Siêu Hình Học

CHƯƠNG III. NGUYÊN LÝ BẤT MÂU THUẪN

Có một số yếu tố chủ yếu hay cơ bản trong tri thức nhân loại được dùng làm cơ sở cho tất cả các chân lý khác. Giống như hữu thể là khái niệm đệ nhất trong trí tuệ của chúng ta, được bao hàm trong bất cứ khái niệm hậu thiên nào, cũng vậy, có một phán đoán là đệ nhất cách tự nhiên và là cái được giả thiết bởi tất cả các phán đoán khác. Phán đoán đệ nhất này là: “Không thể vừa hiện hữu, vừa không hiện hữu cùng lúc và theo cùng một khía cạnh.” Khi chúng ta khẳng định rằng một sự vật hiện hữu theo một cách thức cụ thể, chúng ta giả thiết rằng nó không phải là cùng một sự vật khi hiện hữu theo cách khác. Nếu chúng ta nói rằng giúp đỡ người khác là tốt, chúng ta thừa nhận rằng “tốt” không cùng là một với “không tốt”.

Vì nguyên lý cơ bản này tham chiếu đến hữu thể—mặc dù nó được sử dụng trong mọi lĩnh vực của tri thức nhân loại—nên việc nghiên cứu và vén mở ý nghĩa đầy đủ của nó là một nhiệm vụ thích đáng của siêu hình học, khoa học về hữu thể xét là hữu thể. Khi nghiên cứu chân lý tối thượng này, chúng ta sẽ đi sâu vào một trong những đặc tính cơ bản và hiển nhiên nhất của hành vi hiện hữu.

1. NGUYÊN LÝ ĐỆ NHẤT VỀ HỮU THỂ

Phán đoán đệ nhất được gọi là nguyên lý bất mâu thuẫn vì nó diễn đạt trạng thái cơ bản nhất của các sự vật, rằng chúng không thể tự mâu thuẫn. Nguyên lý này dựa trên hiện hữu, diễn đạt tính nhất quán của hiện hữu và sự đối lập của nó với phi hiện hữu.

Chúng ta biết con vật này, ngọn núi kia, bông hoa đó, chúng ta nhận thức mỗi sự vật trong số chúng xét như cái hiện hữu, như một hữu thể. Sau đó, chúng ta đi đến ý niệm về sự phủ định của hữu thể, hay sự phi hiện hữu, được khái niệm hóa không phải như “cái hư vô thuần túy”, nhưng là một phi hữu thể tương đối và có giới hạn. Chẳng hạn, chúng ta nhận thấy rằng con chó này là một hữu thể, nhưng nó không phải là con chó khác. Do đó, khi nhận biết các hữu thể cá biệt, chúng ta cũng hình thành nên khái niệm phủ định đệ nhất—phi hữu thể.

Khi đã tiếp thu một “sự phi hiện hữu” nhất định trong các sự vật, thứ nảy sinh từ sự giới hạn của mỗi sự vật trong số chúng, chúng ta hiểu rằng một hữu thể không thể vừa hiện hữu, vừa không hiện hữu cùng lúc và theo cùng một nghĩa. Do đó, nguyên lý bất mâu thuẫn diễn đạt tính không tương hợp triệt để giữa hiện hữuphi hiện hữu vốn dựa trên sự kiện rằng hành vi hiện hữu ban xuống một sự hoàn thiện thực sự và đích thực trên mọi hữu thể, sự hoàn thiện này đối lập tuyệt đối với sự thiếu hụt nó.

Chúng ta nói là “cùng lúc”, vì, chẳng hạn, không có gì mâu thuẫn khi lá cây có màu xanh vào một mùa trong năm và có màu nâu hoặc hơi đỏ vào một số mùa khác. Chúng ta cũng thêm chữ “theo cùng một nghĩa” hay “dưới cùng một khía cạnh”, bởi hoàn toàn không có gì mẫu thuẫn khi, chẳng hạn, một người có sự uyên bác trong một số chủ đề nhưng lại rất yếu trong những chủ đề khác.

