lịch sử cứu độ (heilsgeschichte) (salvation history)

Hilarion Kistner, OFM, Eugene Leo Peterman, Joseph Edward Fallon, O.P.



Quan điểm về lịch sử như được tìm thấy trong Kinh Thánh được gọi là lịch sử cứu độ, vì các sự kiện được thuật lại trong Kinh Thánh được coi là hành động của Thiên Chúa nhằm cứu độ thế giới. Vì các học giả Kinh Thánh người Đức là những người đầu tiên nhìn nhận rằng lịch sử trong mắt các tác giả được linh hứng trong Kinh Thánh về cơ bản là lịch sử tôn giáo, nên thuật ngữ tiếng Đức cho lịch sử cứu độ, heilsgeschichte, đã được chấp nhận và trở thành thuật ngữ chuyên môn ngay cả trong giới học giả nói tiếng Anh. Sau khi suy xét cách nghiêm ngặt các khía cạnh Kinh Thánh của lịch sử cứu độ, bài viết này sẽ thảo luận về tầm quan trọng của nó từ cả quan điểm thần học tín lý và thần học luân lý.

TRONG KINH THÁNH

Người Ítraen cổ đại quan tâm đến lịch sử không phải chỉ vì những sự kiện đã xảy ra nhưng còn vì nguyên nhân và ý nghĩa của chúng. Tuy nhiên, tư tưởng của họ hoàn toàn mang màu sắc tôn giáo đến nỗi đối với họ, không có lịch sử nào chỉ đơn thuần là phàm tục; tất cả lịch sử đều là lịch sử tôn giáo. Do đó, họ nhìn thấy bàn tay của Thiên Chúa trong các sự kiện lịch sử tác động đến dân tộc mình trong suốt thời kỳ Cựu Ước, và vì thế, họ đã chuẩn bị con đường cho sự mặc khải trọn vẹn về ơn cứu độ cho loài người do Thiên Chúa thực hiện trong thời kỳ Tân Ước.

Trong Cựu Ước, khái niệm về lịch sử cứu độ bắt nguồn từ kinh nghiệm trong thời ông Môsê. Dân Ítraen ghi nhớ cuộc Xuất hành như một hành động cứu độ vĩ đại của Đức Chúa [Yahweh] (Xh 15,1-18; Đnl 5,15; Gs 24,17; Am 9,7; Hs 13,4; Mk 6,4; và nhiều Thánh vịnh). Nếu Đức Chúa dẫn dân Ngài ra khỏi Ai Cập, thì đó là để thiết lập GIAO ƯỚC với họ (Xh 19,1-6) và đưa họ đến đất mà Ngài đã hứa ban cho các Tổ Phụ (Đnl 4,1). Khi dân Ítraen suy ngẫm về các sự kiện này, họ nhớ lại những truyền thống cổ xưa của dân tộc mình và nhận ra rằng ngay cả thời kỳ tiền sử của họ cũng diễn ra dưới sự dẫn dắt của Đức Chúa. Đức Chúa đã gọi Ápraham, Ixaác và Giacóp, thiết lập giao ước với họ và hứa ban cho họ đất đai và dòng dõi (St 12-50). Sự sáng tạo và những kinh nghiệm đầu tiên của con người về tội lỗi và ÂN SỦNG là khúc dạo đầu cho lời kêu gọi của Đức Chúa đối với Ápraham (St 1-11).

Các sách thuộc truyền thống Đệ Nhị Luật và các sách Lịch sử đã kể lại cách mà Thiên Chúa cho phép thiết lập chế độ quân chủ và ký kết giao ước với dòng dõi vua Đavít (2 Sm 7; 1 Sb 17). Khi các vua bất tuân lệnh Thiên Chúa, Ngài đã trừng phạt dân bằng hình phạt lưu đày và khiến họ đánh mất nền độc lập. Nhưng chính Ngài đã khôi phục dân sau khi họ được thanh tẩy.

