Dẫn Nhập Thần Học

Trích dịch từ cuốn The College Student’s Introduction to Theology do cha Thomas P. Rausch S.J. (1941), hiện là giáo sư về nghiên cứu thần học tại Đại học Loyola Marymount, Los Angeles, chủ biên. Người dịch: Augustine Pham.


Dẫn nhập

Thần học từng là một bộ môn nghiên cứu tại nhà từ cuối thế kỷ XII, khi các sinh viên và học giả bắt đầu tổ chức thành các hội nhóm có tính cách đoàn thể, hay còn gọi là các trường đại học, trong các thị trấn và thành phố như Bologna, Paris và Oxford. Khi bắt đầu chiếm lấy vị trí của các trường thuộc tu viện và nhà thờ chính tòa, các đại học này thường bao gồm một vài nhóm ngành hay phân khoa của các học giả (các bậc thầy / tiến sĩ), trong đó, có khoa thần học. Tới năm 1250, trong các đại học ở Paris, người ta lập ra các khoa nghệ thuật (bao gồm cả triết học và khoa học sơ khai), luật khoa, y khoa và khoa thần học; nhờ các phân khoa này mà các trường đại học thời bấy giờ đã trở nên nổi tiếng.

Vào thế kỷ XVI, khi Thánh Inhaxiô nhà Loyola phác họa tầm nhìn về giáo dục cho các trường cao đẳng và đại học thuộc về hội dòng mới của mình, ngài đã dựa trên những gì kinh nghiệm được trong các nghiên cứu của bản thân, cách đặc biệt là những nghiên cứu thực hiện tại Paris. Thánh nhân đã đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thần học với tuyên bố rằng “trong các đại học của Hiệp hội, nó phải được nhấn mạnh cách chủ yếu” (Hiến pháp số 446). Đối với Thánh Inhaxiô, thần học là một bộ môn tích hợp, thứ mà Michael Buckley diễn tả như một “sự khôn ngoan có cấu trúc”.i Trong các trường của hội dòng, việc định hướng mô thức trong thần học (trái với định hướng tôn giáo) bắt đầu được tiến hành cho các sinh viên ở độ tuổi 17. Thậm chí, nếu việc nghiên cứu thần học thường bị giới hạn cho những người đang theo đuổi ơn gọi linh mục, thì vị trí quan trọng của thần học trong chương trình giảng dạy của Dòng Tên đã ảnh hưởng tới tất cả các đối tượng trong các trường cao đẳng và đại học của hội dòng.

Các trường cao đẳng và đại học này đã cấu thành một trong những hệ thống giáo dục đầu tiên trong lịch sử.ii Tuy nhiên, chúng vẫn tuân theo hình mẫu đại học thời trung cổ với sự điều chỉnh không đáng kể, thứ về cơ bản, vẫn được giữ nguyên tại các trường đại học châu Âu cho tới ngày nay. Trong các đại học này, thần học hiện diện như một phân khoa hay chuyên ngành; nó không thường xuyên được tích hợp vào chương trình giảng dạy chung.

Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, nơi hoàn toàn khác biệt, mỗi trường đại học được phân chia thành [hai bộ phận] tốt nghiệp và chưa tốt nghiệp. Hầu hết các đại học ở cấp bang đều không có khoa thần học, hay như nó thường được gọi, một khoa dành cho các nghiên cứu về tôn giáo, mặc dù tình trạng này đang được thay đổi ngày nay. Các trường cao đẳng và đại học thuộc Tư nhân và Giáo Hội thường cung cấp các khóa học về nghiên cứu tôn giáo hay thần học dưới hình thức bắt buộc hoặc không bắt buộc.

Trong những năm ngay trước Cđ. Va-ti-ca-nô II, chương trình đào tạo thần học Công Giáo tại Hoa Kỳ có sự thay đổi đột ngột. Trước Công đồng, phần lớn việc nghiên cứu thần học chỉ diễn ra trong các chủng viện. Sinh viên trong các trường cao đẳng và đại học Công Giáo chỉ thường được đào tạo về tôn giáo chứ không học thần học: “Cho đến thập niên 1950, thậm chí hầu hết các trường cao đẳng Công Giáo đều không cung cấp các khóa thần học như một môn học. Các trường này là những cơ quan nghệ thuật có sự tự do, nơi chương trình giảng dạy đặt trọng tâm vào triết học chứ không phải thần học. Hầu hết trong số đó đều cung cấp các khóa học về tôn giáo, nhưng thường là tôn giáo xét dưới một bản tính biện minh, và trong nhiều trường hợp không được tính vào số lượng tín chỉ. Người hướng dẫn các khóa học này cho sinh viên rất thường xuyên là những người không nằm trong thành phần khoa hàn lâm và không có bằng cấp học thuật mà nhà trường yêu cầu. Mục tiêu của các chương trình này là truyền tải dữ liệu của đức tin Công Giáo một cách không chút nghi ngờ.”iii

Sau Cđ. Va-ti-ca-nô II, tất cả những điều này đã bắt đầu thay đổi. Với việc ngày càng có nhiều giáo dân đạt được bằng cấp về thần học, vào năm 1964, Hiệp hội Thần học Công Giáo Hoa Kỳ, vốn ban đầu là một tổ chức của các giáo sư chủng viện, đã thay đổi hiến pháp của họ nhằm thu nạp các thành viên là giáo dân. Các trường cao đẳng và đại học Công Giáo bắt đầu phát triển các khoa thần học có tính chuyên môn ở mức độ cao. Các thành viên trong khoa, mà giờ đây có cả linh mục, tu sĩ và giáo dân, đã ngày càng tích cực trong việc nghiên cứu, xuất bản và tham gia vào các hiệp hội thần học chuyên nghiệp, nơi nghiên cứu thần học đã chuyển từ các chủng viện sang các trường đại học và sau đại học.

Tuy nhiên, việc không ngừng chuyên môn hóa trong các trường đại học Công Giáo nói chung, cũng như trong các khoa thần học của họ nói riêng, là một mớ may rủi lẫn lộn. Các cơ quan giáo dục Công Giáo rất thường xuyên chỉ đơn giản là bắt chước các tiêu chuẩn và giá trị mang tính hàn lâm của nền giáo dục thế tục bậc cao ở Hoa Kỳ. Nhiều cơ quan trong số đó rơi vào tình trạng chệch khỏi trọng tâm và căn tính tôn giáo của họ. Trong nỗ lực mang tính mô tả hơn là tín lý, nhiều khoa thần học đã tự biến mình thành khoa nghiên cứu tôn giáo. Họ trở nên đa nguyên hơn nhiều về phương pháp tiếp cận và các phân khoa.

Trong các yêu cầu về thần học/nghiên cứu tôn giáo ở các trường cao đẳng và đại học Công Giáo Hoa Kỳ ngày nay, tính đa nguyên đó xuất hiện đặc biệt rõ ràng. Yêu cầu thông thường là hai khóa học.iv Một số bao gồm một khóa khởi đầu hay dẫn nhập có tính cách bắt buộc. Nhưng thông thường, yêu cầu này có thể được đáp ứng bằng hai khóa học [thay thế] bất kỳ. Với chỉ hai hoặc ba khóa, mà chủ đề thường là tạp nham, rất dễ có chuyện một sinh viên ngày nay học xong chương trình tại một trường đại học Công Giáo mà không phải đọc một cuốn Tin Mừng, không phải nghiên cứu Ki-tô học, Giáo Hội học, hay không học qua một khóa về đạo đức học/thần học luân lý Ki-tô Giáo. Với sự nhấn mạnh yếu ớt vào lịch sử Giáo Hội, các sinh viên thường không mấy quen thuộc với truyền thống Ki-tô Giáo; họ không đọc các tác phẩm của Thánh Augustinô, Thánh Tô-ma, Luther, hay ĐHY Newman. Họ có rất ít sự thân quen với các truyền thống và tôn giáo khác với những gì đã có của riêng họ. Và vì không được cung cấp một sự tiếp nối có cấu trúc, các sinh viên không mấy khi tiếp cận được các tài liệu có tính hệ thống dẫn vào nghiên cứu thần học, cũng như hiếm có cơ hội nhận được cái nhìn tổng quan về những gì mà thần học chứa đựng trong nó.

