Chú giải Tin Mừng Mác-cô

Chú giải Tin Mừng theo Thánh Mác-cô – Lược dịch từ cuốn Chú Giải Kinh Thánh của linh mục Công Giáo người Anh – George Leo Haydock (1774-1849). Trong quá trình dịch có bổ sung kiến thức tham khảo từ một số học giả Công Giáo khác.


Nhập đề

Thánh Mác-cô, tác giả cuốn Tin Mừng này là người tóm tắt Tin Mừng Mát-thêu (theo Thánh Augustinô), là môn đệ và thông ngôn của Thánh Phê-rô (theo Thánh I-rê-nê), là người mà Thánh Phê-rô gọi là con trong 1 Pr 5,13 (theo học giả Ôrigênê và Thánh Giê-rô-ni-mô).

Cha Stilting (?-1762), một linh mục Dòng Tên thuộc Hội Bollandist, đồng quan điểm với Thánh Giê-rô-ni-mô và một số người khác, khi cho rằng Thánh Mác-cô và ông Gio-an cũng gọi là Mác-cô, em họ ông Ba-na-ba (Cv 12,12; Cl 4,10) là cùng một người. Đây cũng là quan điểm chung của Giáo Hội ngày nay.

Tuy nhiên, ở thời đại của cha Haydock, ý kiến chung cho rằng đó hai người khác nhau, bởi ông Gio-an Mác-cô là môn đệ của Thánh Phao-lô, bạn đồng hành với Thánh Ba-na-ba và đã ở cùng với Thánh Phao-lô tại An-ti-ô-khi-a trong khi Thánh Mác-cô ở cùng với Thánh Phê-rô tại Rô-ma hoặc A-lê-xan-ri-a. Đây là ý kiến của học giả Êu-sê-bi-ô và Hồng y, nhà sử học Giáo Hội Xê-da Ba-rô-ni-ô (Caesar Baronius) (1538-1607).

Theo Jacobus Tirinus, Thánh Mác-cô không nằm trong số bảy mươi hai môn đệ của Chúa Giê-su (Lc 10,1) vì Thánh Phê-rô gọi ông là con, nghĩa là ông đã cải đạo sau cái chết của Chúa. Nhưng Thánh Ê-pi-pha-ni-ô thì đảm bảo với chúng ta rằng Thánh Mác-cô thuộc Nhóm Bảy Mươi Hai nhưng đã bỏ Chúa vì lời dạy của Người ở trình thuật Ga 6,66. Sau khi Chúa Phục Sinh, ông được Thánh Phê-rô cải đạo.

Tin Mừng theo Thánh Mác-cô được nhà truyền giáo viết bằng tiếng Hy-lạp thể theo yêu cầu của người La Mã và được Thánh Phê-rô duyệt lại trước khi cho phép nó được đọc trong các buổi họp cộng đoàn của các tín hữu. Do đó, theo học giả Tertullianô, có một số người đã gán Tin Mừng này cho Thánh Phê-rô.

Tin Mừng Mác-cô được liên kết với Tin Mừng Mát-thêu và thường có cùng một cách diễn đạt ở nhiều chi tiết, nhưng đã được bổ sung hoàn cảnh cụ thể và thay đổi thứ tự các trình thuật tương đồng với Tin Mừng Lu-ca và Gio-an. Có hai dữ kiện trong Tin Mừng Mác-cô không được Thánh Mát-thêu đề cập là: Tiền dâng cúng của bà góa nghèo (Mc 12,41-44) và việc Chúa hiện ra với hai môn đệ trên đường đến làng Em-mau (Mc 16,12-13). Ngoài ra, Tin Mừng này bổ sung một số phép lạ của Chúa (Mc 1,40; 7,32; 8,22-26) nhưng cũng thiếu nhiều chi tiết có trong Tin Mừng Mát-thêu. Tuy nhiên, không có điều gì chứng minh rõ ràng rằng nhà truyền giáo đã sử dụng Tin Mừng Mát-thêu khi biên soạn như quan điểm của tu sĩ Dòng Biển Đức Dom Remy Ceillier (1688-1761) và một số người khác. Các chi tiết trong Tin Mừng Mác-cô được trình bày ngắn gọn, súc tích dưới ngòi bút bình dị và thanh thoát.

Về cuộc đời Thánh Mác-cô, có một điều chắc chắn là ông đã được Thánh Phê-rô phái sang Ai-cập và đã được ngài bổ nhiệm làm Giám mục A-lê-xan-ri-a, thành phố lớn thứ hai trong đế quốc La Mã, chỉ sau thủ đô Rô-ma. Thông tin này được cung cấp và đảm bảo bởi học giả Êu-sê-bi-ô, Thánh Giê-rô-ni-mô và một số người khác. Trong những năm sau đó, ông tiếp tục chức vụ Giám mục của mình tại Giáo hội phồn thịnh này với sự thận trọng, nhiệt thành và thánh thiện. Ngày 24 tháng 4 năm 68, khi đang dâng lễ tại bàn thờ, ông bị những kẻ bắt bớ tới trói lại và điệu đi, kéo lê khắp phố phường của A-lê-xan-ri-a. Ông chịu tử đạo ngày hôm sau, 25 tháng 4 năm 68, dưới thời hoàng đế La Mã Nê-rô (32-68), chỉ ba năm sau sự tử đạo của Thánh Phê-rô và Thánh Phao-lô.