Tiếp đến, các ngôn sứ đã khẳng định niềm tin vào sự hướng dẫn của Thiên Chúa trên lịch sử. Nhưng điều quan trọng hơn là cánh chung luận mà họ đề xướng. Họ nhìn xa hơn lịch sử trần gian để hướng đến đỉnh điểm của lịch sử cứu độ: giao ước cũ sẽ được hoàn tất trong một giao ước mới và vĩnh cửu (Gr 31,31-34; Ed 37,26-28); vương quốc của vua Đavít sẽ được tái lập bởi Đấng Mêsia (Is 9,5-6; 11,1-5; Am 9,11-15; Hs 3,5); thời kỳ Môsê của ơn cứu độ sẽ được đổi mới (Hs 2,16-17; Is 11,11-16; 52,11-12; Gr 31,2-6; Ed 20,33-38) và thiên đàng sẽ trở lại (Hs 2,20; Am 9,13; Ge 4,18; Is 11,6-9; Ed 34,25-29). Tuy nhiên, chỉ một số ít còn sót lại sẽ được cứu độ (Is 6,13; Gr 23,3) và ơn cứu độ sẽ đến nhờ việc chịu đau khổ thay cho người khác (Is 52,13-53,12).

Khởi đi từ các sách ngôn sứ và tiếp tục qua sách Đanien và các tác phẩm ngụy thư, văn chương khải huyền đã phát triển một quan điểm cánh chung và giới thiệu những yếu tố mới. Trong đó, xu hướng phân chia lịch sử thành các thời kỳ cố định (Đn 2,37-45; 7,1-14), trình bày một bức tranh chi tiết về điểm kết thúc của thời đại gian ác hiện tại (Ed 38-39; Đn 12,1) cùng với việc tính toán ngày tận thế (Đn 9,24-27; 12,7) là những đặc điểm tiêu biểu. Ngoài ra, niềm tin vào sự phục sinh đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho niềm hy vọng về ơn cứu độ (Đn 12,2-3).

Trong Tân Ước, Chúa Giêsu xem công trình của Ngài là sự viên mãn của tất cả các lời ngôn sứ (Mt 11,4-15) và toàn bộ niềm hy vọng về ơn cứu độ (Mt 13,16-17). Ngài đặt mình ở cuối lịch sử cứu độ của Cựu Ước (Mt 23,37-38) và loan báo rằng Nước Thiên Chúa cánh chung đã gần kề (Mk 1,15), rằng Nước ấy đã thực sự hiện diện trong các việc của Ngài (Mt 12,28). Tuy nhiên, lịch sử cứu độ vẫn còn phải chờ đợi để hoàn tất một cách trọn vẹn trong ngày Chúa quang lâm lần thứ hai cùng với sự phục sinh và phán xét. Trong khi chờ đợi ngày ấy, Chúa Giêsu kêu gọi con người sám hối và dấn thân hết mình.

Trong thời kỳ Giáo hội sơ khai, ơn cứu độ được hiểu là điều đã đến trong Chúa Giêsu (Hr 1,2; Ga 5,25), nhưng vẫn còn ở tương lai (Cv 3,21); thời đại gian ác hiện tại vẫn tồn tại, nhưng trong chừng mực mà Chúa Kitô cai trị, nó được bao trùm bởi thời đại đang đến (Gt 1,4; 1 Cr 7,26-31).

Có một quan niệm cơ bản được tìm thấy trong tác phẩm mà ban đầu là duy nhất, bao gồm Tin Mừng Luca và sách Công Vụ Tông Đồ, dường như cho rằng hoạt động dưới thế của Chúa Giêsu là điểm trung gian giữa thời kỳ của dân Ítraen và thời kỳ của Giáo Hội. Thánh sử Luca tiên báo về một thời kỳ loan truyền phúc âm (Lc 24,47; Cv 1,8) và một sự Quang lâm của Chúa diễn ra sau đó (Lc 21,24; Cv 1,11). Ngài đưa ra một sự phân chia rõ ràng các thời kỳ trong lịch sử cứu độ (Lc 16,16; Cv 10,36-43). Tuy nhiên, quan niệm của ngài về cơ bản giống với quan niệm của Giáo Hội sơ khai và các sách Phúc Âm Nhất Lãm khác.