Chính vì thế, cuốn sách này đã ra đời. Được biên soạn để sử dụng như một tài liệu bổ sung, nó cung cấp cho người đọc một lời dẫn nhập vào nghiên cứu thần học cùng với các phương pháp nghiên cứu đa dạng của nó. Không giống như cách tiếp cận theo chủ đề của các sách giáo khoa cổ (de Deo Uno, de Deo Trino,…), cách tiếp cận của nó thuộc về phương pháp luận. Thần học ngày nay đã trở thành thứ liên tục bị chia nhỏ thành một lượng lớn các bộ môn và chuyên ngành. Tuy nhiên, trong khi giới thiệu đa dạng các lĩnh vực của nghiên cứu thần học, nhiều chủ đề truyền thống sẽ được đưa ra như các ví dụ.

Cuốn sách này được chia làm ba phần. Phần thứ nhất giải quyết các vấn đề cơ bản. Chương 1 khảo cứu bản tính của thần học vừa xét như một khoa học, với tác vụ phê bình và các chuyên ngành khác nhau của nó, vừa xét như một công việc của Giáo Hội. Chương này cũng suy xét những căng thẳng đôi khi nảy sinh giữa các thần học gia với các Đức Giám mục do hai phần bản tính của thần học. Trong chương 2, Daniel L. Smith-Christopher sẽ trình bày về lịch sử của Ít-ra-en, cùng với các sách trong Kinh Thánh Do-thái. Trong chương 3, Jeffrey Siker phác họa về sự phát triển của Thư quy Tân Ước, các phương pháp phê bình Kinh Thánh, cũng như các khía cạnh phân biệt của các sách Tân Ước. Trong chương 4, Herbert J. Ryan đưa ra cái nhìn tổng quan về lịch sử Giáo Hội.

Phần II chứa đựng phần lớn các vấn đề hệ thống. Trong chương 5, John R. Connolly khảo cứu Đức tin Ki-tô Giáo, trái ngược với hình mẫu trí tuệ về Đức tin của một cách tiếp cận nhân vị; trong khi thảo luận về Đức tin xét như hành vi và xét như nội dung, tác giả giới thiệu các chủ đề về Mặc khải, Ki-tô học, Giáo Hội và các biểu tượng của Đức tin. Trong chương 6, Mary M. Garascia nghiên cứu tỉ mỉ một vài vấn đề trong nhân học thần học, con người xét như hình ảnh của Thiên Chúa, như tội nhân và người được cứu độ, như một tự ngã trước Thiên Chúa, và như một hữu thể xã hội. Trong chương 8, Michael Downey phát triển một quan điểm về tính bí tích nhấn mạnh tới những điều ngụ ý trong các bí tích cho đời sống người Ki-tô hữu.

Phần III nghiên cứu một số vấn đề đương đại trong đời sống Giáo Hội. Trong chương 9, Mary Milligan giới thiệu khái niệm về linh đạo và nghiên cứu tỉ mỉ một số linh đạo khác nhau cũng như các cá nhân minh họa cho các linh đạo đó. Trong chương 10, Marie Anne Mayesky thảo luận về sự ảnh hưởng của Cđ. Va-ti-ca-nô II lên thần học Công Giáo Rô-ma và tập trung vào hai vấn đề trong Giáo Hội hậu công đồng, phong trào Đại kết và chủ nghĩa nữ quyền. Sau cùng, trong chương 11, Christopher Chapple chuyển từ lời kêu gọi của Cđ. Va-ti-ca-nô II về việc đối thoại và cộng tác với tín đồ của các tôn giáo khác, tới một sự trình bày sơ lược về các tôn giáo chính bên ngoài thế giới Tây phương.

Mặc dù cuốn sách này được viết từ một quan điểm của Giáo Hội Công Giáo Rô-ma, tuy nhiên, cách tiếp cận của nó được xây dựng trên tinh thần đại kết. Nó cũng suy tư về chủ nghĩa đa nguyên trong thần học đương đại dưới nhiều quan điểm khác từ những người cộng tác. Tính đa dạng đó cần được tôn trọng. Các cộng tác viên đã cố gắng, cho dù không phải lúc nào cũng thành công, nhằm giúp cho ngôn ngữ lịch sử của các đoạn văn trở nên bao hàm hơn. Các thay đổi đã giới thiệu được đặt trong dấu ngoặc. Các văn kiện được trích dẫn từ Cđ. Va-ti-ca-nô II sẽ được viết tắt bằng những chữ cái La-tinh đầu tiên trong tên gọi của chúng; một danh sách các ký hiệu viết tắt có thể được tìm thấy sau phần mục lục.

Cuốn sách này diễn tả một nỗ lực chung của các thành viên trong khoa thần học tại Đại học Loyola Marymount. Các phần nội dung trong sách được giới thiệu như một lớp học thuộc nhà trường vào mùa xuân năm 1991. Tất cả thành viên trong khoa của chúng tôi, những người được hưởng lợi từ kinh nghiệm đó, đều biết ơn những người đã tham gia lớp học và đóng góp ý kiến ​​và đề xuất của họ. Bây giờ, nó được giới thiệu như một cuốn sách với hy vọng dẫn dắt những người khác đến lĩnh vực nghiên cứu phong phú và phức tạp của thần học.

Thomas P. Rausch, S.J.


Chú thích

i X. Michael J. Buckley, “In Hunc Potissimum … : Ignatius’ Understanding of the Jesuit University,” các bài đọc sử dụng tại Ignatian Higher Education 1 (Spring 1989) 24.

ii X. George E. Ganss, The Constitutions of the Society of Jesus (St. Louis: Institute of Jesuit Sources, 1970) 174.

iii Robert J. Wister, “The Teaching of Theology 1950-90: the American Catholic Experience,” America 162 (February 3, 1990) 92; x. David J. O’Brien, “The Church and Catholic Higher Education,” Horizons 17 (1990) 14.

iv Chẳng hạn, trong số 28 trường cao đẳng và đại học thuộc Dòng Tên tại Hoa Kỳ vào năm 1990, có 2 trường yêu cầu bốn khóa học, 10 trường yêu cầu ba khóa, 15 trường yêu cầu hai, và 1 trường chỉ yêu cầu một.


Chương 1. Thần học và phương pháp

Vào cuối sứ vụ rao giảng Tin Mừng tại Ga-li-lê, Chúa Giê-su đã đưa ra cho các môn đệ của Người một câu hỏi: “Người ta nói Thầy là ai?” (Mc 8,27). Các môn đệ đều không chắc. Họ đã nghe người khác nói về Đức Giê-su. Họ đã ở cùng một nhóm với Người trong khoảng thời gian có lẽ là một năm. Họ đã nghe Người nói về sự gần gũi của Thiên Chúa, về Triều đại Thiên Chúa. Họ đã xem Người tới gần những người xa lạ, an ủi những ai đau khổ và âu lo, cũng như chữa lành đủ thứ bệnh tật. Họ đã thấy Người thách thức thái độ cứng nhắc và tự cho mình công chính của các nhà lãnh đạo tôn giáo. Và họ đã tự mình cảm nhận hy vọng mới và sự gần gũi của Thiên Chúa trong sự diện diện của Đức Giê-su. Nhưng họ không biết phải trả lời Người thế nào.

