Mục 1: Mặc Khải của Thiên Chúa (51–73)

I. Thiên Chúa mặc khải “kế hoạch yêu thương” của Ngài (51–53)

512823, 1996

“Do lòng nhân lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đã muốn mặc khải chính mình và tỏ cho biết mầu nhiệm của ý muốn Ngài; nhờ mầu nhiệm đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Ki-tô, Ngôi Lời nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa.”2

52

Thiên Chúa, Đấng “ngự trong ánh sáng siêu phàm” (1 Tm 6,16), muốn truyền thông sự sống thần linh của Ngài cho loài người mà Ngài đã tự ý tạo dựng, để cho họ được trở nên nghĩa tử trong Con Một của Ngài.3 Khi tự mặc khải, Thiên Chúa muốn làm cho loài người có khả năng đáp lại Ngài, nhận biết và yêu mến Ngài vượt quá những gì họ có thể làm được tự sức mình.

531953, 1950

Kế hoạch của Thiên Chúa về Mặc Khải được thể hiện cùng một lúc “bằng các việc làm và lời nói có liên hệ mật thiết với nhau”,4 và soi sáng cho nhau. Kế hoạch đó bao hàm “một đường lối sư phạm thần linh” đặc biệt: Thiên Chúa truyền thông chính mình cho con người một cách tiệm tiến. Ngài chuẩn bị con người qua nhiều giai đoạn để đón nhận mặc khải siêu nhiên về chính bản thân Ngài. Mặc khải này sẽ đạt tới tột đỉnh nơi Ngôi Vị và nơi sứ vụ của Ngôi Lời nhập thể, là Chúa Giê-su Ki-tô.

Thánh I-rê-nê thường nói về đường lối sư phạm này của Thiên Chúa dưới hình ảnh Thiên Chúa và con người dần dần làm quen với nhau: “Ngôi Lời của Thiên Chúa đã ở giữa loài người và trở thành Con Người, để làm cho con người quen dần với việc đón nhận Thiên Chúa, và làm cho Thiên Chúa quen dần với việc ngự trong con người, theo ý muốn của Chúa Cha.”5

II. Các giai đoạn mặc khải (54–64)
Từ khởi thuỷ, Thiên Chúa tự mặc khải cho con người (54–55)

5432, 374

“Thiên Chúa, Đấng tạo dựng và bảo tồn mọi sự nhờ Ngôi Lời, không ngừng làm chứng cho loài người về chính mình nơi các thụ tạo; hơn nữa, vì muốn mở ra con đường cứu độ cao vời, ngay từ khởi thuỷ, Ngài đã tỏ mình ra cho nguyên tổ biết.”6 Ngài đã mời gọi nguyên tổ của chúng ta sống hiệp thông thân mật với Ngài, khi ban cho họ ân sủng và đức công chính rạng ngời.

55397, 410, 761

Mặc khải này không bị tội nguyên tổ làm gián đoạn. Quả vậy, “sau khi tổ tông sa ngã, bằng việc hứa ban ơn cứu chuộc, Ngài đã nâng họ dậy hướng tới niềm hy vọng cứu độ. Ngài đã không ngừng săn sóc nhân loại, để ban sự sống đời đời cho tất cả những ai tìm kiếm ơn cứu độ bằng cách kiên tâm làm việc lành.”7

“Và khi con người đã mất tình nghĩa với Cha vì bất phục tùng, Cha đã không bỏ mặc con người dưới quyền lực sự chết… Nhiều lần Cha đã giao ước với loài người.”8

Giao ước với ông Nô-ê (56–58)

56401, 1219

Khi sự hợp nhất của nhân loại bị tội lỗi phá vỡ, Thiên Chúa lập tức có ý định cứu độ nhân loại khi can thiệp qua từng nhóm người. Giao ước với ông Nô-ê sau cơn lụt đại hồng thủy9 nói lên nguyên tắc của Nhiệm cục thần linh đối với “các dân tộc”, nghĩa là đối với những người quy tụ lại “theo tiếng nói, dòng họ và dân tộc của mình” (St 10,5).10

57

Trật tự đa dân tộc này, vừa có tính vũ trụ, vừa có tính xã hội và tôn giáo,11 nhằm hạn chế tính kiêu căng của một nhân loại đã sa ngã, muốn đồng lòng trong sự ngoan cố của mình,12 muốn tự mình gầy dựng sự hợp nhất theo kiểu xây tháp Ba-ben.13 Nhưng vì tội lỗi,14 nên thuyết đa thần cũng như việc tôn thờ các ngẫu tượng là dân tộc và lãnh tụ của mình, đã không ngừng đe dọa biến Nhiệm cục tạm thời này thành sự gian tà ngoại đạo.