Đối với Thánh Phaolô, việc “ở trong Chúa Kitô” có nghĩa là sự hiện hữu mang tính cánh chung (Gl 2,20; 6,15; 2 Cr 5,17) trong “hiện tại” của giờ cứu độ (2 Cr 6,2; Rm 3,21; Ep 2,13). Việc này đòi hỏi một lối sống “vượt lên trên thế gian” mang tính cánh chung trong thế giới chóng qua này (1 Tx 5,4-10; 1 Cr 7,29-35; Rm 12,2; Cl 3,5-11) để đạt tới mục tiêu cánh chung (Rm 6,22; 1 Cr 1,8; Pl 3,12-14). Từ quan điểm của Kitô giáo, toàn bộ lịch sử trước đây là thời kỳ không có ơn cứu độ, nhưng giờ đây Chúa Kitô, với tư cách là Ađam mới, đã cứu chuộc nhân loại (Rm 5,12-21; 8,29; 1 Cr 15,22.45-49). Tuy nhiên, Ápraham vẫn là hình mẫu và là cha của các kẻ tin (Rm 4), ông đã nhận được những lời hứa được ứng nghiệm trong Chúa Kitô (Gl 3). trong khi đó, ông Môsê là trung gian cho Lề luật, thứ dẫn đến sự gia tăng các hành vi phạm luật (Gl 3,19) và nhận thức rõ hơn về tội lỗi (Rm 3,21), nhưng ngay cả trong điều kiện đó, kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa vẫn tiếp tục tiến triển (Rm 5,20-21; Gl 3,22.24). Trong kỷ nguyên mới của ơn cứu độ, sự cứng tin của phần lớn dân Ítraen không làm mất đi lòng trung tín của Thiên Chúa; trái lại, lòng trung tín của Ngài khơi dậy niềm hy vọng về sự hoán cải trong tương lai của toàn thể dân Ítraen (Rm 9-11). Thiên Chúa đã kêu gọi tất cả mọi người, cả người Do Thái và dân ngoại, cùng hiệp nhất trong Chúa Kitô (Ep 2,11-22).

Trong Tin Mừng Gioan, cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu là thời của mặc khải và cứu độ cánh chung (6,47; 8,51), nhưng lịch sử sẽ chỉ đạt đến mục tiêu của nó trong sự phục sinh và phán xét cuối cùng (6,39-40.44).

Sách Khải Huyền dạy rằng ngay cả trong thời đại Đấng Mêsia cũng sẽ có những thử thách đáng sợ, nhưng cuối cùng sẽ đi tới mặc khải vũ trụ về sự cứu độ cánh chung, sự hủy diệt đối với các thế lực sự dữ (Kh 19-20) và sự thiết lập vương quốc của Thiên Chúa trong một thế giới mới (Kh 21).

H. KISTNER

TRONG THẦN HỌC TÍN LÝ

Thuật ngữ lịch sử cứu độ được hình thành trong thần học chủ yếu nhờ ảnh hưởng của J. C. von Hofmann, một nhà thần học Kinh Thánh Tin Lành người Đức thế kỷ XIX. Lịch sử cứu độ vừa là một nguyên lý chú giải Kinh Thánh vừa là một khẳng định thần học.

Xét như một nguyên lý chú giải, lịch sử cứu độ khẳng định sự kiện rằng Thiên Chúa đã mặc khải một cách tiệm tiến về chính Ngài và ý muốn của Ngài trong Kinh Thánh. Do đó, nhà chú giải phải trông đợi một sự phát triển hữu cơ trong kho tàng đức tin dựa trên Kinh Thánh. Nguyên lý này diễn tả châm ngôn của Thánh Augustinô: “Phân biệt các thời đại và bạn sẽ làm hài hòa Kinh Thánh.”

Xét như một khẳng định thần học, lịch sử cứu độ đề xuất hai quan niệm thần học có liên quan mật thiết với nhau. Vì ngôn ngữ là dấu hiệu của hiểu biết, nên hai danh từ trong thuật ngữ này biểu thị sự thống nhất trong quan niệm về hai thực tại: CỨU ĐỘ và lịch sử. Cứu độ là hành động thần linh được Thiên Chúa mặc khải và hoàn tất, là thứ giải thoát con người khỏi sự dữ và tái hiệp nhất con người trong ân sủng với Thiên Chúa. Khi mục đích duy nhất là giải thoát khỏi sự dữ được xem xét một cách minh nhiên trong hành động thần linh, danh từ CỨU CHUỘC, hoặc tính từ mang tính cứu chuộc được thêm vào để tạo thành “lịch sử cứu chuộc” hoặc “lịch sử mang tính cứu chuộc”. Lịch sử đề cập đến cả tiến trình diễn biến thực sự trong các sự kiện của con người cũng như ký ức và ghi chép mang tính chú giải về những gì đã xảy ra trong quá khứ. Tóm lại, xét như một quan niệm thần học, lịch sử cứu độ khẳng định rằng sự cứu độ mang tính lịch sử và lịch sử mang tính cứu độ.