Sau cùng, Phê-rô đáp: “Thầy là Đấng Mê-si-a,” ông sử dụng một hình ảnh từ truyền thống tôn giáo trong thời của mình. Trong trí tưởng tượng của người Do-thái, được định hình cách đặc biệt bởi truyền thống ngôn sứ, Đấng Mê-si-a là Đấng được Thiên Chúa xức dầu, là niềm hy vọng từ dòng dõi vua Đa-vít, là người sẽ mang lại ơn cứu độ của Thiên Chúa, đổi mới đời sống tôn giáo của dân Chúa và thiết lập một trật tự mới của công lý, hòa bình và công chính. Cùng với cố gắng diễn tả đức tin của riêng mình vào Đức Giê-su bằng ngôn ngữ, Phê-rô cũng đã đưa ra một phát biểu thần học.

Thần học là gì? Thật không may, đối với nhiều người, thần học là một bí thuật hay nói cách khác, một bộ môn tìm cách nói về Thiên Chúa bằng một ngôn ngữ khác xa với kinh nghiệm thông thường của con người. Thần học dường như là thứ trừu tượng. Nó đầy ắp những từ ngữ lập tức thân thuộc và khó lòng định nghĩa, những từ chẳng hạn như đức tin, công chính hóa, cứu chuộc, ân sủng, cứu độ, mặc khải, cánh chung luận, linh hồn,… Một số khác nghĩ về thần học dưới khía cạnh phân chia thành những hệ thống và trường phái, Tin lành hay Công Giáo, theo Tô-ma hay theo Calvin, theo Barth hay theo Rahner, thần học Rô-ma, thần học giải phóng, hay thần học nữ quyền. Thần học dường như phức tạp vì nó phản ánh nhiều tiếng nói và mối quan tâm khác nhau.

Tuy nhiên, ẩn bên dưới tất cả những tiếng nói và mối quan tâm này, thần học quan tâm đến kinh nghiệm của chúng ta về Thiên Chúa, cách đặc biệt là kinh nghiệm về Thiên Chúa xét trong một cộng đoàn đức tin. Đó là nỗ lực để hiểu và diễn giải kinh nghiệm đức tin của một cộng đoàn nhằm đưa nó ra dưới sự diễn đạt bằng ngôn ngữ và biểu tượng. Theo lời Thánh Anselmô (1033-1109), thần học là fides quaerens intellectum, đức tin tìm hiểu biết.

Với sự nhấn mạnh vào đức tin này, thần học rất khác với các nghiên cứu về tôn giáo hay lịch sử tôn giáo. Các bộ môn đó tìm cách nghiên cứu một truyền thống tôn giáo hay đức tin từ bên ngoài giống như một quan sát viên khách quan và tách rời [khỏi đối tượng mà mình nghiên cứu]. Mặt khác, việc làm thần học chính là cố gắng nhằm diễn đạt đức tin của ai đó từ bên trong một truyền thống tôn giáo cá biệt. Tất nhiên, người ta có thể “dạy” thần học hay biết rất nhiều về một truyền thống thần học cá biệt nào đó. Nhưng việc thực sự “làm” thần học đòi hỏi phải có đức tin làm trung gian cho một nhận thức về Thiên Chúa. Hay như Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô I đã nói không lâu trước khi ngài qua đời, “Các nhà thần học nói quá nhiều về Thiên Chúa. Tôi tự hỏi đã bao nhiêu lần họ nói với Thiên Chúa.”

Như vậy, đức tin có thể không bao giờ bị loại bỏ khỏi tác vụ của thần học. Karl Rahner, nhà thần học Công Giáo hàng đầu của thế kỷ XX đã nói về thần học như một suy tư khoa học và có hệ thống về Giáo Hội dựa trên đức tin. Cách tiếp cận của ông đối với thần học hữu ích vì nó nhấn mạnh rằng trong khi  là một khoa học, thần học cũng là một công việc của Giáo Hội.

Mặc dù vậy, có một sự căng thẳng ẩn chứa ở đây trong quan hệ giữa thần học xét như một khoa học với thần học xét như một công việc của Giáo Hội. Xét như một khoa học, thần học đòi hỏi một sự tự do nhất định nhằm tiến hành các nghiên cứu và để theo sau những bằng chứng ở bất cứ đâu nó có thể dẫn tới. Trong khi xét như một công việc của Giáo Hội, thần học tìm cách bảo vệ đức tin được trao phó cho Hội Thánh và đã được tuyên bố bởi các thầy dạy chính thức trong Giáo Hội, tức là các Đức Giám mục. Tiếp theo, chúng ta sẽ cùng xem xét thần học dưới cả hai khía cạnh này.

1.1. Thần học xét như một khoa học

Đối với Rahner, thần học là “sự giải thích và giải nghĩa có ý thức và mang tính phương pháp luận về mặc khải thần linh đã tiếp nhận và nắm bắt trong đức tin.”1 Như vậy, thần học có thể được gọi là “khoa học về đức tin.” Vì đối tượng của thần học là mặc khải thần linh, tức là sự tiết lộ chính mình của Thiên Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô, nên thần học không phải là một công việc hoàn toàn chủ quan.

Trước hết, trong khi có một yếu tố chủ quan đối với kinh nghiệm đức tin cá nhân của chúng ta, nhưng kinh nghiệm đức tin đó luôn luôn là thứ được chia sẻ vì nó được tiếp nhận bởi một cộng đoàn và được chuyền giao bởi cộng đoàn đó trong lịch sử thông qua Thánh Kinh và truyền thống Ki-tô Giáo.

Hơn nữa, vì sự tiết lộ mang tính lịch sử của Thiên Chúa trong Chúa Giê-su Ki-tô, nên kinh nghiệm đức tin có một yếu tố thuộc về khái niệm; tức là nó có thể được diễn đạt bằng ngôn ngữ và trong các định đề hay khái niệm. Nhiệm vụ của thần học là khớp các yếu tố khái niệm ẩn chứa trong đức tin Ki-tô Giáo lại với nhau, bất chấp việc công thức ngôn ngữ nào đó có thể bị giới hạn hay liệu nó được diễn đạt thỏa đáng hay không. Thiên Chúa là Đấng nào? Làm sao chúng ta nhận biết Thiên Chúa? Chúng ta biết gì về Chúa Giê-su và các giáo huấn của Người? Để khớp kinh nghiệm đức tin Ki-tô Giáo trong ngôn ngữ với các khái niệm, thần học được tiến hành vừa mang tính phương pháp luận, vừa mang tính phê bình.

1.1.1. Các chuyên ngành và phương pháp

Xét như một khoa học, thần học tiến hành cách có phương pháp trong các nghiên cứu của nó. Cũng giống như các khoa học tự nhiên hay xã hội có các chuyên ngành hay lĩnh vực nghiên cứu và phương pháp riêng biệt, thần học cũng có một số lượng các chuyên ngành khác nhau và sử dụng nhiều phương pháp khác nhau trong việc diễn giải đức tin Ki-tô Giáo. Một số chuyên ngành nghiên cứu các nguồn Thánh Kinh, lịch sử và giáo lý trong giáo huấn Ki-tô Giáo. Một số được cấu trúc lại nhằm giúp cho sự hiểu biết Ki-tô Giáo về Thiên Chúa, Chúa Ki-tô, Giáo Hội, các bí tích,… ăn khớp với nhau. Bên cạnh đó là các chuyên ngành khác thuộc về mục vụ hay thực hành, quan tâm đến đời sống Ki-tô Giáo, ứng xử, cầu nguyện và phụng tự.

