Đề mục 1. Các Á bí tích (Điều 1166 – 1172)

Điều 1166

Các á bí tích là những dấu chỉ thánh, nhờ đó, phần nào phỏng theo các bí tích, những hiệu quả, đặc biệt là những hiệu quả thiêng liêng, được biểu thị và được thông ban nhờ lời khẩn cầu của Giáo Hội.

Điều 1167

§1. Chỉ một mình Tông Tòa mới có thể thiết lập những á bí tích mới, hoặc chính thức giải thích những á bí tích đã được chấp nhận, hủy bỏ hoặc thay đổi á bí tích nào đó trong số các á bí tích ấy.

§2. Khi thiết lập hoặc ban các á bí tích, phải cẩn thận tuân giữ các nghi lễ và các thể thức đã được quyền bính Giáo Hội phê chuẩn.

Điều 1168

Thừa tác viên các á bí tích là giáo sĩ có quyền do luật đòi hỏi; chiếu theo quy tắc của các sách phụng vụ, giáo dân có tư cách xứng hợp cũng có thể ban một số các á bí tích, tùy theo sự thẩm định của Đấng Bản Quyền địa phương.

Điều 1169

§1. Những vị có ấn tích Giám mục cũng như các linh mục đã được luật cho phép hoặc đã được ban quyền cách hợp pháp, có thể cử hành thành sự việc thánh hiến và cung hiến.

§2. Bất cứ linh mục nào cũng có thể ban các phép lành, trừ những phép lành được dành riêng cho Đức Giáo Hoàng Rô-ma hoặc cho các Giám mục.

§3. Phó tế chỉ có thể ban những phép lành mà luật minh nhiên cho phép.

Điều 1170

Các phép lành phải được ban trước hết cho những người Công Giáo, nhưng cũng có thể được ban cho các dự tòng, và cho cả những người không Công Giáo nữa, trừ khi Giáo Hội ngăn cản điều đó.

Điều 1171

Các đồ vật thánh đã được được cung hiến hay đã được làm phép để dùng vào việc thờ phượng Thiên Chúa phải được sử dụng cách cung kính và không được dùng vào việc trần tục hay việc không thích hợp, mặc dù các đồ vật ấy thuộc quyền sở hữu cá nhân.

Điều 1172

§1. Không ai có thể trừ tà cách hợp pháp cho những người bị quỷ ám, trừ khi có phép đặc biệt và minh nhiên của Đấng Bản Quyền địa phương.

§2. Đấng Bản Quyền địa phương chỉ ban phép trừ tà cho một linh mục đạo đức, sáng suốt, khôn ngoan và có đời sống vẹn toàn.