Mục 1: Con người là hình ảnh của Thiên Chúa (1701–1715)

1701359

“Đức Ki-tô,… chính khi mặc khải về mầu nhiệm của Chúa Cha và về tình yêu của Ngài, đã biểu lộ cho con người cách rất đầy đủ về chính họ và cho họ thấy ơn gọi rất cao cả của họ.”2 Trong Đức Ki-tô, “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15),3 con người được tạo dựng “theo hình ảnh và giống như” Đấng Tạo Hóa. Trong Đức Ki-tô, Đấng Cứu chuộc và Cứu độ, hình ảnh thần linh, đã bị biến dạng nơi con người vì nguyên tội, nay được phục hồi trong vẻ đẹp nguyên thủy của nó và còn được nên cao trọng nhờ ân sủng của Thiên Chúa.4

17021878

Hình ảnh thần linh hiện diện trong từng con người. Hình ảnh đó rực sáng trong sự hiệp thông của các nhân vị, giống như sự duy nhất giữa các Ngôi Vị thần linh với nhau (x. Chương Hai).

1703363, 2258

Được phú ban một linh hồn thiêng liêng và bất tử,5 nhân vị là “thụ tạo duy nhất nơi trần thế mà Thiên Chúa đã muốn vì chính nó.”6 Ngay từ lúc tượng thai của mình, nhân vị được định hướng tới vinh phúc vĩnh cửu.

1704339, 30

Nhân vị được tham dự vào ánh sáng và sức mạnh của Thần Khí Thiên Chúa. Nhờ lý trí, nó có khả năng để hiểu biết trật tự muôn loài do Đấng Tạo hóa thiết lập. Nhờ ý chí, nó có khả năng để hướng mình tới điều thiện hảo thật của mình. Nó theo đuổi sự trọn hảo của mình bằng cách tìm kiếm và yêu mến những điều thiện hảo đích thực.7

17051730

Vì có linh hồn và các tài năng tinh thần là lý trí và ý chí, con người được phú ban sự tự do, là “dấu chỉ tuyệt hảo của hình ảnh thần linh.”8

17061776

Nhờ lý trí, con người nhận ra tiếng Thiên Chúa thúc đẩy mình “làm điều tốt và tránh điều xấu.”9 Mỗi người phải vâng theo lề luật này, một lề luật đang vang vọng trong lương tâm, một lề luật được chu toàn trong sự mến Chúa yêu người. Việc thực thi đời sống luân lý chứng tỏ phẩm giá của nhân vị.

1707397

“Tuy nhiên, ngay từ lúc khởi đầu lịch sử, con người bị thần Dữ cám dỗ, nên đã lạm dụng tự do của mình.”10 Họ sa chước cám dỗ và làm điều xấu. Con người vẫn còn khát khao điều tốt, nhưng bản tính con người đã mang vết thương của nguyên tội. Con người trở thành bị nghiêng chiều về điều xấu và dễ bị sai lầm:

“Con người đã bị chia rẽ trong chính bản thân mình. Vì vậy, toàn bộ đời sống con người, cả cá nhân cả tập thể, đều biểu hiện như một cuộc chiến bi thảm, giữa điều tốt và điều xấu, giữa ánh sáng và tối tăm.”11

1708617

Bằng cuộc khổ nạn của Người, Đức Ki-tô đã giải thoát chúng ta khỏi Xa-tan và tội lỗi. Người lập công cho chúng ta có sự sống mới trong Chúa Thánh Thần. Ân sủng của Người phục hồi những gì tội lỗi đã làm hư hỏng nơi chúng ta.

17091265, 1050

Ai tin vào Đức Ki-tô thì trở nên con cái Thiên Chúa. Ơn được làm nghĩa tử này biến đổi người ấy, giúp họ sống theo mẫu gương Đức Ki-tô. Ơn này ban cho họ khả năng hành động đúng đắn và thực thi điều tốt. Được kết hợp với Đấng Cứu độ của mình, người môn đệ đạt tới sự trọn hảo của đức mến, là sự thánh thiện. Được hoàn thiện trong ân sủng, đời sống luân lý sẽ được triển nở thành sự sống vĩnh cửu trong vinh quang trên trời.

Tóm lược (1710–1715)

1710

“Đức Ki-tô… đã biểu lộ cho con người cách rất đầy đủ về chính họ và cho họ thấy ơn gọi rất cao cả của họ.”12

1711

Được phú ban một linh hồn thiêng liêng, lý trí và ý chí, ngay từ lúc tượng thai, nhân vị đã được quy hướng về Thiên Chúa và được tiền định hướng tới vinh phúc muôn đời. Nó theo đuổi sự trọn hảo của mình bằng cách tìm kiếm và yêu mến những điều thiện hảo đích thực.13

1712

“Sự tự do đích thực là dấu chỉ tuyệt hảo của hình ảnh thần linh nơi con người.”14

1713

Con người phải vâng theo luật luân lý thúc đẩy họ “làm điều tốt và tránh điều xấu.”15 Luật này vang vọng trong lương tâm của họ.

1714

Con người, vì nguyên tội, đã bị tổn thương trong bản tính của mình, nên dễ bị sai lầm và nghiêng chiều về sự dữ khi sử dụng tự do của mình.

1715

Ai tin vào Đức Ki-tô thì có sự sống mới trong Chúa Thánh Thần. Đời sống luân lý, được tăng trưởng và hoàn thiện trong ân sủng, sẽ được hoàn tất trong vinh quang trên trời.


Chú thích

2 X. CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 22: AAS 58 (1966) 1042.

3 X. 2 Cr 4,4.

4 X. CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 22: AAS 58 (1966) 1042.

5 X. CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 14: AAS 58 (1966) 1036.

6 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 24: AAS 58 (1966) 1045.

7 X. CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 15: AAS 58 (1966) 1036.

8 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 17: AAS 58 (1966) 1037.

9 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 16: AAS 58 (1966) 1037.

10 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 13: AAS 58 (1966) 1034.

11 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 13: AAS 58 (1966) 1035.

12 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 22: AAS 58 (1966) 1042.

13 X. CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 15: AAS 58 (1966) 1036.

14 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 17: AAS 58 (1966) 1037.

15 X. CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 16: AAS 58 (1966) 1037.