Tính lịch sử của cứu độ bao gồm ba khẳng định. (1) Hành động cứu độ của Thiên Chúa hướng tới tiến trình các sự kiện của con người sao cho sự cứu độ—bắt đầu trong thời gian—thông qua các sự kiện thực sự xảy ra giữa nhân loại mà Thiên Chúa là Đấng thực hiện. (2) Hành động cứu độ của Thiên Chúa—bắt đầu trong thời gian—được hoàn tất trong các tiến trình lịch sử của hoạt động con người. (3) Hành động cứu độ của Thiên Chúa, khi được thực hiện trong thời gian, có những sự hiện thực hóa trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Được thực hiện bởi Thiên Chúa. Hoạt động cứu độ của Thiên Chúa được bao hàm trong bối cảnh của hành động sáng tạo, là hành động đã đưa con người và lịch sử của họ vào hiện hữu. Thiên Chúa đã tạo ra con người ngay thẳng và thế giới của họ tốt đẹp. Nhưng vì lạm dụng sự tự do, con người đã để sự dữ thâm nhập vào chính mình, vào thế giới, và do đó, vào lịch sử của họ. Mặc khải cơ bản của Kinh Thánh là mục đích của Thiên Chúa nhằm cứu độ con người khỏi sự dữ này.

Trong bối cảnh của hành động sáng tạo phổ quát, hoạt động cứu độ của Thiên Chúa xuất hiện như một sự sáng tạo mới, một sự sáng tạo-cứu độ. Và giống như hành động sáng tạo đầu tiên đã làm nảy sinh một tiến trình các sự kiện của con người, thì hành động cứu độ cũng làm nảy sinh những sự kiện thực sự. Thiên Chúa ngăn chặn tiến trình của sự dữ trong nhân loại và can thiệp để khôi phục những gì con người đã đánh mất do tội lỗi.

Sở dĩ sự cứu độ mang tính lịch sử là bởi vì hành động cứu độ hướng đến việc khôi phục tình trạng lịch sử của nhân loại và bởi vì hoạt động cứu độ này tạo ra những sự kiện trong thời gian và không gian dẫn đến sự giải thoát khỏi sự dữ và tái hiệp nhất với Thiên Chúa.

Trong hoạt động của con người. Những sự kiện cứu độ được thực hiện vào những thời điểm nhất định, ở những địa điểm cụ thể và trong cuộc đời của nhiều người khác nhau sẽ được chuyển giao sang những thời điểm, địa điểm và con người khác thông qua các tiến trình lịch sử của hoạt động nhân loại. Các tiến trình này bao gồm bốn khía cạnh. Thứ nhất là tiến trình liên tục, khi quá khứ trở thành nền tảng của hiện tại. Thứ hai là tiến trình nhân quả, khi quá khứ trở thành điều kiện khả dĩ cho hiện tại. Thứ ba là tiến trình nội tại, khi quá khứ trở thành yếu tố quyết định hiện tại. Thứ tư là tiến trình siêu việt, khi hiện tại có sự đóng góp độc đáo vào những gì được thừa hưởng từ quá khứ. Công trình của Chúa, một khi đã được thực hiện trong nhân loại, vừa khởi xướng các tiến trình này vừa được tiếp nhận vào chính chúng, từ đó, được mở rộng theo thời gian, lan tỏa về không gian và nhân lên trong đời sống của mỗi người.

Hiện thực hóa. Tuy nhiên, công trình cứu độ không chỉ được thực hiện một lần. Sự can thiệp của Thiên Chúa được lặp đi lặp lại, trong đó, mỗi sự can thiệp đều được đặt vào tiến trình của các vấn đề nhân loại và được đưa vào các tiến trình lịch sử. Mỗi “Lời” sáng tạo-cứu độ của Thiên Chúa đều được gửi đến thế giới và tạo ra những hiệu quả của nó. Tân Ước đánh dấu “thời gian tới hồi viên mãn” khi Thiên Chúa can thiệp một cách quyết định và dứt khoát qua việc sai Ngôi Lời nhập thể để sống giữa loài người (Ga 1,1-18).

