cứu độ (ơn cứu độ) (salvation)
William George Topmoeller, S.J.
Thuật ngữ được sử dụng nhằm diễn tả hành động mà qua đó, Thiên Chúa phục hồi nhân loại trở về tình trạng trước khi họ sa ngã do tội lỗi của Ađam. Vì kinh nghiệm về đau khổ và tội lỗi là phổ quát, nên niềm hy vọng về ơn cứu độ nhờ một hành động nào đó của Thượng đế là một yếu tố nổi bật trong nhiều tôn giáo.
Tôn giáo Do Thái-Kitô giáo là phúc âm, tin mừng, bởi lẽ nó loan báo về cách mà Thiên Chúa đã cứu độ nhân loại vì tình yêu thương và lòng thương xót. Sau khi hứa ban ơn cứu độ (St 3,15), Thiên Chúa đã chuẩn bị con người để họ đón nhận Đấng Cứu Thế bằng cách chọn dân Hípri làm dân riêng của Ngài. Việc nhiều lần bị giam cầm về mặt chính trị đã làm tăng thêm khát vọng của họ về một Đấng Cứu Thế. Qua nhiều lần cứu thoát dân, chẳng hạn như khỏi ách nô lệ của người Ai Cập dưới thời ông Môsê, Thiên Chúa, Đấng luôn trung tín với lời hứa của Ngài, đã ban cho họ niềm tin rằng chỉ có Ngài mới cứu độ họ [1 Sm 14,39; Tv 67(68),20; Gr 3,23] qua việc dựng nên một thủ lãnh (Tl 6,36; Đnl 18,15-18). Theo thời gian, các yếu tố khác đã được thêm vào ý niệm về Đấng Cứu Thế: Ngài sẽ là một vị vua thuộc dòng dõi Đavít [Mk 5,1; Tv 109(110),1], là Đấng sẽ cứu thoát số dân trung thành còn sót lại (Is 10,20-22) bằng đau khổ (Is 52,13-53,12), nhưng lại là một CON NGƯỜI mầu nhiệm từ trời xuống với quyền năng kỳ diệu (Đn 7,13; Is 35,4), Ngài chính là Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa xuống thế gian để tái tạo nó (Cn; Kn).
Thiên Chúa Ngôi Con đã xuống thế làm người và cứu độ nhân loại bằng lời dạy và các phép lạ của Ngài, bằng gương sống, bằng cái chết, bằng sự Phục Sinh, Thăng Thiên, bằng việc thiết lập Giáo Hội và sai Chúa Thánh Thần đến với Giáo Hội của Ngài.
Điểm cốt lõi trong lời rao giảng của các tông đồ là chỉ có Chúa Giêsu mới là Đấng Cứu Độ (Cv 4,9-12; Lc 4,17-21). Con người lạc lối và Mục Tử Nhân Lành dẫn dắt họ (Ga 10,11); con người đau yếu và Người Samari Nhân Hậu cứu chữa họ (Lc 10,34); Ngài làm nhiều phép lạ để chứng tỏ rằng Đấng chữa lành cả linh hồn và thể xác đã đến (Lc 7,18-23). Con người ra ô uế và Máu Ngài tẩy sạch họ (Kh 7,14); con người là tội nhân, tức là phạm tội chống lại Thiên Chúa và bị kết án tử hình; Đấng Bào Chữa đã đến để bãi bỏ bản án bằng cách tẩy xóa tội lỗi của họ và gánh lấy hình phạt thay cho họ (1 Ga 2,1; 3,5; Cl 2,14; Mt 8,17; Cv 5,31; 1 Pr 2,22-25). Con người đi trong bóng tối của sự lầm lạc và Ngài là ánh sáng thế gian (Ga 8,12). Con người làm nô lệ cho nỗi sợ cái chết, cho những dục vọng, cho các thế lực xấu xa của thế gian và của Xatan; còn Chúa Giêsu là Đấng giải phóng toàn thắng, Môsê thứ hai, Đấng chiến thắng sự chết, thế gian, ma quỷ và do đó, giải phóng nhân loại, nhờ cái chết và sự Phục Sinh của Ngài (Cv 26,18; Rm 5-8; 1 Ga 3,8; Cl 1,13). Chúa Kitô phục hồi con người về tình trạng ban đầu của họ. Từ tình trạng thù địch, con người được giao hòa với Thiên Chúa nhờ Đấng Trung Gian duy nhất (Enchiridion symbolorum 1513: 1 Tm 2,5; Rm 5,10); từ cái chết thiêng liêng và bị tước quyền thừa kế, con người được tái sinh làm con cái Thiên Chúa và làm người thừa kế thiên đàng (Rm 8,17); từ cảnh tù đày, con người được cứu chuộc nhờ Máu của Chúa Kitô và trở thành dân Thiên Chúa bằng một danh hiệu mới (Tt 2,14; 1 Pr 1,18; 1 Cr 6,20); từ cảnh lưu đày và phân tán, con người được đoàn tụ với Thiên Chúa trong Chúa Kitô (Ga 17,20-23); từ sự hỗn loạn thiêng liêng, con người được tái tạo theo HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA bởi Lời sáng tạo của Ngài (Cl 3,10; Gl 6,15; Kh 21,5).
Tham khảo
William George Topmoeller S.J., The New Catholic Encyclopedia, 2nd edition