúng ta lại bình đẳng với nhau về mặt bản chất, trong khi không có cái gọi là bản chất phổ quát. Nếu như vậy, không gì có thể ngăn cản chúng ta nói rằng về mặt bản chất, có những cá nhân hay những chủng tộc thượng đẳng. Chỉ có một mô thức phổ quát mới cung cấp cơ sở thực sự cho sự bình đẳng về mặt bản chất. Nếu không có bản chất phổ quát, chúng ta không thể bình đẳng về bản chất.

Một hệ quả của cấu trúc mô thức – chất thể là nếu có các thiên thần, những hữu thể hữu hạn nhưng hoàn toàn thuộc linh mà không hề có chất thể, thì mỗi vị trong số họ phải là một loài riêng biệt, bởi vì chất thể phân biệt các cá thể khác nhau của cùng một loài trong khi các thiên thần có không có chất thể, do đó chỉ có mô thức mới có thể phân biệt họ. Sự khác nhau giữa các thiên thần không giống như giữa con người hay động vật mà giống như giữa các loài động vật, như loài bò khác biệt với loài gà.

Ngoài ra, có một vấn đề với cấu trúc mô thức – chất thể của Thánh Tô-ma khi nói đến tính cá thể của con người. Thánh Tô-ma nói rằng chất thể phân biệt nhiều hữu thể trong cùng một loài; nhưng liệu có phải chúng ta khác biệt nhau chỉ dựa vào chất thể và thân thể? Thánh Tô-ma chắc chắn không có ý như vậy; nhưng ngài muốn nói rằng điều đầu tiên phân biệt loài người thành nhiều con người chính là sự khác nhau về mặt thể xác theo số lượng, trước khi chúng ta được phân biệt hơn nữa bởi sự khác nhau về mặt linh hồn. Làm sao chúng ta có được sự khác nhau về mặt linh hồn nếu trước đó, chưa có những thể xác vật chất khác nhau để tiếp nhận chúng. Linh hồn con người về cơ bản có liên quan đến thể xác, đến nỗi sau khi thân xác chết đi, linh hồn sẽ không hoàn bị cho đến khi có được một thân thể mới mà người theo Do-thái Giáo, Ki-tô Giáo và Hồi Giáo gọi là sự phục sinh.

Một trong những nan đề sớm nhất trong lịch sử triết học là nan đề được nêu ra bởi Parmenides: Việc nói rằng một sự vật biến đổi có vẻ tự mâu thuẫn, vì nó có vẻ giống như nói rằng thứ đó, một khi biến đổi, thì không còn là nó nữa; nhưng nếu nó không còn là thứ đó nữa, thì nó không phải là thứ đã biến đổi. Giải pháp của Parmenides cho nan đề này đơn giản là phủ nhận sự biến đổi và tuyên bố rằng nó chỉ là cảm giác sai lầm mà các giác quan đã đánh lừa chúng ta. Aristotle giải quyết nó bằng cách phân biệt hai nguyên lý siêu hình là hiện thể (act) và tiềm thể (potency), hay hiện thực (actuality) và tiềm năng (potentiality). Thánh Tô-ma đã mượn điều này từ Triết gia và lập luận rằng: một hữu thể đang biến đổi phải khác đi cách nào đó vào cuối quá trình biến đổi, nếu không thì không có sự biến đổi nào. Tuy nhiên, nó phải là cùng một hữu thể, vì vậy cần phải có một tính chất liên tục và trải dài liên tục căn bản nào đó. Aristotle gọi đó là nguồn của tiềm thể liên tục hay tiềm năng liên tục: một khuynh hướng trong hữu thể giúp nó đón nhận những loại hiện hữu mới.

