Chú giải Tin Mừng Mát-thêu

Chú giải Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu – Lược dịch từ cuốn Chú Giải Kinh Thánh của linh mục Công Giáo người Anh – George Leo Haydock (1774-1849). Trong quá trình dịch có bổ sung kiến thức tham khảo từ một số học giả Công Giáo khác.

Nhập đề

Tên gọi của các sách Tin Mừng cùng với tên riêng của các nhà truyền giáo không có nghĩa rằng những gì được viết trong sách chỉ đơn thuần là lời của các tác giả nhưng là Lời Chúa, được các tác giả ghi chép lại dựa trên thẩm quyền thiêng liêng và cảm hứng thiêng liêng. Trong Kinh Thánh cũng không có đoạn nào nói với chúng ta rằng những cuốn sách này là chân thực hay kinh điển. Nhưng dựa vào truyền thống, bằng chứng xác thực và thẩm quyền của Giáo Hội Công Giáo, chúng ta biết và tin tưởng chắc chắn vào những gì được viết ra.

Thánh Mát-thêu, tác giả của cuốn Tin Mừng này là một người Do-thái, sống tại Ga-li-lê và làm nghề thu thuế. Ông còn có một tên gọi khác là Lê-vi và là con của ông An-phê (Mc 2,14). Ông được Chúa Giê-su kêu gọi vào năm thứ hai trong sứ vụ rao giảng của Ngài. Trước khi rời Giu-đê để đi rao giảng Tin Mừng cho các quốc gia xa xôi, vào năm thứ tám sau khi Chúa Phục Sinh (năm 41 SCN), được đức tin thúc đẩy, ông đã viết cuốn Phúc Âm này.

Đề tài chính của Tin Mừng Mát-thêu là chứng minh Chúa Giê-su chính là Đấng Mê-si-a mà Cựu Ước tiên báo. Đối tượng độc giả được hướng tới là người Do-thái.

Chương 1

Câu 1. Lời giới thiệu về Đức Giê-su Ki-tô là con cháu Vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham khẳng định bản tính con người bên cạnh bản tính Thiên Chúa trong Ngài. Cũng trong câu này, ta thấy lần đầu tiên tên gọi của Chúa. Tên riêng Giê-su trong tiếng Do-thái (Jesuah) nghĩa là “Thiên Chúa Cứu Độ”. Còn danh xưng Ki-tô có nghĩa là “người được xức dầu”. Mặc dù trong Cựu Ước, ta thấy nhiều vị vua, tư tế, ngôn sứ cũng được xức dầu nhưng Đức Giê-su trổi vượt hơn họ vì Ngài được xức dầu bởi Thiên Chúa: “Chính vì vậy, Thiên Chúa là Thiên Chúa của ngài đã tôn phong ngài vượt trổi các đồng liêu mà xức cho dầu thơm hoan lạc.” (Tv 44,9; Dt 1,9)

Câu 2. Gia phả được bắt đầu từ ông Áp-ra-ham. Như vậy, lời hứa của Thiên Chúa với ông đã được thực hiện qua Đức Giê-su Ki-tô: “Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.” (St 12,3)

Câu 3. Xem St 38,6.

Câu 5. Không có chi tiết nào trong Cựu Ước nhắc đến cuộc hôn nhân của Xan-môn (R 4,19) và Ra-kháp (Gs 2,1). Tuy nhiên, điều này có thể được biết đến bởi truyền thống và nhà truyền giáo đã được linh hứng và xác nhận. Ra-kháp là một cô gái điếm ở Giê-ri-khô, người đã giúp ông Giô-suê do thám vùng đất này sau khi đưa dân Do-thái rời khỏi Ai-cập. Trong gia phả Đức Giê-su, có bốn người phụ nữ được nhắc đến, trong đó, hai người là người ngoại (Ra-kháp và Rút) và hai người phạm tội ngoại tình (Ta-ma và vợ ông U-ri-gia). Qua chi tiết này, những người tội lỗi có thể tìm thấy căn cứ để tin vào lòng thương xót của Chúa Giê-su Ki-tô và hy vọng được Người tha thứ. Để cứu độ chúng ta, Người không chỉ hạ mình bằng cách xuống thế cùng chung kiếp người với chúng ta mà còn bắt nguồn từ một dòng dõi có những người tội lỗi.