58674, 2569

Giao ước với ông Nô-ê có hiệu lực trong suốt thời gian của các dân tộc,15 cho tới khi Tin Mừng được loan báo một cách phổ quát. Thánh Kinh tôn kính một số vĩ nhân của “các dân tộc”, như “A-ben, người công chính”, vua tư tế Melchisêđê,16 ông này là hình bóng của Đức Ki-tô,17 hoặc các người công chính “Nô-ê, Đa-ni-en và Gióp” (Ed 14,14). Như vậy, Thánh Kinh nói lên mức độ thánh thiện cao vời mà những người sống theo Giao ước Nô-ê có thể đạt tới, đang khi mong đợi Đức Ki-tô “quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối” (Ga 11,52).

Thiên Chúa chọn ông Áp-ra-ham (59–61)

59145, 2570

Để quy tụ loài người đang tản mác về một mối, Thiên Chúa chọn ông Áp-ram và phán với ông: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi” (St 12,1); với ý định làm cho ông thành Áp-ra-ham, nghĩa là “cha của vô số dân tộc” (St 17,5): “Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12,3).18

60760, 762, 781

Dân tộc phát sinh từ ông Áp-ra-ham sẽ được thừa hưởng lời Thiên Chúa hứa với các tổ phụ, tức là dân được Ngài tuyển chọn,19 họ được gọi để chuẩn bị cho việc quy tụ trong tương lai mọi con cái Thiên Chúa trong sự duy nhất của Hội Thánh;20 dân tộc này sẽ là gốc rễ mà các dân ngoại khi tin vào Thiên Chúa sẽ được tháp ghép vào.21

61

Các tổ phụ, các tiên tri và những vĩ nhân khác của Cựu ước đã và sẽ luôn được tôn kính như những vị Thánh trong tất cả các truyền thống phụng vụ của Hội Thánh.

622060, 2574, 1961

Sau thời các Tổ phụ, Thiên Chúa lập Ít-ra-en làm dân của Ngài khi cứu họ khỏi ách nô lệ Ai-cập. Ngài lập Giao ước Sinai với dân và ban Lề Luật của Ngài cho họ qua ông Mô-sê, để họ nhận biết và phụng sự Ngài với tư cách là Thiên Chúa duy nhất hằng sống và chân thật, là Cha quan phòng và là thẩm phán chí công, và để họ mong đợi Đấng Cứu Độ mà Ngài đã hứa ban.22

63204, 2801, 839

Ít-ra-en là dân tư tế của Thiên Chúa,23 được “mang danh ĐỨC CHÚA” (Đnl 28,10). Đó là dân của “những người đầu tiên được nghe lời Chúa phán dạy”,24 dân của “những người làm anh” trong đức tin của tổ phụ Áp-ra-ham.25

Thiên Chúa huấn luyện dân Ít-ra-en của Ngài (62–64)

64711, 1965, 489

Qua các tiên tri, Thiên Chúa đào tạo dân Ngài trong niềm hy vọng ơn cứu độ, trong sự mong đợi Giao ước mới và vĩnh cửu dành cho tất cả mọi người,26 Giao ước đó sẽ được ghi khắc trong các trái tim.27 Các Tiên tri loan báo ơn cứu chuộc triệt để cho dân của Thiên Chúa, ơn thanh tẩy khỏi mọi bất trung của họ,28 và ơn cứu độ ấy sẽ bao gồm tất cả các dân tộc.29 Đặc biệt những người nghèo khó và khiêm nhu của Chúa30 sẽ ấp ủ niềm hy vọng này. Những phụ nữ thánh thiện như các bà Xa-ra, Rê-bê-ca, Ra-khen, Mi-ri-am, Đơ-vô-ra, An-na, Giu-đi-tha và Ét-te, đã gìn giữ cho niềm hy vọng cứu độ ấy của Ít-ra-en luôn sống động. Hình ảnh tinh tuyền nhất của niềm hy vọng này là Đức Ma-ri-a.31