Rõ ràng là nguyên lý này có tầm quan trọng nền tảng không chỉ trong tri thức tự phát và khoa học, nhưng còn trong lĩnh vực hoạt động của con người, bởi lẽ nó là điều kiện đầu tiên của sự thật trong mọi phán đoán.

2. NHỮNG CÁCH DIỄN ĐẠT KHÁC NHAU VỀ NGUYÊN LÝ BẤT MÂU THUẪN

Trên hết, nguyên lý đệ nhất là một phán đoán đề cập đến thực tại. Do đó, những công thức sâu sắc hơn của nguyên lý này là những công thức về một bản tính siêu hình, tức là những công thức liên quan trực tiếp đến esse của các sự vật. Chẳng hạn, “không thể có một và cùng một sự vật vừa hiện hữu, vừa không hiện hữu”,1 và “không thể có một sự vật vừa hiện hữu, vừa không hiện hữu cùng lúc”2. Chúng ta không nói đơn thuần rằng “cái gì tự mâu thuẫn thì không thể tưởng nghĩ,” vì nguyên lý bất mâu thuẫn là quy luật cao nhất của thực tại và không chỉ đơn thuần là một tiên đề hay định đề của tâm trí nhằm giải thích thực tại. Vì thế, điều mà chúng ta đang thực sự khẳng định với nguyên lý này là hữu thể tự nó không tự mâu thuẫn.

Tuy nhiên, vì trí năng của chúng ta hướng đến việc nhận biết thực tại như nó hiện hữu, nên nguyên lý đệ nhất của hữu thể, theo một cách thức dẫn xuất, cũng là một quy luật của tư tưởng: quy luật đệ nhất của lôgic.3 Do đó, chúng ta cũng tìm thấy những công thức lôgic của nguyên lý đệ nhất này và là những thứ đề cập nhiều hơn đến tri thức của chúng ta về hữu thể. Chẳng hạn, “chúng ta không thể cùng lúc khẳng định và phủ định một điều gì đó thuộc cùng một chủ đề và theo cùng một nghĩa,” hoặc “các mệnh đề mâu thuẫn về cùng một chủ đề không thể đồng thời đúng.”

Tâm trí nằm dưới sự chi phối của nguyên lý bất mâu thuẫn. Nó không thể nhận biết hữu thể tự mâu thuẫn, cách chính xác là bởi vì hữu thể không thể tự mâu thuẫn. Tất nhiên, chúng ta có thể tự mâu thuẫn với chính mình trong khi suy nghĩ hay trò chuyện, nhưng điều này chỉ xảy ra khi chúng ta đi chệch hướng khỏi thực tại vì một thiếu sót trong lý luận của mình. Khi ai đó chỉ ra cho chúng ta sự không nhất quán mà mình đã mắc phải, chúng ta có xu hướng sửa chữa bản thân ngay tức thì. Trong mọi tình huống, cho dù chúng ta có thể khẳng định điều gì đó mâu thuẫn, thì nó cũng không thể được hiểu.

3. TRI THỨC QUY NẠP VỀ NGUYÊN LÝ BẤT MÂU THUẪN

Nguyên lý bất mâu thuẫn được biết đến cách tự nhiên và tự phát bởi mọi người thông qua kinh nghiệm. Nó là per se notum omnibus, có nghĩa là điều tự hiển nhiên đối với mọi con người.

Tất nhiên, nó không phải là một phán đoán tiên thiên mà tâm trí sở hữu trước khi có tri thức thực tế, hay một loại khung trí tuệ được xây dựng sẵn nhằm hiểu được thực tại. Để hình thành nên phán đoán này, trước tiên, chúng ta phải biết các thuật ngữ của nó (hữu thểphi hữu thể). Đây là những khái niệm mà chúng ta chỉ nắm bắt được khi trí năng hiểu được thực tại bên ngoài và nhận thức các hữu thể muôn hình vạn trạng thông qua các giác quan; chẳng hạn, mảnh giấy này là một hữu thể khác biệt với máy đánh chữ kia, thứ “không phải giấy” (phi hữu thể). Vì đây là hai khái niệm đệ nhất mà chúng ta định hình nên, do đó, tất cả mọi người đều tất yếu và trực tiếp phải biết đến quy luật bất mâu thuẫn này.

