mặc khải — khái niệm mặc khải trong Kinh Thánh (concept of revelation in the Bible)

Joseph B. Jensen, OSB



Trước hết, mặc khải là hành động của Thiên Chúa được thể hiện qua sự vén mở tiệm tiến kế hoạch cứu độ đời đời của Ngài trong Đức Kitô. Nhờ mặc khải, Thiên Chúa biểu lộ và thông truyền chính mình cho con người, thiết lập Hội Thánh và mời gọi lời đáp lại yêu thương trong tinh thần tin nhận và vâng phục. Thứ hai, mặc khải là toàn bộ chân lý được biểu lộ thông qua kế hoạch vén mở của Thiên Chúa. Bản tính của mặc khải có thể được thấy trong cả Cựu Ước và Tân Ước.

Mặc khải trong Cựu Ước

Phần này sẽ suy xét về một vị Thiên Chúa ẩn mình và sự mặc khải về chính mình của Ngài qua Lời của Ngài và qua sự hiện diện của Ngài trong lịch sử.

Thiên Chúa Ẩn Mình. Trên hết, Thiên Chúa là Đấng Thánh (Is 6,3), điều đó có nghĩa là Ngài hoàn toàn “khác”, được tôn vinh cao hơn loài người, siêu việt và không thể chạm tới. Ngài ngự trên các tầng trời (St 28,12-13; Đnl 26,15; 1 V 8,30); không ai có thể nhìn thấy nhan Ngài mà sống được (Xh 19,21; 33,20; Đnl 18,16); Ngài được bao phủ trong bóng tối ở Nơi Cực Thánh và thậm chí trong những cuộc thần hiện (Xh 20,21; Đnl 4,11; Tv 80[81],8; 1 V 8,12); Ngài là một vị Thiên Chúa ẩn mình (Is 45,15). Và Tân Ước cũng đồng tình với điều đó (x. Mt 11,27; Lk 10,21-22; Ga 1,18; 6,46; 1 Tm 6,16; 1 Ga 4,12).

Tác giả sách Khôn Ngoan (thế kỷ I TCN) là người đầu tiên khẳng định rõ ràng rằng con người có thể nhận biết Thiên Chúa nhờ lý trí—nhưng sau đó, ông lại quở trách họ vì đã không thờ phượng Ngài (Kn 13,1-9). Trong Tân Ước, Thánh Phaolô cũng đưa ra lập luận tương tự (Cv 14,15-17; 17,22-31; Rm 1,18-32); và theo ngài, ngay cả dân ngoại cũng có thể có lề luật của Thiên Chúa trong lòng (Rm 2,14-15), nhưng tất cả đều đã phạm tội (Rm 3,23); trước thời của mặc khải trong Chúa Kitô, dân ngoại sống trong “những thời mà người ta không nhận biết Thiên Chúa” (Cv 17,30), vì thế gian đã không dùng sự khôn ngoan mà ​nhận biết Ngài (1 Cr 1,21). Như vậy, các tác giả Kinh Thánh đã thừa nhận tính khả hữu của một tri thức về Thiên Chúa có được nhờ lập luận khởi từ công trình sáng tạo, nhưng cũng khẳng định rằng về mặt lịch sử, lập luận này đã không đưa tới một tri thức cá vị, tức là tri thức được diễn đạt bằng sự thờ phượng và cam kết luân lý. Kế hoạch cứu độ đặc biệt của Thiên Chúa được biết đến rất ít bằng lý trí; nó thậm chí còn phần nào bị che giấu ngay cả đối với các thiên thần (1 Pr 1,12). Trên thực tế, dân Ítraen tin rằng chính công trình sáng tạo đã vén mở về Thiên Chúa (Tv 18[19],2-5; 103[104]) vì nó được coi là thuận theo ý muốn của Ngài và được Ngài trực tiếp kiểm soát: các hiện tượng trong vũ trụ được xem như hành động của Ngài. Vì thế, một cơn bão có thể là một cuộc thần hiện (Tv 28[29]); những tai họa như nạn đói (2 Sm 21) hay dịch bệnh (2 Sm 24) là sự biểu lộ cơn giận dữ của Thiên Chúa; một đàn chim cút bay tới (Ds 11,31), một cơn gió xuất hiện đúng lúc (Xh 14,21), hay một trận mưa đá (Gs 10,11—“Đức Chúa cho rơi những hòn đá lớn”) đánh dấu sự can thiệp quan phòng của Ngài. Dù không đưa ra sự phân biệt giữa tự nhiên và siêu nhiên, nhưng cách tiếp cận này vẫn có giá trị đối với người Do Thái là những người đã gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo, và giờ đây, chiêm ngắm Ngài qua các công trình của Ngài.