Câu 6. Dựa theo quan điểm từ cuốn Bài Giảng của Thánh Gio-an Kim Khẩu (347-407):

Có thể bạn sẽ đặt ra câu hỏi là tại sao chúng ta nói rằng Đức Giê-su thuộc dòng dõi vua Đa-vít trong khi:

Thứ nhất, dựa vào gia phả thì Thánh Giu-se là con cháu vua Đa-vít, nhưng Đức Ma-ri-a mang thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Tên của bà cũng không được nhắc tới trong gia phả này.

Thứ hai, nếu Đức Ma-ri-a thuộc dòng dõi vua Đa-vít thì chúng ta lấy cơ sở nào để khẳng định?

Để giải thích, chúng ra dựa vào Tin Mừng theo Thánh Lu-ca:

Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a. (Lc 1,26-27)

Như vậy, Đức Ma-ri-a đã thành hôn với Thánh Giu-se. Theo truyền thống của người Do-thái, người con gái sẽ chỉ lấy người trong cùng chi tộc của cha mình để gìn giữ gia nghiệp của cha ông:

chúng sẽ lấy người vừa mắt chúng, nhưng chỉ được lấy người thuộc thị tộc trong chi tộc của cha chúng. Như thế, gia nghiệp con cái Ít-ra-en sẽ không chuyển từ chi tộc này sang chi tộc khác, nhưng mỗi người con cái Ít-ra-en sẽ gắn bó với gia nghiệp của chi tộc cha ông mình. (Ds 36,6-7)

Qua đó, có thể khẳng định rằng Đức Ma-ri-a cũng thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Tất nhiên sẽ có những người lập luận rằng có thể Thánh Giu-se thành hôn với một người con gái không cùng chi tộc với mình. Nhưng nhà truyền giáo đã ngăn chặn sự nghi ngờ này bằng cách làm chứng rằng Thánh Giu-se là một người công chính và chắc chắn sẽ không vi phạm lề luật.

Cũng cần nói thêm rằng người Do-thái không có truyền thống ghi chép về phụ nữ trong gia phả. Nhà truyền giáo đã tôn trọng truyền thống này thay vì ghi lại gia phả liên quan đến Đức Ma-ri-a. Và Đức Giê-su cũng được thừa hưởng mọi quyền trong gia đình từ người cha nuôi Giu-se. Như thánh Phao-lô đã khẳng định trong Thư gửi tín hữu Rô-ma: “Xét như một người phàm, Ðức Giê-su Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Ða-vít.” (Rm 1,3b)

Câu 8. Giô-ram sinh Út-di-gia – Cần lưu ý rằng ba thế hệ đã bị lược bớt ở chi tiết này. Dựa vào 2 Sb 21-26, ta biết rằng: Giô-ram sinh A-khát-gia-hu, A-khát-gia-hu sinh Giô-át, Giô-át sinh A-mát-gia-hu, A-mát-gia-hu sinh Út-di-gia. Vậy đúng ra Giô-ram là ông cố chứ không phải là cha của Út-di-gia. Chi tiết này thực chất không ảnh hưởng tới toàn bộ gia phả. Có thể nhà truyền giáo đã lược bớt ba thế hệ kể trên để đảm bảo cuốn gia phả được chia ra ba phần, mỗi phần gồm mười bốn đời. Ngoài ra, cũng có lẽ vì ba triều vua bị lược bớt là các vua không đẹp lòng Thiên Chúa, họ không sống theo đường lối của Người và đi vào con đường thờ quấy hay đúng hơn, họ là dòng dõi vua A-kháp bị Thiên Chúa nguyền rủa qua sấm ngôn: “Này, Ta sẽ giáng tai họa xuống trên ngươi: Ta sẽ xóa sạch hậu duệ ngươi, Ta sẽ tiêu diệt các đàn ông con trai của A-kháp trong Ít-ra-en, đang bị ràng buộc hay được tự do. Ta sẽ làm cho nhà ngươi nên như nhà Gia-róp-am, con của Nơ-vát, và như nhà Ba-sa con của A-khi-gia, vì ngươi đã chọc giận Ta và đã làm cho Ít-ra-en phạm tội.” (1 V 21,21-22)

Câu 11. Như câu 17 đề cập, gia phả Đức Giê-su được chia làm ba phần, mỗi phần gồm mười bốn đời. Phần thứ nhất bắt nguồn từ ông Áp-ra-ham đến vua Đa-vít, phần thứ hai bắt đầu từ vua Sa-lô-môn tới vua Giơ-khon-gia và phần thứ ba, nếu không tính vua Giơ-khon-gia thì sẽ bắt đầu từ San-ti-ên và kết thúc ở Đức Giê-su. Tuy nhiên, khi đếm lại thì ta thấy phần thứ ba chỉ có mười ba đời. Theo quan điểm của Thánh Giê-rô-ni-mô (347-420), Giơ-khon-gia ở phần thứ hai và Giơ-khon-gia ở phần thứ ba là hai người khác nhau.