Tất nhiên, ở giai đoạn khởi đầu của tri thức, nguyên lý này không được diễn đạt trong công thức phổ quát của nó—“một sự vật không thể vừa hiện hữu, vừa không hiện hữu.” Tuy nhiên, nó được biết đến với sự nhập liệu đầy đủ và mọi người đều hành động phù hợp với nó. Chẳng hạn, ngay cả một em nhỏ cũng biết khá tốt rằng ăn không giống như không ăn, và em cư xử phù hợp với hiểu biết đó của mình.

4. BẰNG CHỨNG VỀ NGUYÊN LÝ BẤT MÂU THUẪN VÀ SỰ PHÒNG VỆ CỦA NÓ, “AD HOMINEM”

Vì là phán đoán đệ nhất, nguyên lý này không thể được chứng minh bằng các chân lý khác có trước nó. Tuy nhiên, việc nó không thể được chứng minh không phải là một dấu hiệu của sự bất toàn; đúng hơn, chúng ta nên nói rằng đó là một dấu hiệu của sự hoàn thiện. Khi một sự thật là hiển nhiên tự nó, thì người ta không cần thiết phải chứng minh, cũng như không thể chứng minh được. Chỉ có điều gì đó không trực tiếp hiển nhiên mới cần chứng minh mà thôi. Bên cạnh đó, nếu tất cả các khẳng định đều được chứng minh bằng cách sử dụng những khẳng định khác, chúng ta sẽ không bao giờ đạt tới một số sự thật tự hiển nhiên. Từ đó, tri thức của con người cuối cùng sẽ là vô căn cứ hoặc không có cơ sở.

Sự phòng vệ của nguyên lý đệ nhất chống lại những người phủ nhận nó

Mặc dù chân lý về nguyên lý bất mâu thuẫn không thể được chứng minh bằng cách sử dụng các chân lý hiển nhiên khác (mà thực sự là không có), nhưng nó có thể được chứng minh cách gián tiếp qua việc chỉ ra tính không nhất quán của bất cứ ai phủ nhận nó. Không nghi ngờ gì nữa, mặc dù một lập luận như vậy quả là hữu ích, nhưng nó không phải là một bằng chứng xác thực. Bên cạnh đó, tính chắc chắn hay hợp lệ tuyệt đối của nguyên lý bất mâu thuẫn cũng không phụ thuộc vào những “bằng chứng” gián tiếp như vậy, nhưng dựa vào nhận thức tự phát tự nhiên của chúng ta về hữu thể. Tuy nhiên, chúng ta có thể giải thích ngắn gọn về một vài lập luận trong số những lập luận này, như những gì được tìm thấy trong bộ Siêu hình học của Aristotle:

a) Để phủ nhận nguyên lý này, người ta phải bác bỏ mọi ý nghĩa của ngôn ngữ. Nếu “con người” cũng là “không phải người”, thì trên thực tế, “con người” không có nghĩa gì cả. Bất cứ từ nào cũng sẽ biểu thị cho tất cả mọi sự và như vậy, chẳng biểu thị bất cứ thứ gì; và mọi thứ sẽ đồng nhất với nhau. Từ đó, mọi sự thông truyền hay hiểu biết giữa người với người sẽ không thể thực hiện được. Vì thế, bất cứ khi nào ai đó nói ra một từ, thì anh ta đã thừa nhận nguyên lý bất mâu thuẫn từ trước đó, bởi lẽ anh ta chắc chắn muốn từ đó có nghĩa là một cái gì đó xác định và phân biệt với cái đối lập của nó. Nếu không, anh ta thậm chí sẽ không nói được gì (x. Metaphysics, IV, ch. 4).