Mặc khải qua Lời Chúa. Thiên Chúa siêu việt và vô hình, Đấng mà con người có thể nhận biết cách không hoàn hảo bằng lý trí, đã tỏ lòng thương xót và hạ mình khi mặc khải chính Ngài cho họ. Ý định mặc khải của Thiên Chúa được chứng thực bởi các trích đoạn Kinh Thánh cụ thể (Am 3,7; Is 45,19; Ds 12,6; Đnl 18,15-18; Đn 2,47; Hc 42,19) và bởi nhiều thuật ngữ và cách diễn đạt khác nhau. Ngài vén mở hay hé lộ (גָּלָה [gālâ]) một chân lý hoặc phẩm tính nào đó (trong קַל [qal] hoặc פִּעֵל [piel]) hoặc chính Ngài (נִפְעַל [niphal]); Ngài tự tỏ mình ra (נִפְעַל [niphal] của יָדַע [yāda‘]) hoặc làm cho người khác nhận biết Ngài (הִפְעִיל [hiphil] của יָדַע [yāda‘]); Ngài xuất hiện (được nhìn thấy— נִפְעַל [niphal] của רָאָה [rā'â]) hoặc khiến ai đó nhìn thấy một sự kiện, thấy vinh quang của Ngài hay thấy một thị kiến (הִפְעִיל [hiphil] của רָאָה [rā'â]); Ngài khiến ai đó nghe thấy giọng nói, lời nói hay lời phán xét của Ngài (הִפְעִיל [hiphil] của שָׁמַע [šāma‘]); Ngài công bố (נָגַד [nāgad] - הִגִּיד [higgîd]); phát biểu (דָּבַר [dābar] - דִּבֵּר [dibbēr]); nói (אָמַר [’āmar]); và Lời của Ngài (דָּבָר [dābār]) gửi đến các ngôn sứ. נִפְעַל [niphal] của động từ thường có một sức mạnh hay phẩm tính thần linh nào đó làm chủ ngữ, chẳng hạn như lời, vinh quang, cánh tay hay sự cứu độ.

Chính Thiên Chúa, hành động như một ngôi vị, là Đấng chủ động thông truyền chính Ngài cho con người. Việc tìm kiếm mặc khải thông qua bói toán, gọi hồn và các hình thức ma thuật khác đều bị nghiêm cấm (Đnl 18,9-14) mặc dù người ta có thể tìm kiếm (דָּרַשׁ [dāraš], שָׁאַל [šā’al]) câu trả lời từ một nhân vật đủ tư cách phát ngôn cho Thiên Chúa, chẳng hạn như một tư tế hay ngôn sứ.

Mặc khải chủ yếu được hoàn thành nhờ phương thế là “lời” của Thiên Chúa. Ngay cả khi Thiên Chúa đến với con người trong giấc mơ, thị kiến hoặc những cuộc THẦN HIỆN, thì thông thường, chính lời của Ngài mới làm sáng tỏ ý nghĩa của sự kiện đó (Gr 1,11-14; Am 7,7-9; Đn 7,15-18; Xh 19,9-11). Tư tế, ngôn sứ và hiền nhân đều nói lời của Thiên Chúa, nhưng theo những cách thức và mức độ khác nhau (Gr 18,18).