Lý giải sự khác nhau về gia phả Chúa Giê-su trong Tin Mừng Mát-thêu và Tin Mừng Lu-ca

Đối chiếu gia phả ta đang đọc với gia phả được nêu trong Lc 3,23-38, ta thấy có khác biệt tương đối lớn. Theo gia phả này thì Thánh Giu-se là con Gia-cóp và thuộc nhánh vua Sa-lô-môn; theo gia phả trong Tin Mừng Lu-ca, Thánh Giu-se là con Ê-li và thuộc nhánh Na-than (anh vua Sa-lô-môn). Như vậy, Đức Giê-su thông qua người cha nuôi Giu-se vẫn thuộc dòng dõi vua Đa-vít nhưng sẽ có người đặt câu hỏi về tính xác thực và sự mâu thuẫn này.

Chắc chắn hai nhà truyền giáo đã dựa vào các gia phả được ghi chép và giữ gìn cẩn thận trong dân Do-thái, đặc biệt là những người thuộc chi tộc Giu-đa và dòng dõi vua Đa-vít, dòng dõi mà Đấng Mê-si-a họ mong chờ sẽ sinh ra. Nếu những gia phả này không chính xác, hẳn nhiên hai cuốn Phúc Âm sẽ bị phản đối mạnh mẽ bởi người Do-thái – điều này không hề xảy ra.

Trong lịch sử Giáo Hội, có hai cách giải thích vấn đề này.

1. Cả hai gia phả đều là của Thánh Giu-se

Vậy thì rốt cuộc ông là con của Gia-cóp hay Ê-li?

Nhiều Giáo Phụ cho rằng Gia-cóp và Ê-li là anh em. Sau khi Ê-li qua đời mà không có con (hoặc ít nhất là không có con trai), Gia-cóp đã lấy vợ góa của Ê-li và sinh ra Thánh Giu-se. Do đó, theo huyết thống, Thánh Giu-se là con của Gia-cóp nhưng theo quyền thừa kế hợp pháp, ông cũng là con của Ê-li. Lời giải thích này nhận được sự ủng hộ của nhiều học giả Công Giáo, bao gồm Thánh Tô-ma A-qui-nô (1225-1274).

2. Gia phả Mt 1,1-17 là của Thánh Giu-se, gia phả Lc 3,23-38 là của Đức Ma-ri-a

Một quan điểm khác từ thời các Giáo Phụ cho rằng người cha Gia-cóp của Thánh Giu-se mất sớm và ông trở thành con nuôi của Ê-li / Thánh Gioa-kim thông qua việc kết hôn với Đức Ma-ri-a. Do đó, ông cũng được gọi là con của Ê-li.

Điểm mấu chốt của cách giải thích này là giả thuyết cho rằng Ê-li là tên gọi khác của Thánh Gioa-kim, thân phụ Đức Ma-ri-a. Đây là quan điểm đưa ra bởi Thánh Giê-rô-ni-mô, được nhà nghiên cứu Kinh Thánh là linh mục Dòng Tên Cornelius a’ Lapide (1567-1637) bảo vệ mạnh mẽ và được chấp nhận rộng rãi trong khoảng thời gian từ thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XX.

Dựa theo các tài liệu tin cậy ngoài Kinh Thánh, ta biết rằng song thân Đức Ma-ri-a là Thánh Gioa-kim và Thánh An-na. Về mặt ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu nhận thấy tên Joachim (Gioa-kim) dường như là một dạng biến thể của Eliacim, được viết tắt là Eli (Ê-li), một biến thể của Heli. Do đó, mặc dù hai cái tên thoạt nhìn có vẻ khá khác nhau nhưng có một sự tương đồng về ngôn ngữ rất lớn giữa Heli và Joachim.