b) Rút ra những hệ quả cuối cùng từ lập luận “ad hominem” này, Aristotle khẳng định rằng bất cứ ai bác bỏ nguyên lý đệ nhất cũng nên hành xử như một loài thực vật, bởi lẽ ngay cả động vật cũng di chuyển để đạt được mục tiêu mà chúng thích hơn là những thứ khác, chẳng hạn như khi chúng tìm kiếm thức ăn. (x. Ibidem).

c) Bên cạnh đó, việc phủ nhận nguyên lý này trên thực tế lại có nghĩa là chấp nhận nó, vì trong khi bác bỏ nó, một người thừa nhận rằng việc khẳng định và phủ nhận là không giống nhau. Nếu một người chủ trương rằng nguyên lý bất mâu thuẫn là sai, thì anh ta đã thừa nhận rằng đúng và sai là không giống nhau, do đó chấp nhận chính nguyên lý mà anh ta muốn loại bỏ. (x. Metaphysics, XI, ch. 5).

Thuyết tương đối xét như một hệ quả của việc phủ nhận nguyên lý đệ nhất

Bất chấp sự hiển nhiên của nó, nguyên lý bất mâu thuẫn trên thực tế đã bị phủ nhận bởi một số trường phái tư tưởng thời cổ đại (Heraclitus, các nhà ngụy biện, những người theo chủ nghĩa hoài nghi) và theo một cách thậm chí còn triệt để và có chủ ý hơn trong thời hiện đại bởi một số dạng triết học biện chứng (chủ nghĩa Marx)4 và thuyết tương đối duy lịch sử. Những học thuyết này giảm thực tại xuống thành biến đổi hay “biến hóa” thuần túy: không có gì hiện hữu, mọi sự đều biến đổi; không có khác biệt hay đối lập giữa hữu thểphi hữu thể. Theo cách này, họ bác bỏ bản tính vững chắc của các sự vật và phủ nhận tính nhất quán của hành vi hiện hữu cùng với các tính chất của nó. Do đó, không có điểm quy chiếu chắc chắn và không có nguyên lý nào cho sự thật tuyệt đối. Họ chủ trương rằng các học thuyết đối lập lẫn nhau đều hợp lệ như nhau: một tuyên bố không có gì đúng hơn so với tuyên bố đối lập với nó.

Vì dường như không thể đặt cơ sở của mọi sự trên cái [nothing], nên một khi hữu thể bị bác bỏ, thì tính chủ quan của con người sẽ được thiết lập như là cơ sở duy nhất cho chân lý.5 Cơ sở tận căn của thực tại khi đó sẽ là sự quy chiếu của tính chủ quan đó đến mọi cá thể: hiện hữu của các sự vật bị giảm xuống thành hiện-hữu-đối-với-tôi, thành giá trị hay lợi ích cá biệt mà mỗi người có thể gán cho chúng vào những thời điểm khác nhau của cuộc đời mình. Chẳng hạn, các thực tại như hôn nhân hay xã hội sẽ không có một bản tính riêng, cũng như không bị bất cứ quy luật vững chắc nào chi phối; thay vào đó, sẽ phụ thuộc vào ý nghĩa mà người ta có thể trao cho chúng một cách tùy tiện.

Do đó, mọi sự phủ nhận đối với nguyên lý bất mâu thuẫn trong lịch sử đều được đánh dấu bằng một thuyết tương đối duy chủ thể tấn công vào đời sống con người trên bình diện lý thuyết và thực tiễn. Tầm quan trọng của nguyên lý đệ nhất này có thể được thấy rõ ràng hơn trong lĩnh vực đời sống luân lý, vì sự phủ định đối với nó cũng phá hủy sự phân biệt giữa sự thiện và sự dữ. Từ đó, nguyên lý đệ nhất trong địa hạt của hoạt động nhân loại—làm lành, lánh dữ—sẽ bị loại bỏ. Động cơ và quy tắc ứng xử duy nhất trong hoạt động của con người khi đó sẽ là “Tôi muốn làm điều này,” mà không quan tâm đến các chuẩn mực đạo đức khách quan.