Lời của Lề luật. Mười Điều Răn nói riêng được gọi là lời (Xh 34,28; Đnl 4,13; 10,4), nhưng thuật ngữ này cũng bao gồm cả các luật lệ khác (Đnl 4,2). Qua kinh nghiệm ngôn sứ, ông Môsê hiểu rằng—lời đáp lại mà Thiên Chúa đòi hỏi ở nơi dân được Ngài gọi ra khỏi Ai Cập—và—các luật lệ mà ông làm trung gian—là sự biểu lộ đúng đắn cho ý muốn luân lý của Thiên Chúa đối với họ. Phần lớn luật lệ trong Ngũ thư đều đến từ thời kỳ sau này và được mở rộng trong giới tư tế, nơi nó tiếp tục phát triển trên tinh thần của luật lệ Môsê để trở thành một bộ luật ngày càng hoàn hảo hơn trong việc thể hiện ý muốn luân lý của Thiên Chúa. Trong sự phát triển xa hơn này, ảnh hưởng của giáo huấn ngôn sứ là vô cùng to lớn.

Lời Ngôn Sứ. Trong tâm trí của người Do Thái, lời nói có một thực tại năng động (Is 40,6-8; 55,10-11). Lời mà ngôn sứ nói ra là lời của Thiên Chúa (chẳng hạn như công thức “có lời Thiên Chúa phán với X”; Is 38,4; Gr 28,12) và mang trong mình toàn bộ sức mạnh của ý muốn nơi Ngài. Vậy những lời này đến với họ bằng cách nào? Quả không nên nghĩ rằng đó là một sứ điệp có thể nghe thấy được; và càng không nên tưởng tượng rằng lời đó thực sự được đặt vào miệng ngôn sứ, chẳng hạn như Giêrêmia (Gr 1,9). Những cách diễn đạt này ngụ ý xác tín chắc chắn của ngôn sứ rằng ông đang nói sứ điệp của Chúa. Ngôn sứ đã kinh nghiệm sự thánh thiện, ngôi vị tính và ý muốn của Thiên Chúa theo một cách thức không thể diễn tả được (Is 6; Gr 1; Ed 1-2), một cách thức khiến ông khác biệt với những người khác; ông ý thức rằng mình đã được họp bàn với Thiên Chúa (Gr 23,18.22). Và chính trong kinh nghiệm đó, ông đã quan sát trạng huống lịch sử mình đang sống và công bố những lời phán xét hay lời hứa của Thiên Chúa dành cho người đương thời.

Không giống như lời của ngôn sứ giả (Gr 23,16-32), sứ điệp của ngôn sứ chân chính không thể được giải thích như là sản phẩm của khuynh hướng, hoàn cảnh hay hiểu biết chính trị. Ông là người chịu sự cưỡng bách phải nói một sứ điệp không phải của riêng mình (Gr 1,6-7; 20,7-9; Am 3,8) cho những người muốn loại bỏ ông (Gr 26,7-15; Ed 3,4-11; Am 2,11-12; 7,10-13), những người mà ơn gọi ngôn sứ đã tách ông ra khỏi họ (Is 8,11-15; Gr 15,17). Nếu ông báo trước sự diệt vong giáng xuống một dân tộc khờ dại, thờ ơ và vô lương tâm, thì đó không phải là vì đức tin của ông vào quyền năng vĩ đại của Thiên Chúa trong việc giải thoát yếu hơn họ, nhưng vì ông đã biết được ý định của Ngài. Tính hữu hiệu khách quan của xác tín nơi vị ngôn sứ rằng ông đã nói lời của Thiên Chúa thường được thiết lập một phần mà ít nhất, dựa trên các tiêu chí khiến cho nhiều người, ngay cả những người cùng thời với ông, chấp nhận sứ điệp mà ông công bố, đó là: (1) sự tương hợp với một quan niệm chín chắn và xác thực về bản tính của Thiên Chúa, với những đòi hỏi của Ngài, và với truyền thống được linh hứng của Ítraen (Đnl 13,1-6); (2) sự ứng nghiệm lời ngôn sứ (Đnl 18,15-22; Gr 28,5-9); và hiếm khi là (3) các phép lạ (1 V 18,30-39). Tuy nhiên, bảo đảm chung quyết cho tính xác thực của chúng lại dựa trên việc các sấm ngôn chúng chứa đựng có nằm trong thư quy Kinh Thánh được linh hứng hay không.