Chương 1

Câu 2-3. Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con – Câu này được kết hợp giữa Ml 3,1 và Is 40,3. Theo cha Robert Witham, Thánh Mác-cô mở đầu Tin Mừng của mình bằng cách viện dẫn thẩm quyền của các vị ngôn sứ, điều này giúp cho mọi người, cả người Do-thái và dân ngoại, sẵn lòng tiếp thu những gì ông thuật lại; vì thẩm quyền của các ngài rất được tôn trọng. Ở đây, Thánh Gio-an Tẩy Giả được giới thiệu là một sứ giả của Thiên Chúa. Bằng phép rửa và lời rao giảng của mình, ông chuẩn bị tâm hồn cho người Do-thái để họ đón nhận Đấng Mê-si-a.

Câu 4. để được ơn tha tội – Vì thế, một số người lập luận rằng phép rửa của ông Gio-an cũng có thể tha tội. Nhưng ở một nơi khác, ông nói: Tôi, tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh sám hối. Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa (Mt 3,11). Như vậy, không phải phép rửa của ông Gio-an có thể tha tội, nhưng là sự sám hối của tội nhân đã giúp họ được tha thứ những tội lỗi phạm phải trong quá khứ.

Câu 7. Có Đấng quyền thế hơn tôi – Ở đây, vị Tiền hô chưa công khai tuyên bố rằng Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa mà gọi Người là Đấng quyền thế hơn mình. Vì người Do-thái chưa được chuẩn bị cho sự xuất hiện của Người, nên ông dẫn dắt họ một cách khôn ngoan dựa theo mức độ hiểu biết mà Đấng Toàn Năng đã sắp đặt cho họ. Nhưng ông vẫn kín đáo tiết lộ cho họ rằng Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa, khi cho biết rằng Người sẽ làm phép rửa cho họ trong Thánh Thần. Không có ai ngoại trừ Thiên Chúa, có thể ban cho con người ân sủng đó.

Câu 10. Vừa lên khỏi nước – Chúa Giê-su đã chịu phép rửa của ông Gio-an theo cách ngâm mình hoàn toàn dưới nước sông Gio-đan. Phương pháp này đã được Giáo Hội sử dụng trong khoảng 1300 năm đầu tiên, dựa theo sắc lệnh các công đồng và các nghi lễ cổ xưa.

Câu 11. Lại có tiếng từ trời phán – Theo tu sĩ Charles Walmesley, hầu hết các Giáo Phụ đều trích dẫn câu này để làm bằng chứng về tín điều Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha đưa ra lời chứng, Chúa Con lãnh nhận và Chúa Thánh Thần cùng xuất hiện dưới hình dáng chim bồ câu.

Câu 15. Người muốn nói rằng: Từ trước tới nay, luật Mô-sê đã có đầy đủ hiệu lực; nhưng kể từ bây giờ, nó sẽ được thay thế bởi Luật Phúc Âm, vì nó không tương xứng với Nước Trời. Vậy hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, vì nếu chúng ta không tin, chúng ta sẽ không thể hiểu được.

Câu 16. Theo Giám mục Theophylact, chúng ta phải hiểu rằng những gì được thuật lại trong Lc 5,1-11 diễn ra trước những gì được Thánh Mác-cô trình bày ở đây. Vì các môn đệ có thể, trong một số dịp, đã quay trở lại việc đánh bắt cá cho tới khi Chúa Giê-su kêu họ trở thành những người hầu cận liên tục.

Câu 25. Chúa Giê-su không để ma quỷ làm chứng cho thiên tính của mình; tác giả của sự thật đã không chấp nhận lời chứng từ cha đẻ nghề nói dối. Qua việc quát mắng nó, Người dạy chúng ta không bao giờ được phép đặt niềm tin vào ma quỷ bất kể chúng báo trước điều gì.

Câu 27. Thánh Gio-an Kim Khẩu nói rằng ở đây, Chúa Giê-su đã khéo léo điều tiết lời dạy của mình cho phù hợp với đối tượng người nghe. Về khoảng thời gian mà Chúa chúng ta thực hiện sứ vụ rao giảng của Người, có một số quan điểm khác nhau nhưng quan điểm chung nhất là khoảng ba năm. Trong năm đầu tiên, người đã không vấp phải bất kỳ sự phản đối nào của Người Do-thái, đó là một năm hồng ân mà ngôn sứ I-sai-a đã nói (Is 61,2).

Câu 44. Chúa Giê-su không có ý cấm người phong hủi tiết lộ câu chuyện của anh ta với bất kỳ ai, nhưng Người muốn chỉ dẫn chúng ta rằng, khi làm các việc lành, không nên tìm kiếm những lời khen ngợi sáo rỗng của người khác vì công việc mình đã làm. Ngoài ra, qua việc truyền cho người được chữa lành dâng những gì ông Mô-sê đã truyền, Người khẳng định hiệu lực của Lề Luật cũ vẫn được duy trì cho đến Người hoàn tất Cuộc Thương Khó, nơi Người sẽ hiến mình làm hy lễ hoàn hảo dâng lên Chúa Cha và bãi bỏ mọi hy lễ mà Luật cũ đã truyền.