5. VAI TRÒ CỦA NGUYÊN LÝ BẤT MÂU THUẪN TRONG SIÊU HÌNH HỌC

Vì là quy luật cao nhất về hữu thể, nguyên lý bất mâu thuẫn đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong mọi tri thức nhân loại cả về mặt lý thuyết và thực tiễn, bằng cách thúc đẩy chúng ta tránh những sự không nhất quán trong tri thức và hoạt động của mình. Chẳng hạn, sẽ là tự mâu thuẫn nếu coi Thiên Chúa, Đấng Vô Hạn, cũng là đối tượng của sự tiến hóa qua lịch sử (như Hegel đã dạy); do đó, chúng ta bác bỏ giả thuyết này. Tương tự như vậy, cũng thật phi lý khi coi thế giới là vật chất tự phát sinh (như Marx đã dạy), bởi lẽ việc coi bất cứ thứ gì là nguyên nhân của chính nó là một điều mâu thuẫn.

Nguyên lý đệ nhất thúc đẩy tri thức siêu hình theo một cách đặc biệt, vì nó diễn đạt tính chất cơ bản của hữu thể. Nguyên lý bất mâu thuẫn giúp chúng ta khám phá cấu trúc bên trong của các hữu thể và những nguyên nhân của chúng. Chẳng hạn, khi chúng ta phân tích bản tính thuần linh trong hành vi hiểu biết và ước muốn của con người, chúng ta thấy mình có nghĩa vụ kết luận rằng nguyên lý của những hành vi đó (linh hồn con người) cũng thuần linh, vì sẽ là mâu thuẫn nếu một chủ thể vật chất lại thực hiện các hành vi thuần linh. Tương tự như vậy, trong thần học tự nhiên, hiện hữu giới hạn của tất cả mọi sự vật trong vũ trụ dẫn chúng ta đến kết luận rằng Thiên Chúa hiện hữu, bởi lẽ sẽ là mâu thuẫn nếu một vũ trụ có tất cả các đặc tính của cái được tạo ra (như tính hữu hạn, tính bất toàn của nó) nhưng lại không được tạo ra–tức không có bất cứ nguyên nhân nào. Hành vi hiện hữu của các sự vật là thứ bắt buộc trí năng của chúng ta phải đạt tới tri thức sâu sắc hơn về thực tại mà không rơi vào mâu thuẫn.

Trí năng của chúng ta có được phần còn lại của tri thức của nó nhờ nguyên lý bất mâu thuẫn. Cũng giống như việc tất cả các khái niệm khác đều được bao hàm trong khái niệm hữu thể nhưng không thể được thu lấy từ nó bằng cách phân tích hoặc suy luận, do đó, nguyên lý đệ nhất được bao hàm trong tất cả các phán đoán, nhưng phần còn lại của tri thức nhân loại không thể suy ra từ nó được. Nói theo nghĩa chặt, chúng ta biết không phải bằng cách khởi đi từ nguyên lý bất mâu thuẫn, nhưng bằng cách hành động sao cho phù hợp với nó. Chỉ với phán đoán đệ nhất này, và nếu không có tri thức về các phương thức hiện hữu khác nhau mà kinh nghiệm cung cấp, chúng ta không thể đạt tới sự tiến bộ trong tri thức. Do đó, nguyên lý bất mâu thuẫn hầu như luôn được sử dụng một cách ngầm ẩn và gián tiếp (mà không cần phải trình bày nó cách rõ ràng như một tiền đề tam đoạn luận trong mỗi lần sử dụng) để bác bỏ những gì là phi lý, và do đó, dẫn dắt tâm trí đến những giải pháp đúng đắn.

Mặc dù vai trò của nguyên lý đệ nhất sẽ được hiểu rõ hơn trong quá trình nghiên cứu về sau, nhưng nó có thể được hiểu tốt hơn một chút ở giai đoạn này nếu chúng ta nhận ra cách mà các triết gia đã nâng cao tri thức của họ, cũng như cách họ định hướng bản thân nhằm tránh khỏi bất cứ sự mâu thuẫn nào.