Tiềm năng không thể nhìn thấy bằng các giác quan, vì vậy, đối với khoa học, nó được xác định là không thể quan sát được. Nó kết nối chặt chẽ với một ý tưởng tiền hiện đại khác mà khoa học hiện đại thường hoài nghi, đó là ý tưởng về bản tính của một sự vật. Thánh Tô-ma định nghĩa bản tính là “trung tâm vĩnh cửu của hành động”. Vì vậy, bản tính là một tập hợp các tiềm năng cho hành động. Chẳng hạn bản tính của lửa là đốt cháy, và bản tính của loài chim là bay,…

Giống như Aristotle, Thánh Tô-ma định nghĩa sự biến đổi là sự chuyển đổi từ tiềm năng thành hiện thực, và ngài phân biệt hai loại biến đổi khác nhau: biến đổi tùy thể và biến đổi bản thể hay bản chất. Lấy ví dụ, đối với một con người, già hơn, thông minh hơn, hay béo hơn là những biến đổi về các tùy thể, nhưng khi chết đi, đó là sự biến đổi trong bản chất.

Trong sự biến đổi tùy thể, phải có một thứ gì đó vẫn giữ được y nguyên trong suốt quá trình biến đổi. Chúng ta biết điều này bằng kinh nghiệm trực tiếp từ nội tại, vì chúng ta biết rằng mình vẫn là một con người khi trải qua sự biến đổi tùy thể, chẳng hạn như khi thức dậy hay nhớ lại điều gì. Do đó, chúng ta có kinh nghiệm trực tiếp về thực tế rằng minh có một sự đồng nhất về mặt bản thể.

Nhưng điều này không có nghĩa rằng bản thể là chất trơ, nhưng là thứ có thể biến đổi. Tuy nhiên, dù có như vậy, nó vẫn là chính nó. Nó giữ tính đồng nhất của mình, nói cách khác,  “tự đồng nhất” không có nghĩa là “không biến đổi”.

Và loại biến đổi thứ hai là biến đổi bản thể hay biến đổi bản chất. Điều này xảy ra hai lần với mỗi người chúng ta: lần đầu tiên là khi chúng ta được sinh ra, hay đúng hơn, khi chúng ta được thụ thai trong lòng mẹ, và sau đó là khi chúng ta chết. Tử thi không phải là nhân vị nữa, nó không phải là bất kỳ loại nhân vị nào. Tuy nhiên, vẫn có một số nguyên tắc về tính liên tục ngay cả trong sự biến đổi bản thể. Trong sự biến đổi tùy thể, nguyên tắc đó là bản thể, được cấu thành từ mô thức và chất thể về bản chất. Trong sự biến đổi bản thể, hay biến đổi bản chất, mô thức về bản chất không còn nữa, vậy nguồn của tính liên tục và tính đồng nhất sau đó là gì? Và nó tất phải là chất thể.

Tuy nhiên, “chất thể” ở đây không có nghĩa là các nguyên tử và phân tử có thực mà trong đó, luôn có mô thức hay thứ gì khác, như hydro hay nitơ chẳng hạn. Đó là chất thể có mô thức; còn đây là thể không mô thức, chất thể vô hình, hay theo cách gọi của Thánh Tô-ma: “chất thể đầu tiên” (hay “chất thể đệ nhất”). Nó là tiềm năng, không phải hiện thực. Bạn không thể nhìn thấy nó, nhưng bạn phải thừa nhận thực tại của nó để giải thích tính liên tục trong biến đổi bản chất. Đó là một ý tưởng hoàn toàn trừu tượng. Bạn sẽ không bao giờ tìm thấy chất thể đầu tiên trong ống nghiệm hay trên bàn ăn của mình. Tuy nhiên, bất cứ khi nào bạn ăn một quả táo (apple), nó vẫn ở đó: nó là thứ đã mất đi tính chất táo (appleness) và trở thành một phần cơ thể bạn. Bạn không phải là một quả táo, nhưng bạn đã ăn một quả táo. Đó là thực tế theo lẽ thường mà khái niệm rất trừu tượng này giải thích.

Nguyên tắc siêu hình quan trọng nhất mà Thánh Tô-ma sử dụng trong Tổng luận thần học là nguyên tắc nhân quả. Chúng ta đã thấy ngài sử dụng điều này trong năm cách thức chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa. Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu sâu hơn một chút về nguyên ắc siêu hình tự nó.