III. Chúa Giê-su Ki-tô – “Đấng Trung Gian và là sự viên mãn của toàn thể mặc khải” (65–67)

32

Thiên Chúa đã phán dạy mọi sự trong Ngôi Lời của Ngài (65)

65102, 516, 2717

“Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông ta qua các tiên tri; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,1-2). Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa làm người, là Lời duy nhất, hoàn hảo và cao cả nhất của Chúa Cha. Nơi Người, Thiên Chúa đã nói tất cả, và sẽ không có lời nào khác ngoài Lời đó. Sau bao vị khác, thánh Gio-an Thánh giá đã diễn tả điều này một cách rõ ràng, khi chú giải câu Dt 1,1-2:

“Từ khi Thiên Chúa ban cho chúng ta Con Ngài, Đấng là Lời duy nhất và dứt khoát của Ngài, Thiên Chúa đã nói với chúng ta một lần duy nhất trong Lời này và Ngài không còn gì để nói thêm nữa. Những gì trước kia Ngài chỉ nói từng phần qua các tiên tri, thì nay Ngài đã nói hết trong Đấng mà Ngài đã trao ban trọn vẹn cho chúng ta, tức là Con của Ngài. Do đó, bây giờ mà có ai còn muốn hỏi Thiên Chúa điều gì hoặc nài xin Ngài một thị kiến hay mặc khải nào nữa, thì người ấy chẳng những làm một chuyện điên rồ, mà xem ra còn xúc phạm đến Thiên Chúa, bởi không chăm chú nhìn vào Đức Ki-tô mà lại tìm kiếm một cái gì khác hoặc một điều mới lạ ngoài Đức Ki-tô.”33

Sẽ không có mặc khải nào khác nữa (66–67)

6694

“Vậy nhiệm cục Ki-tô Giáo sẽ không bao giờ mai một, vì là giao ước mới và vĩnh cửu. Chúng ta không phải chờ đợi một mặc khải công khai mới nào khác nữa trước ngày Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta tỏ mình ra trong vinh quang.”34 Tuy nhiên, mặc dù mặc khải đã hoàn tất, nhưng nó vẫn chưa được giải thích trọn vẹn; vì thế đức tin Ki-tô Giáo còn phải dần dần, qua dòng thời gian, tìm hiểu tất cả sự cao siêu của mặc khải.

6784, 93

Theo dòng lịch sử, đã xuất hiện những điều gọi là “mặc khải tư”, một số trong đó được thẩm quyền Hội Thánh công nhận. Tuy vậy, những mặc khải đó không thuộc kho tàng đức tin. Chức năng của chúng không phải là “cải thiện” hoặc “bổ sung” mặc khải vĩnh viễn của Đức Ki-tô, nhưng để giúp người ta, vào một thời điểm lịch sử nào đó, sống mặc khải của Đức Ki-tô cách trọn vẹn hơn. Cảm thức đức tin của các tín hữu, dưới sự hướng dẫn của Huấn quyền Hội Thánh, có khả năng phân định và đón nhận trong các mặc khải đó những gì là lời khuyến dụ đích thực của Đức Ki-tô hoặc của các Thánh gởi đến cho Hội Thánh.

Đức tin Ki-tô Giáo không thể tiếp nhận “những mặc khải” nào muốn vượt cao hơn hay sửa đổi mặc khải đã được hoàn tất trong Đức Ki-tô. Một số tôn giáo ngoài Ki-tô Giáo và một số giáo phái được sáng lập gần đây đặt nền tảng trên “những mặc khải” như thế.

Tóm lược (68–73)

68

Vì tình yêu, Thiên Chúa đã tự mặc khải và ban chính mình Ngài cho con người. Qua đó, Ngài mang lại lời giải đáp vĩnh viễn và dư đầy cho những vấn nạn mà con người tự đặt ra cho mình về ý nghĩa và cùng đích cuộc đời họ.