Sự phân chia thần học thành đa dạng các chuyên ngành không phải lúc nào cũng chính xác. Chẳng hạn, thần học luân lý đòi hỏi cả bề rộng của nhà hệ thống và tính nhạy bén của nhà thần học mục vụ. Nhận thấy rằng những sự phân chia ở đây có phần tùy ý, chúng ta sẽ xem xét một cách sơ lược các mối quan tâm và phương pháp được sử dụng trong thần học Thánh Kinh, thần học lịch sử, thần học hệ thống và thần học luân lý, cũng như một vài bộ môn có liên quan.

a. Thần học Thánh Kinh

Nhiệm vụ của thần học Thánh Kinh là tìm lại ý nghĩa lịch sử của các bản văn Thánh Kinh và ý nghĩa mà tác giả có ý đưa ra (đôi khi được tham chiếu tới như là nghĩa văn tự [nghĩa đen] hay nghĩa lịch sử của bản văn). Trong khi các nhà duy văn tự đồng nhất ý nghĩa của bản văn với nghĩa đen của ngôn từ, thì các nhà thần học Thánh Kinh hay nhà chú giải lại tìm cách khám phá ý nghĩa mà tác giả muốn diễn đạt. Vì thế, trong khi nhóm trước xem câu chuyện về đại hồng thủy trong St 6-8 như trình thuật về một sự kiện lịch sử có thật, thì nhóm sau lại xem nó như một thần thoại hay câu chuyện minh họa cho sức hủy diệt của tội lỗi. Để khám phá ý nghĩa lịch sử của bản văn, các nhà thần học Thánh Kinh sử dụng nhiều phương pháp lịch sử và văn chương trong nghiên cứu:

Phê bình lịch sử nghiên cứu bối cảnh lịch sử mà bản văn ra đời, tức là Sitz im Leben, hay hoàn cảnh sống của nó. Nhiều khoa học lịch sử khác nhau như lịch sử, khảo cổ học, nhân học, ngôn ngữ học đối chiếu,… có vai trò hữu ích đối với các nhà chú giải trong công việc này.

Phê bình văn thể là khoa học văn tự tìm cách nhận biết đa dạng các thể văn trong Thánh Kinh và cố gắng truy nguyên các thể thức cá biệt thông qua nhiều cấp độ truyền thống khác nhau nhằm khám phá hoàn cảnh sống của chúng. Một thể văn là một kiểu hay loại hình văn học, trong đó, hai thể văn cơ bản nhất là văn xuôi và thi ca. Thi ca Cựu Ước gồm có sử thi, trữ tình, giáo huấn, tán tụng và ai ca (than khóc). Văn xuôi gồm có các thể văn tường thuật như các thần thoại bình dân, truyền thuyết về các tổ phụ, truyện dân gian lãng mạn hóa, lịch sử các triều vua; cũng như các bộ luật, châm ngôn, sấm ngôn, truyện hư cấu, chuyện tình và thị khiến khải huyền.

Phê bình truy nguyên tìm cách xác định chất liệu mà một tác giả có thể rút ra từ đó. Chẳng hạn, Phúc Âm Mác-cô là nguồn của phần lớn Phúc Âm Mát-thêu và Lu-ca.

Phê bình biên soạn là một khoa học văn tự tìm cách khám phá thần học và góc nhìn cá biệt của một tác giả qua việc phân tích xem tác giả đó đã điều chỉnh một truyền thống được tiếp nhận, cấu trúc nên một tác phẩm, hay nhấn mạnh vào những chủ đề cá biệt như thế nào. Chẳng hạn, Thánh Mác-cô và Thánh Lu-ca nhấn mạnh giáo huấn của Chúa Giê-su về “nước” hay “triều đại Thiên Chúa,” Thánh Mát-thêu thường sử dụng thuật ngữ “Nước Trời,” trong khi Thánh Gio-an nhấn mạnh tới những phát ngôn thường xuyên hơn của Chúa Giê-su về “đời sống vĩnh cửu.”

Phê bình văn tự tìm cách thiết lập bản văn hay phiên bản nguyên gốc của một tác phẩm văn chương. Liệu nó được viết nguyên bản bằng tiếng Do-thái hay Hy-lạp? Đâu là điểm kết thúc ban đầu của một sách Tin Mừng? Cả Phúc Âm Mác-cô và Gio-an đều có các phần phụ lục được bổ sung ở giai đoạn sau này.

b. Thần học lịch sử

Thần học lịch sử nghiên cứu sự phát triển của đức tin Công Giáo và truyền thống thần học trong những thời kỳ khác nhau của lịch sử. Các chuyên ngành của thần học lịch sử gồm có Giáo phụ học, chuyên nghiên cứu về thần học của các Giáo phụ trong năm hoặc sáu thế kỷ đầu tiên, Thần học thời trung cổ, Cải cách, Thế kỷ XIX,… Một thần học lịch sử tốt có thể chỉ ra sự khác biệt giữa sự phát triển thực sự của truyền thống Giáo Hội với những sự diễn đạt cá biệt và phụ thuộc vào những yếu tố lịch sử về một giáo lý, bí tích hay tác vụ có thể cần được suy tính lại.

Qua việc khám phá thực hành trong Giáo Hội ở một thời đại sớm hơn, nhà sử học thường cung cấp cho Giáo Hội đương đại một góc nhìn mới và thường mang tính giải phóng. Bí tích Thánh Thể được hiểu ra sao trong thời đại các Giáo Phụ, trong thời Trung Cổ, hay trong thời kỳ Cải cách? Những nhân tố lịch sử nào đã góp vai trò vào sự phát triển của một giáo lý cụ thể? Chẳng hạn, tín điều về tính bất khả ngộ [không thể sai lầm] của Đức Giáo Hoàng đã được phát triển thế nào? Bản thân từ “bất khả ngộ” đã không hề được sử dụng cho tới thế kỷ XIII, và tính bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng cũng chỉ được định nghĩa kể từ Cđ. Va-ti-ca-nô I năm 1870.

c. Thần học hệ thống

Thần học hệ thống tìm hiểu những giáo lý đức tin cơ bản và cho thấy chúng liên hệ với nhau như thế nào. Trong cuốn Phương pháp trong Thần học (Method in Theology), Bernard Lonergan đã phân biệt những tác vụ khác nhau của thần học giáo lý (hay tín lý) và thần học hệ thống. Giáo lý quan tâm đến những xác tín rõ ràng về các thực tại tôn giáo, trong khi thần học hệ thống tìm hiểu các thực tại tôn giáo được xác nhận bởi những giáo lý đó. Trong số các chuyên ngành của nó, có thể kể đến Thần học về Thiên Chúa, Ki-tô học, Giáo Hội học hay thần học về Giáo Hội, thần học bí tích, nhân học thần học, v.v.

Thần học hệ thống có tính cấu trúc theo nghĩa rằng nó cố gắng diễn đạt lại Đức tin và giáo lý của Hội Thánh trong một ngôn ngữ và cách diễn đạt đương đại. Trong khi thực hiện công việc đó, nó thường kiểm tra một vấn đề cho trước dưới góc độ dựa trên các cơ sở thánh kinh, sự phát triển về mặt lịch sử, sự diễn đạt trong lời giảng dạy của huấn quyền và trong quan điểm của các thần học gia đương đại. Trong tác vụ này, thần học hệ thống tận dụng hầu hết những phương pháp và chuyên ngành thần học khác nhau.