Nối gót Aristotle, Thánh Tô-ma phân biệt ra bốn nguyên nhân, bốn loại nhân quả bao gồm: mô thức và chất thể là hai nguyên nhân nội tại — nguyên nhân mô thức và nguyên nhân chất thể; nguyên nhân hữu hiệu (hay nguyên nhân thành sự) và nguyên nhân cùng đích (hay nguyên nhân cuối cùng) là hai nguyên nhân ngoại tại. Chúng ta ngày nay thường không sử dụng từ “nguyên nhân” để chỉ các nguyên nhân nội tại nữa. Chúng ta có thể gọi bốn nguyên nhân đó là bốn sự giải thích, hay bốn yếu tố giải thích cần phải có để hiểu biết một sự vật cách hoàn toàn: hai yếu tố bên trong và hai yếu tố bên ngoài sự vật. Hai yếu tố bên trong là mô thức và chất thể, còn hai yếu tố bên ngoài là nguồn gốc và cùng đích của nó.

Loại nguyên nhân mà Aristotle và Thánh Tô-ma gọi là nguyên nhân cùng đích, là một trong số những quan niệm đã loại bỏ bởi hầu hết các triết lý hiện đại vì nó không phải là một quan niệm khoa học. Nhưng có một lập luận tốt theo lẽ thường dành cho nó. Chúng ta lưu ý rằng mọi sự vật đều hành động theo những cách thức xác định, với những phương hướng xác định. Chó con luôn phát triển thành chó trưởng thành, chim thì bay và cá thì bơi. Chó con không bao giờ lớn thành mèo và đất đá không bao giờ bơi cả. Nhân quả cùng đích chỉ đơn giản là lời giải thích cho thực tế rằng: các sự vật đều hướng đến những cùng đích cụ thể. Nhân quả hữu hiệu cung cấp sức mạnh, nhưng nhân quả cùng đích định hướng nó. Nếu nguyên nhân là trí thông minh, chúng ta nói rằng nó thiết kế các hành vi của nó. Nhưng những hữu thể trong tự nhiên, những ữu thể không có trí thông minh, cũng tiến tới cùng đích mặc dù chúng không có trí tuệ để thiết kế điều đó. Có lẽ thực tế này chứng minh sự tồn tại của một Trí Tuệ Vũ Trụ có khả năng thiết kế, hay Thiên Chúa, giống như Thánh Tô-ma đã tuyên bố trong cách thức thứ năm của mình; và cũng có thể là không. Nhưng trong cả hai trường hợp, đó là thực tế, là dữ kiện cho thấy rằng hành vi của các sự vật trong tự nhiên được cấu trúc để hướng đến những cùng đích cụ thể.

Sau cùng, có một điểm quan trọng về nguyên nhân hữu hiệu. Aristotle coi nó chỉ là nguồn của sự biến đổi, nhưng Thánh Tô-ma coi nó còn là nguồn của sự tồn tại. Ngài lập luận rằng mọi thứ bắt đầu tồn tại đều cần một nguyên nhân hữu hiệu để giải thích cho sự tồn tại của nó. Tất nhiên, đây là một trong những tiền đề quan trọng cho những lập luận của ngài về Chúa. Nếu sự vật tự nó là nguyên nhân hữu hiệu cho sự tồn tại của chính mình, thì nó sẽ phải luôn tồn tại (điều đó chỉ đúng với Chúa), hoặc nếu không, nó sẽ phải tự ban sự tồn tại cho chính mình — điều đó là không thể có về mặt logic: không thứ gì có thể ban phát những gì nó không có.

Nhân quả hữu hiệu là một loại tự cung cấp nguyên nhân để dẫn tới kết quả, một loại tính yêu siêu hình. Và Dante gọi nó là “tình yêu làm di chuyển mặt trời và tất cả các vì sao”.


Câu hỏi

  1. Tại sao mô thức hoàn hảo hơn chất thể?
  2. Hãy cho biết một vài phạm trù được sử dụng trong siêu hình học và lẽ thường nhưng không thể sử dụng trong khoa học hiện đại?

Sách đề xuất

  • Kreeft, Peter, ed. — Summa of the Summa. San Francisco: Ignatius Press, 1990.

Sách khác

  • Clarke, W. Norris, S.J. — The One and the Many: A Contemporary Thomistic Metaphysics. Notre Dame, IN: University of Notre Dame Press, 2001.