Sách Ma-ca-bê 2

Nguyên văn theo Kinh Thánh Cựu Ước Công Giáo, bản dịch của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ.

Sách Ma-ca-bê 2 là một cuốn sách nằm trong Kinh Thánh Cựu Ước. Sách gồm có 15 chương, không rõ tác giả là ai. Thời gian viết vào khoảng năm 100 TCN, thời gian được tường thuật trong sách vào khoảng năm 180-161 TCN.

Chương 1

I. CÁC THƯ GỬI CHO NGƯỜI DO-THÁI Ở AI-CẬP

THƯ THỨ NHẤT

1 Anh em Do-thái ở Giê-ru-sa-lem và miền Giu-đê xin kính chào anh em Do-thái ở Ai-cập và kính chúc anh em được vạn an.2 Xin Thiên Chúa ban phúc lộc cho anh em và xin Người nhớ lại Giao Ước Người đã lập với các tôi trung của Người là Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp.3 Xin Người cho tất cả anh em hết một lòng thờ phượng Người và làm theo ý Người với tâm hồn quảng đại và tinh thần cương quyết.4 Xin Người mở lòng anh em đón nhận Lề Luật cũng như các lệnh truyền của Người và ban bình an cho anh em.5 Xin Người nhậm lời anh em cầu nguyện và cho anh em được hòa giải với Người; xin Người đừng bỏ mặc anh em trong buổi gian nan.6 Bây giờ, ở đây chúng tôi đang cầu nguyện cho anh em.7 Dưới triều vua Đê-mết-ri-ô, năm một trăm sáu mươi chín, chúng tôi, những người Do-thái, đã viết cho anh em: “Suốt những năm phải vô cùng khốn đốn, kể từ khi Gia-xon và những người theo ông phản bội Đất Thánh và vương quốc,8 phóng hỏa đốt cổng Đền Thờ, đổ máu người vô tội, chúng tôi đã cầu xin Đức Chúa và Người đã nhậm lời. Chúng tôi đã dâng lễ hy tế và tinh bột lúa miến; chúng tôi đã thắp đèn và dâng bánh!”9 Vậy giờ đây, xin anh em cử hành các ngày lễ Lều trong tháng Kít-lêu. Thư đề năm một trăm tám mươi tám.

THƯ THỨ HAI

10 “Những người Do-thái ở Giê-ru-sa-lem và miền Giu-đê, cùng với Hội đồng kỳ mục và ông Giu-đa xin kính chào ngài A-rít-tô-bu-lô, quốc sử của vua Pơ-tô-lê-mai và hậu duệ của các vị tư tế đã được xức dầu tấn phong, cùng xin gửi lời chào thăm những người Do-thái ở Ai-cập. Kính chúc ngài và anh em được dồi dào sức khỏe.

Tạ ơn vì vua An-ti-ô-khô bị trừng phạt

11 “Được Thiên Chúa giải thoát khỏi những tai họa lớn lao, chúng tôi hết lòng tạ ơn Người, vì Người đã chiến đấu chống lại nhà vua.12 Chính Người đã tiêu diệt những kẻ đánh phá Thành Thánh.13 Thật thế, tướng chỉ huy của chúng dẫn một đạo quân được coi là bách chiến bách thắng đến Ba-tư, đã bị đánh tan trong đền thờ nữ thần Na-nai-a vì chúng đã mắc phải mưu của các tư tế nữ thần.14 Viện cớ kết hôn với nữ thần, vua An-ti-ô-khô cùng với các bạn hữu đã đến nơi ấy, chiếm đoạt nhiều của cải làm như của hồi môn.15 Sau khi các tư tế của nữ thần Na-nai-a đem trình các báu vật, vua An-ti-ô-khô cùng một số người tiến vào nội vi điện thờ. Nhưng khi vua vừa tiến vào, các tư tế đóng cửa đền thờ lại,16 mở cửa bí mật trên trần nhà, ném đá như sấm sét xuống đầu vị tướng chỉ huy; rồi họ phanh thây ông ra từng mảnh và chặt đầu quẳng ra cho những người đứng ở ngoài.17 Xin chúc tụng Thiên Chúa chúng ta vì mọi việc Người làm: Người đã trao nộp quân vô đạo vào tay thần chết.