Chẳng hạn, để phát triển một thần học đương đại về Giáo Hội, người ta sẽ phải nghiên cứu về sự phát triển của Giáo Hội khởi từ các cộng đoàn Tân Ước. Những cộng đoàn Ki-tô hữu sơ khai nhất đã được cấu trúc ra sao? Thừa tác vụ của họ đã được phát triển như thế nào? Liệu đó là một Giáo Hội duy nhất hay là nhiều giáo hội khác nhau? Thần học lịch sử sẽ được sử dụng để làm sáng tỏ về cách thức mà sự tự hiểu biết về mình của Giáo Hội đã tăng trưởng và biến đổi ra sao qua nhiều thế kỷ, về tác động của cuộc Cải cách Tin lành, và về những thần học khác nhau về Giáo Hội được trình bày rõ ràng trong những thời kỳ gần đây, cách đặc biệt tại Cđ. Va-ti-ca-nô I (1870) và một lần nữa, trong những văn kiện của Cđ. Va-ti-ca-nô II (1962-1965). Sau cùng, những quan điểm đương đại khác nhau cũng cần được tính đến. Giáo Hội được hiểu thế nào từ góc độ của thần học bí tích, thần học nữ quyền, hay thần học giải phóng? Nhãn quan về Giáo Hội được đưa ra tại Cđ. Va-ti-ca-nô II, công đồng chung gần đây nhất, đã được thể hiện thế nào trong đời sống của Giáo Hội đương đại? Mỗi quan điểm này sẽ bổ sung thứ gì đó vào một thần học bao quát về Giáo Hội.

d. Thần học luân lý

Thần học luân lý quan tâm đến việc trình bày rõ ràng những giá trị giúp định hình nên đời sống người Ki-tô hữu và xác định kiểu cư xử không phù hợp với nó. Vì thế, nó trình bày một loại đạo đức học thần học vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. Nó cố gắng tìm hiểu xem các quyết định luân lý đã được tạo ra như thế nào, và đâu là loại chỉ dẫn phát xuất từ Thánh Kinh và truyền thống Ki-tô Giáo [cho các quyết định đó].

Đạo Đức Học Xã Hội tìm cách áp dụng Tin Mừng và những giáo huấn xã hội của Hội Thánh vào các lĩnh vực công bằng xã hội, nhân quyền và các quan hệ quốc tế. Giáo huấn xã hội của Giáo Hội Công Giáo, như đã được diễn đạt trong những thông điệp xã hội của các Đức Giáo Hoàng gần đây, kể từ thông điệp Rerum Novarum (1891) của Đức Leo XIII, có tính cách cộng đồng hơn là cá thể. Nó lột tả phẩm giá của một nhân vị như đã được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, sự lệ thuộc của các hệ thống kinh tế vào công ích, nguyên tắc phân quyền, tính ưu tiên của lao động vượt trên tư bản, quyền được dự phần vào các lợi ích của một xã hội dành cho tất cả mọi người, một quyền có giới hạn đối với tài sản riêng, và gần đây hơn, là một quyết tâm phục vụ [đặc đãi] người nghèo.

e. Thần học mục vụ và các môn liên quan

Như Rahner từng nói, trong khi tất cả các môn thần học đều hoàn toàn mang tính mục vụ, thì thần học mục vụ hay thần học thực hành lại quan tâm đến việc phục vụ và xây dựng cộng đoàn Ki-tô hữu thông qua giảng dạy, phụng tự, tham vấn, giáo dục tôn giáo và phục vụ. Cùng với một số bộ môn liên quan, nó tập trung nhiều hơn cách trực tiếp vào đời sống và thực hành Ki-tô Giáo.

Linh đạo là thuật ngữ thường dùng để mô tả một nhãn quan cá biệt về đời sống Ki-tô hữu cùng với cách thức để sống nhãn quan đó. Một linh đạo là một bộ môn dành cho người môn đệ. Có nhiều linh đạo khác nhau trong truyền thống của Hội Thánh, như linh đạo đan tu, linh đạo Phanxicô, Inhaxiô, công bằng xã hội, nữ quyền,…

Thần học phụng vụ quan tâm đến việc phụng tự chính thức của Giáo Hội. Nó tìm cách giúp cho những hành động bí tích của Giáo Hội diễn tả cách hữu hiệu hơn ý nghĩa của đời sống Ki-tô hữu trong Chúa Ki-tô xét như một cộng đoàn trong Thần Khí, thông qua việc nghiên cứu lịch sử, cấu trúc và các lễ nghi phụng vụ.

Giáo Luật là môn nghiên cứu về [hệ thống] luật Giáo Hội được pháp điển hóa lần đầu tiên năm 1918 và được tu chính vào năm 1983.

1.1.2. Thần học xét như môn phê bình

Giống như các khoa học khác, thần học là một bộ môn phê bình. Dưới khía cạnh này, nó có một số tác vụ khác nhau, một trong số đó là tìm cách phân biệt ra các phát biểu chính thức về đức tin của Hội Thánh, tức giáo lý, từ những gì vẫn còn là niềm tin và quan điểm thần học bình dân. Trong khi tin tưởng là những phát biểu thần học về đức tin Ki-tô Giáo vốn không luôn luôn là giáo huấn chính thức của Hội Thánh, thì giáo lý là những tin tưởng đã trở thành giáo huấn chính thức của Hội Thánh và thường là kết quả từ việc nó được giảng dạy bởi Huấn quyền, cho dù tại một công đồng hay thông qua huấn quyền của Đức Giáo Hoàng hay Giám mục đoàn.

Thông thường, các tin tưởng bình dân dễ bị nhầm lẫn với giáo lý của Hội Thánh. Chẳng hạn, nhiều người công giáo hiện nay vẫn tiếp tục tin vào limbo như là một nơi chốn cho những trẻ thơ chưa được rửa tội, cho dù sự tồn tại của nó không hề xuất hiện trong giáo huấn chính thức hay giáo lý của Hội Thánh. Nó đi vào lịch sử Ki-tô Giáo dưới tư cách là một quan điểm thần học, một chọn lựa được phát triển bởi các thần học gia thời Trung cổ nhằm đối lại quan điểm có phần khắc nghiệt của Thánh Augustinô cho rằng những trẻ thơ chưa được rửa tội sẽ bị chúc dữ [sa hỏa ngục].

Một tác vụ phê bình khác của thần học là giải thích lại ngôn ngữ của Hội Thánh, nhờ đó, nó có thể phản ánh đức tin mà Hội Thánh muốn diễn đạt theo cách phù hợp hơn. Mọi “diễn đạt về mặc khải” đều phụ thuộc vào những yếu tố lịch sử và do đó, bị giới hạn, như Thánh bộ Giáo lý Đức tin đã nhìn nhận trong Tuyên ngôn Mysterium Ecclesiae [Mầu nhiệm Hội Thánh] (24/06/1973).2 Thuật ngữ “diễn đạt về mặc khải” bao gồm Thánh Kinh, các tín biểu, tín điều, giáo lý và giáo huấn của huấn quyền. Tuyên ngôn này đã lưu ý về bốn con đường mà trong đó, những diễn đạt về mặc khải có thể bị giới hạn:

1. Do năng lực diễn đạt của ngôn ngữ thời đại. Điều này có nghĩa rằng loại ngôn ngữ thành công trong việc truyền đạt thông tin trong một thời đại chưa chắc đã thành công trong một thời đại khác. Chẳng hạn, những thuật ngữ như Nước Thiên Chúa, ân sủng, hay công chính có thể phải được dịch lại cho những thời đại và những nền văn hóa khác nhau.

2. Do tri thức giới hạn của thời đại. Do đó, một biểu thức đức tin có thể đúng nhưng không đủ và cần được giải thích thêm. Chẳng hạn, định nghĩa của Cđ. Va-ti-ca-nô I về tính bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng là đúng, nhưng cần được bổ sung cho đầy đủ bởi sự nhấn mạnh của Cđ. Va-ti-ca-nô II vào việc các Đức Giám mục đồng tham dự vào việc thi hành tác vụ giáo huấn bất khả ngộ của Hội Thánh.