Trong Tân Ước, ta cũng bắt gặp nhiều trường hợp cùng một người nhưng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như: Na-tha-na-en cũng gọi là Ba-tô-lô-mê-ô, Tô-ma cũng gọi là Đi-đy-mô, Sa-lô-mê cũng gọi là Ma-ri-a (tên đầy đủ của bà là Ma-ri-a Sa-lô-mê),…

Câu 18. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống – Dị giáo Hen-vi-đi-ô (Helvidius (340-390) là tác giả của một tác phẩm viết trước năm 383 đặt vấn đề nghi ngờ về sự đồng trinh trọn đời của Đức Ma-ri-a) đã dựa vào chi tiết này để lập luận là sau đó, có thể họ sẽ chung sống và ăn ở với nhau như các cặp vợ chồng khác. Thánh Giê-rô-ni-mô đã trả lời như sau:

Trong Kinh Thánh, những từ kiểu như “trước khi”, “cho đến khi” đặt trước một sự việc không biểu lộ những gì diễn ra sau đó hay có ý nói rằng sự việc đó chắc chắn xảy ra ở một thời điểm không xác định mà chỉ đơn thuần để khẳng định những gì được hoặc không được thực hiện. Ví dụ trong câu “Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân con.” (Tv 109,1) thì không có nghĩa sau khi mọi kẻ thù được đặt dưới chân Đức Ki-tô, Người không ngự bên hữu Chúa Cha nữa. Trong ngôn ngữ đời thường, khi ta nói một người nào đó qua đời trước khi được 30 tuổi thì không có nghĩa là anh ấy sẽ đạt đến tuổi 30 sau đó. Hay liệu chúng ta có nên nói rằng Hen-vi-đi-ô đã chết trước khi ông ta đền tội? Như vậy không có nghĩa là sau đó ông ta đã đền tội. Tương tự như vậy, trong câu này, ta chỉ hiểu rằng việc Đức Ma-ri-a thụ thai nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần đã xảy ra mà không phải do hai ông bà ăn ở với nhau.

Câu 19. Thánh Giu-se, một người công chính đã rất ngạc nhiên khi biết Đức Ma-ri-a mang thai dù hai ông bà chưa về chung sống. Nhưng thay vì tố giác bà hay đơn giản hơn là đưa cho bà một chứng thư ly dị, ông đã định bỏ bà cách kín đáo. Chúng ta hãy học đức tính này ở Thánh Giu-se trong việc tôn trọng danh dự của người khác. Đừng bao giờ giải trí bằng những suy nghĩ gây tổn thương hay vội vã nghi ngờ về phẩm giá của họ dù trong hoàn cảnh nào.

Câu 23. Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.” – Nguyên văn trong Sách Ngôn sứ I-sai-a: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en. (Is 7,14)

Một số người Do-thái phản đối chi tiết này vì cho rằng từ “alma” trong Sách ngôn sứ I-sai-a có nghĩa là một thiếu nữ chứ không phải trinh nữ. Điển hình là trong tác phẩm Đối thoại với Trypho của Thánh Giustinô Tử đạo (100-165) (Tác phẩm thuật lại các cuộc đối thoại thần học giữa Thánh Giustinô và một nhân vật tên Trypho nhằm khẳng định Đức Giê-su chính là Đấng Mê-si-a. Nhân vật Trypho được cho là thầy ráp-bi Do-thái tên Tarfon sống ở giai đoạn 70-135).

Thánh Giê-rô-ni-mô khẳng định rằng từ “alma” trong Kinh Thánh luôn luôn để nói về một người trinh nữ và ông lấy sự hiểu biết của mình để đảm bảo không có một chi tiết nào cho thấy từ này để chỉ một người không phải trinh nữ. Hơn nữa, câu trong sách Ngôn sứ I-sai-a kể trên đang nói về dấu lạ Thiên Chúa hứa làm cho vua A-khát. Nếu một thiếu nữ bình thường không trinh nguyên mà sinh con trai thì chẳng có gì là kỳ lạ hay lớn lao.

Ngoài ra, sẽ có người thắc mắc là trong các sách Tin Mừng, không có chi tiết nào cho thấy Chúa Giê-su được đặt tên là Em-ma-nu-en. Hãy lưu ý rằng Em-ma-nu-en là cái tên biểu thị với ý nghĩa “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Hơn nữa lời Sứ thần Gáp-ri-en là “người ta sẽ gọi”, tức là nói về cách người ta nhìn nhận, ca tụng Đức Giê-su chứ không phải nói về tên gọi. Nó cũng giống như các tên gọi khác mà người ta dành cho Ngài như Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian,…

Câu 25. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai – Xem chú giải câu 18 bên trên.