Đối với các tác giả Tân Ước, việc Thiên Chúa sai Con của Ngài đến chính là Hiện tại, là Bây giờ. Những sự can thiệp trước đây của Thiên Chúa là Quá khứ. Còn Tương lai là sự viên mãn—thông qua tiến trình lịch sử nhân loại—của sự kiện cứu độ đã bắt đầu trong và qua Chúa Kitô.

Thần học cũng khẳng định rằng lịch sử có tính cứu độ. Điều này có nghĩa là những sự kiện do Thiên Chúa thực hiện và những tiến trình được khởi xướng bởi những sự kiện này dẫn đến sự giải thoát khỏi sự dữ và sự tái hiệp nhất trong ân sủng. Nhưng điều này cũng có nghĩa là chính ký ức và ghi chép về những sự kiện này cũng mang tính cứu độ.

Ký ức và ghi chép (cụ thể là Kinh Thánh và giáo huấn của Giáo Hội) mang tính cứu độ bởi lẽ các tín hữu, khi lấy đức tin để lắng nghe những kinh nghiệm đã được ghi nhớ về các hành động cứu độ của Thiên Chúa, được dẫn tới hiểu biết, trong Chúa Kitô, về Thiên Chúa là Đấng cứu độ họ và nhu cầu của họ là được Ngài cứu độ; và nhờ Chúa Thánh Thần soi dẫn, họ đáp lại bằng cách đón nhận ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho.

E. L. PETERMAN

TRONG GIÁO LÝ

Không gì có thể thay thế cho lời tuyên bố thẳng thắn rằng trong Kitô giáo, kế hoạch của Thiên Chúa cho sự hoàn hảo của vũ trụ đã được vén mở và đang được thực hiện. Nếu toàn bộ lịch sử nhân loại từ giai đoạn hái lượm đến thời đại vũ trụ hạt nhân chỉ có ý nghĩa trọn vẹn trong Chúa Kitô, thập giá và sự tôn vinh Ngài, như các Kitô hữu tin tưởng, thì điều này phải được tuyên bố là chân lý quan trọng nhất mà con người từng biết đến. Hòa bình và chiến tranh, nghèo đói và dân số quá đông, sự sống và sự chết, hay bất cứ điều gì khác cũng chỉ mang ý nghĩa không trọn vẹn nếu chúng tách rời khỏi chân lý rằng toàn thể công trình sáng tạo đang rên siết vì “vinh quang sắp đến sẽ được vén mở” trong sự tự do trọn vẹn mà con cái Thiên Chúa được chung hưởng nhờ Chúa Kitô (Rm 8,18-22).

Mặc dù giáo lý có tính cấp thiết, nhưng chỉ những chứng nhân hoàn toàn tin tưởng vào giá trị của nó như là thực tại lịch sử-nhân loại tối hậu mới có thể truyền đạt nó một cách đúng đắn. Con người thuần túy không có khả năng làm chứng như vậy; nhưng nhà truyền giáo hay giáo lý viên không phải là con người thuần túy. Họ truyền đạt sứ điệp của Chúa Kitô nhờ quyền năng và sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, Đấng mà Chúa Giêsu đã sai đến để tiếp tục sứ vụ giảng dạy của Ngài (Ga 14,15-17, 26; 15,26-27; 16,7-14). Do đó, họ phải quen thuộc với lịch sử cứu độ như đã được ghi chép một cách thần linh trong Kinh Thánh, nhưng cũng không được quên rằng Giáo Hội trong chính lịch sử của mình, trong sự phát triển thần học, và trong đời sống phụng vụ và bí tích của mình đã và đang tiếp tục đưa vào nhân loại những hoa trái của ơn cứu độ từ Thiên Chúa trong Chúa Kitô.

Cứu độ thuộc về quá khứ; tuy nhiên, nhờ sự trường tồn của nó trong Thân Thể Chúa Kitô, tức là Giáo Hội, nên nó làm cho toàn bộ quá khứ trở nên vô cùng quan trọng đối với nhân loại ở thời điểm hiện tại.

J. E. FALLON


Tham khảo

Hilarion Kistner, OFM & Eugene Leo Peterman & Joseph Edard Fallon, O.P., The New Catholic Encyclopedia, 2nd edition