Lời Khôn Ngoan. Đặc biệt trong những trích đoạn sau của các sách khôn ngoan, sự khôn ngoan được coi là điều sâu sắc hơn nhiều so với những lời khuyên thuần túy thực tiễn và được trình bày như là điều được mặc khải một cách thần linh: khôn ngoan chỉ thuộc về Thiên Chúa và được giấu kín khỏi mắt người phàm (G 28), khôn ngoan được ban cho con người như một món quà (Cn 2,6; G 32,8-9; Hc 1,1) và có những phẩm tính thần linh (Kn 7,25-27). Mặc dù khôn ngoan theo nghĩa này đã được đồng nhất với Lề Luật (Hc 24,22), nhưng sự phát triển ý nghĩa của nó phần lớn là nhờ vào giáo huấn ngôn sứ mà các tác giả khôn ngoan đã thấm nhuần sâu sắc. Trên thực tế, khôn ngoan thường là sự vận dụng giáo huấn ngôn sứ (chủ yếu liên hệ tới cả dân tộc) cho các cá nhân.

Sự Mặc Khải của Thiên Chúa qua Lịch Sử. Các sử gia thế tục có thể không cảm thấy cần phải nhìn nhận bất cứ sự can thiệp đặc biệt nào của Thiên Chúa trong lịch sử Ítraen; việc nô lệ trốn thoát, chinh phục, lưu đày và phục hồi là những sự kiện có thể được phân tích và hiểu rõ, cách đặc biệt là vì nhiều phép lạ làm nên những sự kiện đó có thể được giải thích theo thuyết tự nhiên. Tuy nhiên, các tác giả Kinh Thánh tin rằng trong những sự kiện này, bàn tay của Thiên Chúa đã được biểu lộ. Tuy nhiên, vì kiến ​​thức đó dựa trên đức tin, nên nó không chỉ dựa trên các sự kiện, nhưng còn dựa trên sự giải thích được Thiên Chúa soi sáng.

Vì mặc khải Do Thái-Kitô Giáo mang tính lịch sử, nên nó dựa trên các sự kiện lịch sử cũng như chính chất liệu cấu thành nên các sự kiện đó. Tuy nhiên, sự kiện bên ngoài, dù ấn tượng đến đâu, cũng cần đến lời trước khi có thể vén mở đầy đủ hành động và kế hoạch của Thiên Chúa; lời này được đưa ra bởi các ngôn sứ, tức là các phát ngôn viên của Ngài. Các bản văn Kinh Thánh mô tả các sự kiện đều đã mang sẵn lời giải thích (của người phát ngôn) về các sự kiện đó. Việc mô tả về sự giải thoát dân Ítraen khỏi Ai Cập là do bàn tay quyền năng của Thiên Chúa (Xh 6,1; 32,11) đã là một lời giải thích từ chối việc xem các sự kiện xảy ra chỉ đơn thuần là hiện tượng tự nhiên (chẳng hạn như mười tai ương). Dĩ nhiên, nguồn gốc và tính hữu hiệu của lời giải thích là vô cùng quan trọng.