3. Do những mối quan tâm cụ thể đóng vai trò đưa tới định nghĩa hay tuyên bố. Để hiểu một tuyên bố cá biệt nào đó, chúng ta tất yếu phải hiểu được bối cảnh lịch sử mà nó được đưa ra. Chẳng hạn, sự nhấn mạnh của Cđ. Va-ti-ca-nô I vào quyền tối thượng và tính bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng chủ yếu nhằm đáp trả những người Pháp khi ấy (Chủ nghĩa Pháp giáo) đã nhấn mạnh thái quá tới quyền của hàng giáo phẩm trong nước nhằm được chuẩn nhận những giáo huấn của Đức Giáo Hoàng, cũng như nhấn mạnh vị trí của nhà nước nhằm hạn chế quyền của Đức Giáo Hoàng thông qua các luật địa phương.

4. Do những khái niệm tính [conceptualities] (hay các phạm trù tư tưởng) có thể thay đổi theo từng thời đại. Chẳng hạn, ngôn ngữ về sự biến đổi bản thể ở thế kỷ XIII được sử dụng nhằm diễn tả một chân lý quan trọng liên quan tới niềm tin của Hội Thánh vào Bí tích Thánh Thể; nhưng cùng một chân lý đó cũng có thể được diễn tả theo một ngôn ngữ khác trong một nền văn hóa đã không còn nghĩ tới các phạm trù triết học về bản thể và các tùy thể; tương tự như thế, ý niệm quân chủ về Giáo Hội ở thế kỷ XIX là không thích hợp cho sự hiểu biết về Giáo Hội sau Cđ. Va-ti-ca-nô II.

1.2. Thần học xét như công việc của Giáo Hội

Thần học luôn là để phục vụ Đức tin Ki-tô Giáo. Xét như một nỗ lực nhằm trình bày đức tin cách rõ ràng, thần học luôn là một công việc của cộng đoàn đức tin, tức Giáo Hội. Mặc dù cả các thần học gia chuyên nghiệp và các Đức Giám mục đều tham dự vào tác vụ này, tuy nhiên, họ thực hiện nó theo những cách khác nhau.

1.2.1. Các Đức Giám mục và các thần học gia

Vào thế kỷ XIII, Thánh Tô-ma A-qui-nô đã nói về vị trí tiến sĩ [doctores] hay thần học gia trong các trường đại học như là nơi thực thi quyền giáo huấn thuộc về một chức vụ hay tác vụ giảng dạy (magisterium cathedrae magistralis), bên cạnh quyền giáo huấn thuộc về tác vụ mục vụ hay huấn quyền của Đức Giám mục (magisterium cathedrae pastoralis). Trong các thế kỷ XIII và XIV, các sắc lệnh của một số công đồng chung cũng đã được gửi tới các thần học gia tại các đại học trước khi phê chuẩn chính thức.

Chỉ dưới thời Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XVI, khoảng năm 1830, mà thuật ngữ “huấn quyền” mới nhận lấy ý nghĩa như hiện nay của nó, tức là một tác vụ giáo huấn được thực thi bởi Đức Giáo Hoàng và các Đức Giám mục. Các Đức Giám mục có trách nhiệm để mắt tới những gì Giáo Hội công bố và bảo vệ “kho tàng đức tin.” Khi quy tụ lại trong các công đồng, các ngài thực thi tác vụ giáo huấn của Hội Thánh, hay “huấn quyền,” và trong những trạng huống cụ thể, các ngài hiệp nhất cùng với Đức Giáo Hoàng dưới tư cách là thủ lãnh Giám mục đoàn, cùng dự phần vào tính bất khả ngộ. Các Đức Giám mục có thẩm quyền nhờ vào tác vụ của các ngài, thứ cho phép các ngài phát biểu [dưới tư cách đại diện] “cho” Hội Thánh.

Trong khi đó, các thần học gia phát biểu “từ” Hội Thánh chứ không phải “cho” Hội Thánh. Họ cũng có một quyền [hay uy tín] dựa trên cơ sở là sự uyên bác của bản thân. Họ phải làm được nhiều hơn những gì chỉ ở mức truyền bá đức tin của Hội Thánh. Tác vụ của họ là đảm bảo chắc chắn rằng ngôn ngữ và những gì mà Hội Thánh tuyên bố luôn luôn được cập nhật [hay hợp thời]. Họ phải không ngừng kiểm tra lại truyền thống của Hội Thánh nhằm giúp cho truyền thống ấy chiếu tỏa ánh sáng lên những vấn đề mới được đặt ra. Họ cần có sự tự do trong việc đặt vấn đề đối với những sự diễn tả truyền thống của đức tin Ki-tô Giáo—kể cả những phát biểu của huấn quyền—để giải phóng chính mình khỏi những giới hạn mà các yếu tố lịch sử gây ra nơi những sự diễn tả đó, đồng thời, giúp cho chúng, trong những bối cảnh lịch sử mới, đảm bảo được tính khả tri [hay có thể hiểu được].

Đã từng có nhiều giai đoạn mà vai trò phân biệt của các Đức Giám mục và các thần học gia bị lẫn lộn. Các thần học gia đôi khi không tôn trọng thẩm quyền mục tử của các Đức Giám mục và tự ban cho mình một thứ quyền dựa trên sự uyên bác của bản thân. Đôi khi, họ hành xử hết sức chậm chạp trong việc phê bình những đồng nghiệp minh nhiên bác bỏ giáo huấn của Hội Thánh và để mặc trách nhiệm đó cho các Đức Giám mục.

Mặt khác, những người phát biểu nhân danh huấn quyền của Hội Thánh cũng đôi khi không tôn trọng quyền chính đáng của các thần học gia. Trước Cđ. Va-ti-ca-nô II, một loạt các thần học gia có tên tuổi, bao gồm cha John Courtney Murray S.J., đã bị Giáo quyền cấm xuất bản một số đề tài chuyên môn nhất định và chỉ được minh oan sau khi kết thúc Công đồng. Gần đây hơn, một số thần học gia Công Giáo đương đại đã bị kỷ luật hoặc bị yêu cầu giữ im lặng bởi Thánh Bộ Giáo lý Đức Tin. Ủy nhiệm hợp luật và quyền giảng dạy dưới tư cách một nhà thần học Công Giáo của Hans Küng cũng đã bị thu hồi vào năm 1979. Cả Edward Schillebeeckx và Leonardo Boff đã bị triệu tập tới Rôma để giải thích về quan điểm của họ; trong đó, Boff bị yêu cầu cấm xuất bản trong một năm. Vào năm 1986, Charles Curran, một giáo sư về thần học luân lý, đã buộc phải rời khỏi vị trí tại khoa thần học thuộc Đại học Công Giáo Hoa Kỳ do những lập trường của ông trong lĩnh vực đạo đức học tính dục. [Theo người dịch, trong bối cảnh này, việc đưa ra một số tên tuổi đã nhận phán quyết bất lợi từ phía Thánh Bộ Giáo lý Đức tin sau một quá trình điều tra thận trọng và sau khi đã khuyến nghị đương sự xém xét lại quan điểm của mình, có phần không thỏa đáng. Sự tự do học thuật tới mức không có bất cứ giới hạn nào, giống như yêu sách của nhiều nhà thần học Công Giáo, trong nhiều trường hợp, dường như là một sự thách thức nhắm vào huấn quyền, đồng thời, được thôi thúc bởi tiếng gọi đầy cám dỗ của học vấn thế tục.]