Lửa thiêng được gìn giữ lạ lùng

18 “Vậy sắp đến ngày hai mươi lăm tháng Kít-lêu, là ngày mừng lễ thanh tẩy Đền Thờ, chúng tôi thấy cần phải cho anh em biết điều ấy, để cả anh em cũng mừng lễ Lều và lễ Lửa đã được tổ chức từ thời ông Nơ-khe-mi-a; ông đã dâng lễ hy tế sau khi xây xong Đền Thờ và bàn thờ dâng lễ toàn thiêu.19 Quả vậy, khi cha ông chúng ta bị dẫn sang Ba-tư, các tư tế đạo đức thời ấy đã bí mật lấy lửa từ bàn thờ dâng lễ toàn thiêu, đem cất vào một lỗ hổng của một cái giếng cạn, và họ đã giấu kỹ đến nỗi không ai biết ở chỗ nào.20 Nhiều năm đã trôi qua, vào lúc Thiên Chúa muốn, vua Ba-tư đã sai ông Nơ-khe-mi-a truyền cho con cháu các tư tế phải tìm cho ra lửa xưa cha ông họ đã giấu. Nhưng các người này cho biết là không tìm thấy lửa mà chỉ thấy một thứ nước đặc. Ông Nơ-khe-mi-a truyền cho họ múc hết nước ấy đem về.21 Sau khi các thứ cần thiết để dâng hy tế được mang lên bàn thờ, ông Nơ-khe-mi-a truyền cho các tư tế lấy nước ấy tưới lên củi và các lễ vật đặt trên củi.22 Làm như vậy xong được một lúc thì mặt trời, trước đó bị mây che phủ, bây giờ bắt đầu chiếu sáng, và một ngọn lửa lớn bùng lên khiến mọi người sững sờ kinh ngạc.23 Đang khi lửa thiêu hủy lễ vật, thì các tư tế cầu nguyện cùng với tất cả mọi người; ông Giô-na-than xướng lên, những người khác cùng với ông Nơ-khe-mi-a đáp lại.24 Và nội dung lời cầu nguyện ấy như sau: “Lạy Đức Chúa, lạy Đức Chúa là Thiên Chúa, Đấng tạo thành vạn vật, Đấng oai nghiêm, dũng mãnh, công chính và khoan dung, chỉ mình Ngài là vua, chỉ mình Ngài tốt lành,25 chỉ mình Ngài quảng đại, chỉ mình Ngài công chính, toàn năng và vĩnh cửu. Ngài là Đấng cứu thoát Ít-ra-en khỏi mọi tai họa, là Đấng tuyển chọn và thánh hóa cha ông chúng con.26 Xin đón nhận hy tế chúng con dâng để cầu cho toàn thể Ít-ra-en; xin bảo vệ và thánh hóa phần gia nghiệp của Ngài.27 Xin tập hợp anh em chúng con đang tản mác khắp nơi; xin giải phóng những người bị dân ngoại bắt làm nô lệ; xin nhìn đến những người bị khinh khi và bị coi là ghê tởm, để chư dân nhận biết Ngài là Thiên Chúa của chúng con.28 Xin trừng trị những ai áp bức chúng con và bọn người kiêu căng nhục mạ chúng con.29 Xin định cư dân Ngài trong thánh địa như ông Mô-sê đã nói!”

30 Bấy giờ các tư tế hát thánh thi.31 Sau đó, khi các tế phẩm được thiêu hủy rồi, ông Nơ-khe-mi-a truyền đổ phần nước còn lại lên những tảng đá lớn.32 Công việc này vừa xong, thì một ngọn lửa bùng lên, nhưng lại bị át đi vì ánh sáng đốt trên bàn thờ dâng lễ toàn thiêu.33 Khi hay biết sự việc, người ta báo cho vua Ba-tư rằng có một thứ nước xuất hiện tại nơi các tư tế bị lưu đày đã cất giấu lửa. Ông Nơ-khe-mi-a và các bạn đã dùng nước ấy mà thanh tẩy các tế phẩm.34 Vậy sau khi điều tra sự việc, nhà vua cho rào chung quanh và biến nơi ấy thành khu đất thiêng.35 Vì thế, nhà vua nhận được rất nhiều tặng phẩm và đem chia cho các người được lòng vua.36 Ông Nơ-khe-mi-a và các bạn gọi nước ấy là “Nép-tha”, nghĩa là “Thanh tẩy”; còn phần đông gọi là “Nép-thai”.