69

Thiên Chúa đã tự mặc khải cho con người, bằng việc dần dần dùng lời nói và việc làm mà truyền thông mầu nhiệm riêng của Ngài.

70

Ngoài những chứng từ mà Thiên Chúa nêu lên về chính mình Ngài qua các thụ tạo, Thiên Chúa còn đích thân tỏ mình cho nguyên tổ chúng ta. Ngài đã nói với các vị, và sau khi các vị sa ngã, Ngài đã hứa ơn cứu độ35 và ban Giao Ứơc của Ngài cho các vị.

71

Thiên Chúa lập với ông Nô-ê một giao ước vĩnh cửu giữa Ngài và mọi sinh linh.36 Giao ước này sẽ tồn tại bao lâu thế gian còn tồn tại.

72

Thiên Chúa đã tuyển chọn ông Áp-ra-ham và đề xướng một giao ước với ông và dòng dõi ông. Từ đó, Thiên Chúa thiết lập dân Ngài và mặc khải Lề Luật của Ngài cho họ qua ông Mô-sê. Nhờ các tiên tri, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho dân ấy đón nhận ơn cứu độ dành cho toàn thể nhân loại.

73

Thiên Chúa đã tự mặc khải trọn vẹn khi sai chính Con Ngài đến trần gian; nơi Chúa Con, Thiên Chúa đã thiết lập Giao ước của Ngài đến muôn đời. Con Thiên Chúa là Lời tối hậu của Chúa Cha nói với nhân loại, sau Người, không còn một mặc khải nào khác.


Chú thích

2 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế tín lý Dei Verbum, 2: AAS 58 (1966) 818.

3 X. Ep 1,4-5.

4 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế tín lý Dei Verbum, 2: AAS 58 (1966) 818.

5 Thánh I-rê-nê, Adversus haereses 3, 20, 2: SC 211,392 (PG 7,944); x. exempli gratia, Ibid. 3, 17, 1: SC 211,330 (PG 7,929); Ibid. 4, 12, 4: SC 100,518 (PG 7,1006); Ibid. 4, 21, 3: SC 100,684 (PG 7,1046).

6 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế tín lý Dei Verbum, 3: AAS 58 (1966) 818.

7 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế tín lý Dei Verbum, 3: AAS 58 (1966) 818.

8 Kinh nguyện Thánh Thể IV: Sách Lễ Rô-ma, editio typica (Typis Polyglottis Vaticanis 1970) 467.

9 X. St 9,9.

10 X. St 10,20-31.

11 X. Cv 17,26-27.

12 X. Kn 10,5.

13 X. St 11,4-6.

14 X. Rm 1,18-25.

15 X. Lc 21,24.

16 X. St 14,18.

17 X. Dt 7,3.

18 X. Gl 3,8.

19 X. Rm 11,28.

20 X. Ga 11,52; 10,16.

21 X. Rm 11,17-18.24.

22 X. CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế tín lý Dei Verbum, 3: AAS 58 (1966) 818.

23 X. Xh 19,6.

24 Thứ Sáu Tuần Thánh, Cầu nguyện cho mọi người VI: Sách Lễ Rô-ma, editio typica (Typis Polyglottis Vaticanis 1970) 254.

25 X. ĐGH Gio-an Phao-lô II, Diễn văn tại Hội đường Do thái ở Rô-ma, (ngày 13/4/1986) 4: Insegnamenti di Giovanni Paolo II, IX 1,1027.

26 X. Is 2,2-4.

27 X. Gr 31,31-34; Dt 10,16.

28 X. Ed 36.

29 X. Is 49,5-6; 53,11.

30 X. Sp 2,3.

31 X. Lc 1,38.

32 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế tín lý Dei Verbum, 2: AAS 58 (1966) 818.

33 Thánh Gio-an Thánh giá, Subida del monte Carmelo, 2, 22, 3-5: Biblioteca Mistica Carmelitana, v. 11 (Burgos 1929) 184.

34 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế tín lý Dei Verbum, 4: AAS 58 (1966) 819.

35 X. St 3,15.