Trong một số tài liệu của mình, Đức Giáo Hoàng Piô XII có xu hướng giảm chức năng của các thần học gia thành việc cung cấp sự hỗ trợ cho những giáo huấn của huấn quyền. Trong Thông điệp Humani Generis, ngài viết rằng tác vụ thích hợp cho các thần học gia là “chỉ ra xem vì lý do nào mà những điều đã được giảng dạy bởi huấn quyền sống động lại được tìm thấy trong Thánh Kinh và Thánh truyền, cho dù theo cách minh nhiên hay mặc nhiên (DS 3886).”3 Bốn năm sau khi ban hành Thông điệp đó, ngài lập luận thêm rằng các thần học gia “không giảng dạy nhân danh chính mình, cũng không do bởi danh vị trong chuyên môn thần học của họ, nhưng nhờ vào sứ vụ mà họ nhận được từ huấn quyền hợp lệ.”4

Nhãn quan có tính pháp lý này sau đó tái xuất hiện tại Bộ Giáo Luật 1983, nơi nói rằng các nhà thần học Công Giáo giảng dạy trong các đại học Công Giáo cần nhận được một “ủy nhiệm thư” từ nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội; và một lần nữa tại văn kiện Instruction on the Ecclesial Vocation of the Theologian [Bản chỉ dẫn cho ơn gọi Thần học gia] do Thánh Bộ Giáo lý Đức tin ban hành năm 1990.5

1.2.2. Những tiêu chuẩn cho các phát biểu thần học

Vậy làm thế nào đã ai đó có thể đánh giá tính thỏa đáng của một phát biểu thần học cá biệt? Về vấn đề này, các nhà thần học Công Giáo tuân theo một số tiêu chuẩn phản chiếu bản tính của thần học vừa xét như một khoa học, vừa xét như một công việc của Hội Thánh. Trong đó, những tiêu chuẩn quan trọng nhất bao gồm:

1. Nó có mâu thuẫn với truyền thống Thánh Kinh hay không? Thánh Kinh, xét như sự diễn tả bằng văn tự cho kinh nghiệm đức tin của dân Ít-ra-en và cộng đoàn Ki-tô hữu sơ khai, vẫn là một sự diễn tả có tính quy phạm của truyền thống Ki-tô Giáo. Bất cứ sự diễn tả thần học nào về đức tin Ki-tô Giáo đều phải phù hợp với chứng từ của truyền thống Thánh Kinh. Tuy nhiên, tiêu chuẩn về tính phù hợp này nhìn nhận đồng thời rằng một số vấn đề đương đại đã không được Thánh Kinh đề cập đến, và đàng khác, những vấn đề phức tạp cũng không thể được trả lời đơn thuần bằng cách viện vào một trích đoạn cá biệt nào đó, chẳng hạn như kiểu lập luận dựa trên Ga 14,6 để cho rằng chỉ riêng các Ki-tô hữu mới là những người được cứu độ.

2. Nó có được truyền thống chính thức của Hội Thánh ủng hộ không? Đức tin của Hội Thánh chuyển thành phát biểu chính thức trong các tín biểu, các bí tích và phụng vụ chính thức, cũng như trong những giáo huấn từ tác vụ giảng dạy, hay huấn quyền của Hội Thánh. Phát biểu thần học về một tin tưởng mâu thuẫn với giáo huấn chính thức của Hội Thánh hẳn ít nhất cũng có vấn đề, bằng không cũng minh nhiên trái ngược với Thánh truyền, và do đó, không phù hợp. Đức tin của Hội Thánh cũng chuyển thành phát biểu chính thức trong phụng vụ. Chỉ riêng Bí tích Rửa Tội hay Bí tích Thánh Thể cũng đã ẩn chứa rất nhiều điều liên quan đến thần học Ki-tô Giáo.

3. Nó có phù hợp với đức tin của các Ki-tô hữu không? Đức tin của Hội Thánh cũng chuyển thành công thức trong cảm thức của người tín hữu (sensus fidelium). Cảm thức tín hữu tham chiếu tới những gì mà người Ki-tô hữu tin tưởng. Tuy nhiên, cảm thức này đi xa hơn quan điểm của số đông, thứ có thể được xác minh cách đơn thuần nhờ một cuộc thăm dò ý kiến. Nó không vận hành một cách độc lập với giáo huấn chính thức từ các Đức Giám mục, nhưng đúng hơn, hòa quyện với giáo huấn đó trong một mối quan hệ mang tính biện chứng. Cảm thức tín hữu là kết quả từ hoạt động của Chúa Thánh Thần trong toàn thể Giáo Hội. Theo Cđ. Va-ti-ca-nô II:

Toàn thể tín hữu được Đấng Thánh xức dầu (x. 1 Ga 2,20.27) nên không thể sai lầm trong đức tin, họ biểu lộ thuộc tính đặc biệt này qua cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể dân Chúa, khi “từ các Giám mục đến những người bé mọn nhất trong các tín hữu” đều đồng thuận về những điều liên quan đến đức tin và phong hóa [hay luân thường đạo lý] (LG 12).

4. Nó có phù hợp với tri thức khoa học không? Một phát biểu thần học không thể được “chứng minh” dựa theo những phương pháp của các khoa học tự nhiên hay xã hội. Tuy nhiên, một thần học tốt ít nhất cần phù hợp với những gì đã được nhận biết từ các nguồn tri thức khác. Chẳng hạn, không có gì mâu thuẫn giữa thuyết tiến hóa, được hiểu như một giả thuyết đã được thiết lập vững chắc, với giáo lý của Thánh Kinh về Sáng tạo. Một bên quan tâm tới tin tưởng rằng Thiên Chúa chính là tác giả tối hậu của công trình sáng tạo, trong khi bên còn lại quan tâm tới vấn đề khoa học xem việc sáng tạo đó đã xảy ra như thế nào.

Một số hiện tượng, chẳng hạn như các phép lạ, không thể được giải thích bằng con đường khoa học. Nhưng thay vì coi chúng như những sự kiện mâu thuẫn với các “định luật” của tự nhiên, sẽ có nghĩa hơn khi chúng ta nhìn nhận rằng, trong một số trường hợp, những nguyên nhân khác, dù không nhận biết được nhưng vẫn nằm trong địa hạt thế giới của chúng ta, có thể đã đi vào hoạt động. Mầu nhiệm Phục sinh của Chúa Giê-su là một trường hợp đặc biệt, trong chừng mực nó chính xác là một sự kiện cánh chung hơn là một sự kiện có thể được kiểm chứng bằng lịch sử.

5. Nó có khả năng nói lên mối quan tâm của những người đương thời không? Tiêu chuẩn này quan tâm nhiều hơn tới tính hữu hiệu của một phát biểu thần học hơn là chân lý mà nó diễn đạt. Mặc dù vậy, nó vẫn đóng một vai trò quan trọng. Một phát biểu thần học không liên hệ gì tới đời sống người Ki-tô hữu thì cho dù có đúng đi chăng nữa, cũng sẽ không phải là một sự diễn tả hiệu quả cho đức tin của cộng đoàn.

1.2.3. Thần học và Giáo lý

Trong Hiến Chế Tín Lý Về Hội Thánh, Cđ. Va-ti-ca-nô II dạy rằng các Đức Giám mục, trong khi hiệp nhất với Đức Giáo Hoàng, có thể giảng dạy một cách bất khả ngộ trong những trạng huống cụ thể. Tuy nhiên, các Nghị phụ tham dự Công đồng đã cẩn trọng đưa ra sự phân biệt giữa những thực hành huấn quyền bất khả ngộ với những gì được gọi chung là giáo huấn của huấn quyền thông thường (hay huấn quyền “không bất khả ngộ”). Người tín hữu được mời gọi tán đồng với cả hai kiểu giáo huấn này, mặc dù loại tán đồng dành cho mỗi kiểu trong số đó là khác nhau.

Người tín hữu cần có sự “vâng phục của đức tin” đối với những giáo huấn đã được tuyên bố là bất khả ngộ (các tín điều), trong khi những giáo huấn mặc dù có thẩm quyền nhưng không bất khả ngộ (giáo lý) cần được đón nhận với một sự “tuân phục trong tinh thần đạo đức” (obsequium religiosum) về ý chí và lý trí (LG 25). Sự phân biệt này có vai trò quan trọng bởi lẽ nó liên quan tới sự khác biệt giữa tín điều và giáo lý.