Heraclitus, ông tổ của thuyết tương đối, đã chủ trương rằng thực tại là sự biến đổi hay biến hóa thuần túy, do đó, phủ nhận nguyên lý bất mâu thuẫn. Đối với ông, không có gì hiện hữu: mọi sự đều biến đổi. Về phần mình, Parmenides muốn tái thiết lập chân lý về hữu thể nhằm chống lại việc giải thể thực tại của Heraclitus. Ông đã đưa ra tuyên bố nổi tiếng: “Hữu thể hiện hữu, phi hữu thể không hiện hữu.” Tuy nhiên, do cách hiểu cứng nhắc và thiếu linh động về nguyên lý này, Parmenides đã bác bỏ mọi thứ phi hiện hữu, kể cả phi hữu thể tương đối. Vì thế, ông nói rằng tất cả những sự giới hạn, tính đa phức và biến đổi là không khả hữu. Ông kết luận rằng thực tại là một hữu thể duy nhất, thuần nhất và bất động.

Plato đã phát triển một siêu hình học thừa nhận thực tại của sự thiếu hụt và khẳng định rằng thế giới khả giác tham dự vào thế giới của các ý niệm. Vì thế, ông đã đưa vũ trụ hữu hạn vào trong địa hạt của hiện hữu. Tiếp sau đó, Aristotle là người nhấn mạnh ý nghĩa thực sự của phi hữu thể tương đối được tìm thấy trong các sự vật, khi ông khám phá ra một nguyên lý thực sự về giới hạn, đó là tiềm năng. Do đó, Aristotle là người đã phát biểu nguyên lý bất mâu thuẫn theo cách chính xác hơn: “Cái gì đó không thể hiện hữu và không hiện hữu cùng lúc và theo cùng một nghĩa.

6. CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN KHÁC DỰA TRÊN NGUYÊN LÝ BẤT MÂU THUẪN

Bây giờ, chúng ta hãy xem xét các nguyên lý cơ bản khác có liên kết chặt chẽ đến nguyên lý đệ nhất.

a) Nguyên lý loại trừ trung gian. Nó nói rằng “không có điểm trung gian nào giữa hiện hữu và phi hiện hữu,” hoặc “không có điểm trung gian nào giữa khẳng định và phủ định”. Phán đoán này biểu thị rằng một sự vật hoặc hiện hữu, hoặc không hiện hữu, chứ không có lựa chọn nào khác, và do đó, nó được rút gọn thành nguyên lý bất mâu thuẫn. Một vị trí trung gian là không thể vì nó sẽ vừa hiện hữu, vừa không hiện hữu cùng lúc. Nguyên lý này thường được sử dụng trong lý luận qua công thức: “mọi mệnh đề đều tất yếu đúng hoặc sai.”

Mặc dù hiện hữu trong tiềm năng có vẻ là vị trí trung gian giữa hiện hữu và phi hiện hữu, nhưng thực ra nó nằm giữa hiện hữu trong hiện thểkhông phải hiện hữu trong hiện thể hay phi hiện hữu tuyệt đối. Nguyên lý liên quan đến tiềm năng sau đây cũng hợp lệ: không thứ gì có thể hiện hữu trong hiện thể và trong tiềm năng cùng lúc, và theo cùng một nghĩa; không có điểm trung gian nào giữa hiện hữu trong tiềm năng và không phải hiện hữu trong tiềm năng.

b) Nguyên lý đồng nhất tính. Nó nói rằng “hữu thể là hữu thể”, hoặc “bất cứ thứ gì hiện hữu đều là cái mà nó là”, hoặc “hữu thể hiện hữu, và phi hiện hữu không hiện hữu.” Mặc dù cả Aristotle và Thánh Tô-ma đều không nói đến đồng nhất tính như một nguyên lý đệ nhất, nhưng nhiều tác giả tân kinh viện đã đề cập đến nó, họ hầu như luôn rút gọn nó thành nguyên lý bất mâu thuẫn.