Truyền thống Ítraen coi ông Môsê là nhà lãnh đạo vĩ đại và là vị ngôn sứ đầu tiên, người đã làm trung gian cho đức tin mới, vì chính ông đã giải thích cho dân ý nghĩa các sự kiện trong cuộc Xuất hành và cả cuộc thần hiện rực lửa của Thiên Chúa trên núi Xinai (Xh 19,3-21; 20,18-21; Đnl 5,22-27). Điều được khẳng định trong các trích đoạn kể về việc Môsê lên núi (Xh 19,3, 20; 24,12-18) và cuộc hội ngộ thân mật của ông với Thiên Chúa (Xh 33,7-23; Ds 12,6-8; Đnl 34,10) là kinh nghiệm tôn giáo đã giúp Môsê nhận biết và thông truyền cho dân ý nghĩa của những gì Chúa đã làm cho họ. Trong việc giải thích các sự kiện, các ngôn sứ đã được Thiên Chúa dẫn dắt trên cùng một con đường mà Môsê đã đi. Họ không chỉ giải thích các sự kiện trong quá khứ và hiện tại mà còn cả những điều họ tự tin tiên đoán. Từ toàn bộ những điều đó, kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa đã được hình thành và sẽ chỉ được hoàn thành trong Tân Ước.

Sự giải thích mang tính ngôn sứ về lịch sử Ítraen theo cách này đã được đưa vào các sách lịch sử trong Kinh Thánh (x. 2 V 17,7-23; 21,10-15). Việc mặc khải diễn tiến theo kế hoạch vén mở của Thiên Chúa có nghĩa rằng chính mặc khải là một điều tiến triển và nội dung của nó liên tục gia tăng một cách khách quan. Điều này bao gồm nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về bản tính của Thiên Chúa, về lòng thương xót, quyền năng, sự khôn ngoan và công chính của Ngài. Các yếu tố riêng lẻ của kế hoạch vén mở cũng tiên báo toàn bộ, chẳng hạn như cuộc Xuất hành—sự kiện đã khởi đầu cho chủ đề xuyên suốt về sự giải thoát nhờ những hành động vĩ đại của Thiên Chúa (Is 10,25-27; 40,3; 41,17-20; 43,16-21; Ga 8,12; 1 Cr 10,1-12; Kh 15,2-3).

Hành động này không thể đảo ngược, không mang tính chu kỳ, và sẽ đạt đến đỉnh điểm mà các ngôn sứ hiểu là “Ngày của Chúa” (Is 11,11; 12,1; Am 9,11; Ge 3,1-5; Is 26,20-27,13); đỉnh điểm ấy sẽ đánh dấu sự thiết lập vương quốc của Thiên Chúa trên trần gian.

Mặc khải trong Tân Ước

Lời của Thiên Chúa trong Chúa Kitô, Thần Khí sự thật nơi các Tông đồ và lời đáp lại của con người được đề cập trong Tân Ước giúp chúng ta hiểu rõ hơn bản tính của mặc khải.

Lời Chúa trong Chúa Kitô. Thiên Chúa, Đấng trước đây đã phán qua miệng các ngôn sứ, thì nay đã phán qua Thánh Tử (Hr 1,1-2) là Đấng mà Ngài sai đến khi thời gian tới hồi viên mãn (Gl 4,4), trong Chúa Kitô, mọi lời hứa đều được ứng nghiệm (2 Cr 1,20). Với sự giáng lâm của Ngài, thời đại sau cùng được khởi đầu và hành động cứu chuộc của Thiên Chúa được hoàn tất. Trong con người và trong các việc của Ngài, Chúa Kitô là mặc khải hoàn hảo và sự hạ mình tột bậc của Thiên Chúa siêu việt. Ngài chính là Đấng mà các ngôn sứ đã tiên báo (1 Pr 1,10-12).

Trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm. Chúa Kitô được trình bày như một vị ngôn sứ và là Con Thiên Chúa, sự giáng lâm của Ngài vừa tiên báo vừa khai mở Nước Thiên Chúa, là thời đại sau cùng trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Việc Ngài trừ quỷ và chữa lành bệnh nhân cho thấy rằng sự thống trị của Xatan đã chấm dứt và nhường chỗ cho sự thống trị của Thiên Chúa (Mt 12,25-28; Mc 3,23-26; Lk 11,17-20), trong khi việc rao giảng và các dụ ngôn của Ngài cho thấy bản tính của Nước Thiên Chúa (Mt 5-7; 13,1-51). Bản tính thực sự của Ngài chỉ được biết đến bởi Chúa Cha, Đấng đã mặc khải điều đó cho những ai khiêm nhường, cách đặc biệt là các Tông đồ; và Chúa Cha lại được Chúa Giêsu mặc khải (Mt 11,25-27; 16,17; 17,1-5). Ngài tiên báo về cái chết, sự Phục sinh (Mc 8,31-33; Mt 16,21-23; Lc 9,22), sự trở lại trong vinh quang (Mc 14,62) và giải thích ý nghĩa của công việc mà Ngài thực hiện (Mc 10,45; Lc 24,25-27, 44).

Trong các thư tín của Thánh Phaolô. Cũng như trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm, sự giáng lâm của Chúa Kitô đánh dấu thời đại sau cùng trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, nhưng thánh Phaolô quan tâm nhiều hơn đến “mầu nhiệm” Đức Kitô hơn là cuộc đời trần thế hữu hình của Ngài. Bằng thuật ngữ “mầu nhiệm” (μυστήριον), thánh Phaolô muốn nói đến chân lý khôn dò về ơn cứu độ trong Chúa Kitô, một chân lý mà trước đây bị che khuất dù đã được các ngôn sứ tiên báo, nhưng nay đã được Thiên Chúa mặc khải (Rm 16,25-26; 1 Cr 2,7, 10; Ep 1,9-10; Cl 1,26; x. 1 Pr 1,10-12). Về cơ bản, mầu nhiệm này đề cập đến hành động cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện trong Chúa Kitô và có thể được đồng nhất với Tin Mừng mà thánh Phao-lô loan báo (Ep 6,19), mặc dù nó thường được áp dụng cho một số khía cạnh riêng lẻ của Tin Mừng ấy (1 Cr 15,51; Ep 3,4-6; 5,32). Ngoài ra, nó còn được đồng nhất với sự khôn ngoan của Thiên Chúa (1 Cr 1,23-25; 2,7; Cl 2,2-3).

Chính Thiên Chúa mặc khải mầu nhiệm Đức Kitô: ἀποκαλύπτειν (động từ mặc khải—Ep 3,5) và ἀποκάλυψις (danh từ mặc khải—Rm 16,25; Ep 3,3) luôn được sử dụng với Thiên Chúa là tác nhân hoặc ở thể bị động—một lối diễn tả tôn kính nhằm ngụ ý hoạt động thần linh. Các động từ khác được sử dụng theo nghĩa gần giống như vậy còn có ἀποκαλύπτειν (đôi khi dùng với các Tông đồ, lấy họ làm chủ ngữ về mặt ngữ pháp, nhưng trong tư cách là những khí cụ của Thiên Chúa): γνωρίζειν (làm cho biết—Ep 1,9; 3,3; 6,19; Cl 1,27); φωτίζειν (soi sáng—Ep 3,9); φανεροῦν (biểu lộ—Cl 1,26).