Những giáo huấn hay giáo lý được xét là do mặc khải thần linh và được giảng dạy với thẩm quyền tối cao của Hội Thánh được gọi là các tín điều. Các tín điều bao gồm những điều được trình bày trong kinh Tin Kính, những giáo huấn được tuyên bố trọng thể bởi các công đồng chung, và những giáo huấn bất khả ngộ (ex cathedra) từ huấn quyền ngoại thường của Đức Giáo Hoàng. Cho tới nay, tính bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng mới chỉ được nại đến hai lần, lần thứ nhất trong tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội do Đức Giáo Hoàng Piô IX công bố năm 1854, và lần thứ hai trong tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời do Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố năm 1950.

Việc tán đồng đối với các tín điều là một sự vâng phục của đức tin, điều này có nghĩa rằng việc bác bỏ một tín điều sẽ đẩy ai đó ra khỏi sự hiệp thông với cộng đoàn tín hữu. Vì thế, các tín điều cấu thành một “quy phạm đức tin” hay “tín luật.” Chúng được coi là “không thể sửa đổi,” một thuật ngữ có nghĩa rằng chiều hướng của những phán quyết được đưa ra là không thể bị thay đổi, bất kể việc giống như những tuyên bố phụ thuộc vào các yếu tố lịch sử, chúng có thể được đưa ra để giải thích lại trong tương lai.

Trong khi đó, giáo lý bao gồm tất cả các giáo huấn của Hội Thánh cho dù chúng thuộc về Thánh Kinh, các công đồng hay huấn quyền thông thường của Đức Giáo Hoàng. Ở đây, cần lưu ý rằng không phải tất cả các giáo lý đều được tuyên bố với cùng một thẩm quyền; “các định mức thần học” được áp dụng cho chúng khởi từ “rất có thể” và “chắc chắn” tới mức “được hàm chứa trong mặc khải thần linh” (de fide divina). Cđ. Va-ti-ca-nô II dạy rằng giữa các giáo lý khác nhau, có một trật tự hay “phẩm trật” các chân lý (UR 11).

Sự tán đồng đối với các giáo lý, khác với sự tán đồng đối với các tín điều, được diễn đạt bằng công thức La-tinh obsequium religiosum có nhiều nghĩa khác nhau là suy phục, tùng phục, hay vâng phục. Vì obsequium religiosum diễn tả thái độ suy phục của người tín hữu, một thái độ yêu mến hướng về Hội Thánh, nên nó giả thiết một sự ủng hộ của họ đối với sự thật trong những điều mà Hội Thánh dạy bảo. Tuy nhiên, như nhiều nhà thần học đã chỉ ra, vì rằng những giáo huấn này không được tuyên bố một cách bất khả ngộ, nên tính khả hữu của những sai lầm ẩn chứa trong đó là điều không thể bỏ qua. Vì thế, những giáo huấn này không chỉ có thể được giải thích lại, nhưng còn có thể được đưa ra để sửa đổi hay cải cách trong tương lai. Ở đây, thần học đóng một vai trò quan trọng trong việc thăm dò truyền thống và tìm ra những cách thức mới nhằm diễn đạt đức tin của Hội Thánh theo hướng phù hợp hơn.

Có rất nhiều ví dụ trong lịch sử gần đây của Giáo Hội cho thấy rằng những giáo huấn từ huấn quyền thông thường của Đức Giáo Hoàng đã được duyệt lại mà nguyên nhân là Hội Thánh, cách riêng là các học giả, đã “thu nhận” những lối [tiếp cận] phê bình đối với các giáo lý này. Trong một nghiên cứu quan trọng, J. R. Dionne đã nêu ra sự bất lực rõ ràng của Đức Giáo Hoàng Piô IX trong việc tìm ra bất cứ sự thật hay sự thiện nào trong các tôn giáo ngoài Ki-tô Giáo, cùng với phán quyết của ngài dành cho tuyên bố rằng Giáo Hội và nhà nước nên được tách biệt, cũng như sự phủ nhận của ngài đối với tự do tôn giáo xét như một quyền khách quan; bên cạnh đó là việc đồng nhất Giáo Hội Công Giáo Rô-ma với Nhiệm thể Chúa Ki-tô của Đức Giáo Hoàng Piô XII.6 Tất cả những giáo huấn giáo hoàng này đều đã được thay đổi bởi Cđ. Va-ti-ca-nô II. Ở điểm này, thần học đóng một vai trò phê bình trong sự phát triển của giáo lý.

1.3. Kết luận

Đức tin Ki-tô Giáo được diễn tả bằng nhiều cách, bằng đời sống yêu thương và phục vụ tha nhân, bằng cầu nguyện và phụng tự, bằng âm nhạc, kiến trúc và nghệ thuật, bằng Thánh Kinh và truyền thống Ki-tô Giáo sống động. Thần học là nỗ lực nhằm diễn tả đức tin Ki-tô Giáo bằng ngôn ngữ.

Thần học vừa là một bộ môn phê bình, một khoa học, vừa là một công việc của Giáo Hội. Nó phải giữ gìn ân huệ vô giá là sự mặc khải chính mình của Thiên Chúa trong Chúa Giê-su, đồng thời, đảm bảo chắc chắn rằng loại ngôn ngữ mà Hội Thánh sử dụng để công bố ân huệ đó luôn giữ được tính khả tri trong những nền văn hóa khác nhau và trong những bối cảnh lịch sử mới.

Bất chấp những căng thẳng đôi khi xảy ra với huấn quyền, các nhà thần học hầu như luôn có một tương quan hữu hiệu với các Đức Giám mục. Họ hiểu về chính mình như là những thành viên của Hội Thánh, đồng thời, tìm cách sử dụng khả năng chuyên môn nhằm giúp cho Hội Thánh, cùng với những tuyên bố mà Hội Thánh đưa ra, phản ánh sâu sát hơn [nội dung của] Tin Mừng. Các Đức Giám mục đánh giá cao công việc của các nhà thần học và nhận sự trợ giúp từ phía họ trong khi thi hành thừa tác vụ của các ngài dưới tư cách là những thầy dạy chính thức của Hội Thánh. Trong việc xây dựng cộng đoàn Ki-tô hữu, vai trò của cả hai bên đều thiết yếu như nhau.


Câu hỏi

1. Đâu là khác biệt giữa thần học và nghiên cứu tôn giáo?

2. Việc nói rằng một tuyên bố thần học phụ thuộc vào các yếu tố lịch sử có nghĩa gì?

3. Thảo luận về các tiêu chuẩn quy định tính thỏa đáng của một phát biểu thần học.

4. Thảo luận về những đóng góp tương ứng theo vị trí của các thần học gia và các Đức Giám mục vào tác vụ thần học của Hội Thánh.


Chú thích

1 Karl Rahner, “Theology,” Encyclopedia of Theology: The Concise Sacramentum Mundi, ed. Karl Rahner (New York: Seabury Press, 1975) 1687.

2 X. “Declaration in Defense of the Catholic Doctrine on the Church Against Certain Errors of the Present Day,” Origins 3 (1973) 97-100.

3 Yves Congar, “A Brief History of the Magisterium and Its Relations with Scholars,” Readings in Moral Theology. The Magisterium and Morality, ed. Charles E. Curran and Richard A. McCormick, vol. 3 (New York/Ramsey: Paulist Press, 1982) 325.

4 Pius XII, “Si diligis,” Acta Apostolicae Sedis 46 (1954) 314.

5 Origins 20 (1990) 117-26.

6 X. J. Robert Dionne, The Papacy and the Church: A Study of Praxis and Reception in Ecumenical Perspective (New York: Philosophical Library, 1987).

Scroll to Top