Tiết 1: Đức Ki-tô “xuống ngục tổ tông” (632–637)

632

Những xác quyết thường xuyên của Tân Ước, theo đó Chúa Giê-su “trỗi dậy từ cõi chết” (1 Cr 15,20),528 giả thiết là, trước khi Người sống lại, Người đã ở nơi của những người chết.529 Lời rao giảng của các Tông Đồ về việc Chúa Giê-su xuống ngục tổ tông có ý nghĩa đầu tiên này: Chúa Giê-su đã chết giống như mọi người, và linh hồn Người đã xuống với họ, ở nơi của những người chết. Nhưng Người xuống đó với tư cách là Đấng Cứu Độ, để loan báo Tin Mừng cho các vong linh bị cầm giữ ở đó.530

6331033

Thánh Kinh gọi nơi ở của những người chết, mà Đức Ki-tô khi chết đã xuống, là âm phủ, Sheol (tiếng Do-thái) hoặc Hades (tiếng Hy-lạp),531 bởi vì những kẻ ở đó không được nhìn thấy Thiên Chúa.532 Thật vậy, tình trạng của mọi người đã chết, dù họ công chính hay xấu xa, đều như vậy, trong khi mong đợi Đấng Cứu Chuộc,533 điều này không có nghĩa là số phận của họ đều như nhau, như Chúa Giê-su cho thấy trong dụ ngôn anh Lazarô nghèo khổ được đem “vào lòng ông Áp-ra-ham.”534 “Khi xuống ngục tổ tông, Chúa Ki-tô đã giải thoát linh hồn những người công chính đang ở trong lòng ông Áp-ra-ham mà mong đợi Đấng Cứu Độ.”535 Chúa Giê-su không xuống ngục tổ tông để giải thoát những kẻ đã bị kết án536 hoặc để phá hủy địa ngục đọa đày,537 nhưng để giải thoát những người công chính đã đi trước Người.538

634605

“Tin Mừng đã được loan báo ngay cho cả những kẻ chết” (1 Pr 4,6). Việc xuống ngục tổ tông là sự hoàn thành, một cách sung mãn, việc loan báo Tin Mừng cứu độ. Đây là chặng cuối cùng trong sứ vụ làm Đấng Mê-si-a của Chúa Giê-su, trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng trong một ý nghĩa thật hết sức rộng lớn của việc mở rộng công trình cứu chuộc cho mọi người thuộc mọi thời và mọi nơi, bởi vì tất cả những ai được cứu độ đều được tham dự vào công trình Cứu Chuộc.

635

Vì vậy, Đức Ki-tô đã xuống cõi thâm sâu của sự chết539 để “các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa, ai nghe thì sẽ được sống” (Ga 5,25). Chúa Giê-su, “Đấng khơi nguồn sự sống”,540 đã “nhờ cái chết của Người, Người đã tiêu diệt tên lãnh chúa gây ra sự chết, tức là ma quỷ, và đã giải thoát những ai vì sợ chết mà suốt đời sống trong tình trạng nô lệ” (Dt 2,14-l5). Từ nay, Đức Ki-tô phục sinh “nắm giữ chìa khóa của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1,18) và “khi vừa nghe Danh Thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ” (Pl 2,10).

“Hôm nay mặt đất hoàn toàn thinh lặng, hoàn toàn thinh lặng và hoàn toàn cô quạnh; hoàn toàn thinh lặng vì Đức Vua an giấc; trái đất đã sợ hãi rồi yên tĩnh, vì Thiên Chúa đang ngủ trong xác phàm, và Người đánh thức những kẻ đang ngủ từ bao đời… Chắc chắn Người đi tìm nguyên tổ như tìm con chiên lạc. Người muốn đến thăm tất cả những ai đang ngồi trong tối tăm và trong bóng sự chết; Đấng vừa là Thiên Chúa, vừa là con cháu của nguyên tổ đến để giải thoát ông A-đam đang bị cầm giữ cùng với bà E-và bị cầm giữ khỏi những sự đau buồn. Ta là Thiên Chúa của ngươi, nhưng vì ngươi, Ta đã trở thành con của ngươi… Hãy trỗi dậy, hỡi người ngủ mê: vì Ta dựng nên ngươi không phải để cho ngươi ở lại đây trong gông cùm âm phủ. Hãy trỗi dậy từ cõi chết; Ta là Sự Sống của những kẻ đã chết.”541

Tóm lược (636–637)

636

Bằng kiểu nói “Chúa Giê-su xuống ngục tổ tông”, Tín biểu tuyên xưng Chúa Giê-su thật sự đã chết và nhờ cái Chết của Người vì chúng ta, Người đã chiến thắng cả sự chết lẫn ma quỷ, “tên lãnh chúa gây ra sự chết” (Dt 2,14).

637

Đức Ki-tô đã chết, với linh hồn được kết hợp cùng Ngôi Vị thần linh, Người đã xuống nơi ở của những kẻ chết. Người đã mở cửa trời cho những người công chính đã đi trước Người.


Chú thích

528 X. Cv 3,15; Rm 8,11.

529 X. Dt 13,20.

530 X. 1 Pr 3,18-19.

531 X. Pl 2,10; Cv 2,24; Kh 1,18; Ep 4,9.

532 X. Tv 6,6; 88,11-13.

533 X. Tv 89,49; 1 Sm 28,19; Ed 32,17-32.

534 X. Lc 16,22-26.

535 Catechismus Romanus, 1, 6, 3: ed. Rodriguez (Città del Vaticano-Pamplona 1989) 71.

536 X. CĐ Rô-ma (năm 745), De descensu Christi ad inferos: DS 587.

537 X. ĐGH Bê-nê-đích-tô XII, Libellus Cum dudum (năm 1341), 18: DS 1011; ĐGH Clêmentê VI, Epistula Super quibusdam (năm 1351), c. 15, 13: DS 1077.

538 X. CĐ Tôlêđô IV (năm 633), Capitulum, 1: DS 485; Mt 27,52-53.

539 X. Mt 12,40; Rm 10,7; Ep 4,9.

540 X. Cv 3,15.

541 Antiqua homilia in sancto et magno Sabbato: PG 43,440.452.461.