Trong nhiều trường hợp, đặc biệt với những người theo Spinoza, nguyên lý đồng nhất tính được sử dụng để khẳng định rằng thế giới đồng nhất với chính nó, rằng nó thuần nhất, và do đó, không giới hạn và không bị phân chia theo cách mà nó không cần nguyên nhân nào khác ngoài chính nó. Như trong trường hợp của Parmenides, nhưng bây giờ theo một cách triệt để hơn, lập trường này đưa đến thuyết phiếm thần, nơi mà thụ tạo chiếm lấy vị trí của Thiên Chúa.

Đôi khi, các nguyên lý khác cũng được bao hàm trong số các nguyên lý cơ bản này. Chẳng hạn như nguyên lý nhân quả (“Mọi hiệu quả đều có nguyên nhân” hoặc “Mọi sự vật bắt đầu hiện hữu đều có nguyên nhân”) và nguyên lý mục đích (“Mọi tác nhân đều hành động vì một mục đích”). Nói theo nghĩa chặt, đây hoàn toàn không phải là những nguyên lý đệ nhất, vì chúng liên quan đến những khái niệm hạn chế hơn và xuất hiện sau khái niệm hữu thểphi hữu thể, (cách đặc biệt là các khái niệm “nguyên nhân”, “hiệu quả” và “mục đích”). Do đó, chúng đã giả thiết trước nguyên lý bất mâu thuẫn và có phạm vi hạn chế hơn.


CHÚ THÍCH

1 Aristotle, Metaphysica, IV, 3, 1005b 25.

2 Ibid., IV, 4, 1006a 3.

3 Ngay cả các tiên đề của lôgic biểu tượng cũng luôn bao gồm nguyên lý bất mâu thuẫn trong số các định đề đệ nhất của chúng, là những thứ dường như thuần túy mang tính quy ước. Điều này chứng tỏ rằng nguyên lý này cũng là quy luật đệ nhất của lôgic.

4 Nhắc đến Heraclitus, Aristotle nhận xét rằng bất cứ ai phủ nhận nguyên lý bất mâu thuẫn sẽ khiến bản thân trở nên không thể hiểu nổi đối với những người khác. “Vì không ai có thể nghĩ rằng cùng một sự vật vừa hiện hữu, vừa không hiện hữu. Có người cho rằng Heraclitus khẳng định điều ngược lại. Tất nhiên, một người không cần phải chấp nhận cách thực sự tất cả những gì anh ta nói” (Metaphysics, IV, 3, 1005 b25). Các nhà Marxist luôn cố gắng loại bỏ nguyên lý này, nhưng cuối cùng, họ vẫn thừa nhận vai trò không thể thiếu của nó đối trong sự tiến bộ của tư tưởng nhân loại. Trong khi một số nhà Marxist khác chỉ thừa nhận giá trị của nó đối với những nhu cầu thực tiễn và trực tiếp của con người.

5 Một trong những cách diễn đạt sớm nhất của chủ nghĩa chủ quan này, thứ song hành với việc phủ nhận nguyên lý bất mâu thuẫn, là tuyên bố của nhà ngụy biện Protagoras: “Con người là thước đo của vạn vật” (Diels-Kranz 80, B1). Một câu nói đã được lặp đi lặp lại nhiều lần xuyên suốt lịch sử nhân loại theo nhiều cách khác nhau.


SÁCH THAM KHẢO

ARISTOTLE, Metaphysica, IV, ch. 3-8; XI, 4-6.

SAINT THOMAS AQUINAS, In Metaph., IV lect. 5-17; XI, 4-6; S. th., I-II, q. 94, a. 2.

GARRIGOU-LAGRANGE, Le sens commun, la philosophie de l’être et les formules dogmatiques, Beauchesne, Paris 1909.

MANSER, La esencia del tomismo, C.S.I.C. Madrid 1953.

L. ELDERS, Le premier principe de la vie intellective, in <<Revue Thomiste>> 62 (1962), pp. 571-586.

P. C. COURTÈS, Cohérence de l’être et Premier Principe selon Saint Thomas d’Aquin, in <<Revue Thomiste>>, 70 (1970), pp. 387-423.