Mặc khải này diễn ra trong hai giai đoạn đánh dấu sự khởi đầu và kết thúc của thời đại sau cùng và cũng là thời đại đang hiện hữu: sự khởi đầu—được nhận biết nhờ đức tin bởi những người được tuyển chọn, được hoàn tất trong Cuộc Khổ Nạn và được Tôn Vinh của Chúa Kitô (Rm 1,16-17; 3,21-22; Gl 1,16; Ep 3,3.5; Cl 1,26; 2 Tm 1,10); sự kết thúc—sẽ biểu lộ cho tất cả mọi người trong NGÀY QUANG LÂM (παρουσία, ἀποκάλυψις, ἐπιφάνεια), và trước đó, sẽ có sự xuất hiện của tên phản Kitô (2 Tx 2,3.6.8). Ngày Chúa đến, Ngày mà các ngôn sứ hằng mong đợi, sẽ vén mở vinh quang của Chúa Kitô, ơn cứu độ cho những người trung tín (Rm 8,18, 23; 2 Cr 4,13-14; Cl 3,4; 1 Tx 4,14-18; 2 Tx 1,10) và cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống những kẻ tội lỗi (Rm 2,5, 8; 1 Tx 1,10)—là những thực tại mà giờ đây đã hiện hữu phần nào hoặc còn đang ngầm ẩn.

Quan niệm về mặc khải như một kho tàng (παραθήκη) cần được giữ gìn cũng được tìm thấy trong 1 Tm 6,20; 2 Tm 1,14. Bên cạnh đó là sự nhấn mạnh vào “giáo lý phù hợp với Tin Mừng” trong 1 Tm 1,10-11; 6,3; 2 Tm 1,13.

Trong Tin Mừng Gioan. Mặc dù Thánh Gioan không sử dụng παοκαλύπτειν ngoại trừ trường hợp trích dẫn Cựu Ước, nhưng nhiều thuật ngữ quan trọng khác vẫn xuất hiện. Ngài trình bày về Chúa Kitô như là mặc khải hữu hình của Chúa Cha vô hình và sử dụng với tần suất đáng kể các từ ngữ φανεροῦν (biểu lộ—Ga 1,31; 2,11; 3,21; 9,3; 17,6), φῶς (ánh sáng), φωτίζειν (soi sáng—1,9) và γνωρίζειν (làm cho biết—15,15; 17,26).

Thiên Chúa chưa ai thấy bao giờ (Ga 1,18; 6,46; 1 Ga 4,20); chính vì Ngài mà Chúa Kitô đã đến để vén mở về Ngài (1,18; 17,2-3—trong đó, sự nhận biết Chúa Cha được đồng nhất với sự sống đời đời là ân huệ mà Chúa Giêsu đến để trao ban). Chúa Giêsu có thể tỏ cho thấy Chúa Cha vì, thần linh và hiện hữu cùng Cha (1,1-2.18), Ngài đã đến thế gian (1,9; 3,2.19.31), được Cha sai đến (4,34; 5,23). Sứ mệnh của Chúa Kitô được xác thực bởi lời chứng của Gioan Tẩy giả (1,7.15, 32-34; 5,33), bởi chính các việc của Ngài (5,36), bởi Kinh Thánh (5,39), và đặc biệt là bởi Cha (5,37; 8,18). Chúa Kitô có thể làm chứng cho chính Ngài (8,14.18) và cho sự thật (18,37), những lời Ngài nói là lời của Thiên Chúa (3,34; 7,17; 8,26.28.38.40). Ngài mặc khải Chúa Cha vì chính Ngài là hiện thân hữu hình cho công trình của Thiên Chúa. Ngài thấy các việc của Cha, làm việc khi Cha làm việc, và cũng như Cha, Ngài ban sự sống và là Đấng phán xét (5,17-22, 27; x. 9,3). Các phép lạ của Ngài là dấu chỉ vì ý nghĩa sâu sắc mà chúng mang lại (2,11, 23; 4,54). Vinh quang của Ngài chính là vinh quang của Cha (1,14.51; 2,11; 12,41; 17,5.22.24). Ngài là sự biểu lộ trọn vẹn của Thiên Chúa giữa loài người đến nỗi tất cả đều phải tôn vinh Ngài như tôn vinh Chúa Cha (5,23). Ai thấy Ngài là thấy Chúa Cha (14,9), vì Ngài và Chúa Cha là một (10,30). Ngài biểu lộ Chúa Cha một cách hoàn hảo đến nỗi Ngài có thể được gọi cách đơn giản là “Ngôi Lời” (1,1.14; 1 Ga 1,1).

Thần Khí sự thật và các Tông Đồ. Chỉ bằng lời giảng của những người được Thiên Chúa ủy thác mà con người mới có thể nhờ đức tin mà bước vào công trình cứu độ của Chúa Kitô (Rm 10,14-15). Tuy nhiên, ngay cả tại thời điểm Chúa Thăng Thiên, các Tông Đồ vẫn còn cách rất xa hiểu biết về bản chất thực sự của vương quốc do Chúa Kitô thiết lập, một vương quốc vẫn chưa đạt tới tầm vóc viên mãn (Cv 1,6). Họ cần chịu phép rửa trong Thánh Thần mà Chúa Kitô sai đến trước khi có thể bắt đầu công việc được giao (Cv 1,5, 8; 2,1-41). Như Chúa Kitô đã hứa (Ga 14,26; 16,13), dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, các Tông Đồ đã thực hiện những bước tiến quan trọng (Cv 10,19-48; 13,2-3) và cũng nhờ Thánh Thần soi sáng mà hiểu được ý nghĩa đầy đủ của tất cả những điều ấy (Cv 11,15-18; x. 1 Cr 2,10-16; Ep 3,3-6). Được sai đi dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, các Tông Đồ đã đưa ra lời chứng để mọi người có thể tin theo (Cv 5,32; x. Ga 15,26-27); cũng nhờ đó, Giáo Hội được thiết lập để tiếp tục công việc ấy luôn mãi và làm cho mặc khải mà trước đó chỉ giới hạn trong một dân tộc trở nên phổ quát (Mt 28,19-20; Mk 16,19-20).

Lời đáp lại của con người. Chúa không phán vào hư vô mà phán với con người, Ngài mong đợi một lời đáp lại. Nếu Thiên Chúa “làm cho nghe” và “làm cho biết”, thì Ngài mong đợi chúng ta “nghe” và “biết”—nhưng là theo nghĩa Kinh Thánh của những từ này. “Nghe” không chỉ giới hạn ở việc nghe bằng tai; nó còn bao gồm cả sự vâng phục với tình yêu thương (Xh 3,18; Is 28,12; Gr 11,10; Ed 2,5; Mt 18,17; Lc 16,31). “Biết” là một từ có thể tóm tắt linh đạo Kinh Thánh, nó bao gồm tình yêu thương và sự tuyển chọn từ phía Thiên Chúa, tình yêu thương, sự vâng phục và gắn bó trung thành của con người (Is 19,21; Gr 31,34; Hs 2,21-22; 13,4; Am 3,2; Ga 10,14-15; 17,3; Pl 3,10; 1 Ga 2,3). Lời đáp lại bằng tình yêu thương và sự vâng phục này được gọi là “đức tin”. Đó là một thách đố mà mỗi thế hệ, mỗi cá nhân đều phải đối mặt (Đnl 5,3); sự lựa chọn là tự do nhưng không có nghĩa là loại lựa chọn hoặc chấp nhận hoặc từ bỏ (Đnl 30,19; Is 7,9; Ga 6,29-50; 8,24). Minh họa rõ ràng nhất cho thách đố mặc khải và lời đáp lại bằng đức tin là sự trở lại của Thánh Phaolô. Khi nhận được mặc khải về mầu nhiệm Đức Kitô (Gal 1,15-16), ngài cho rằng mình đã bị Chúa Kitô “chiếm đoạt” và quyết tâm chiếm cho được phần thưởng mà Thiên Chúa ban (Pl 3,12-14).


Tham khảo

Joseph B. Jensen, OSB, The New Catholic Encyclopedia, 2nd edition