mặc khải — mặc khải nguyên thủy (primitive revelation)

Gabriel Moran



Thuật ngữ mặc khải nguyên thủy thường có nghĩa là một tập hợp các chân lý siêu nhiên được vén mở cho con người vào buổi bình minh của nhân loại và được truyền lại qua nhiều thế kỷ, cùng với những phần sót lại của nó được lưu giữ trong các tôn giáo nguyên thủy. Quan niệm về mặc khải nguyên thủy này, gắn liền nhất với tên tuổi của cha H. F. R. de LAMENNAIS, xuất hiện vào thế kỷ XIX như một phản ứng chống lại thuyết duy lý. Vào thế kỷ XX, nó được ủng hộ bởi tác phẩm của Wilhelm SCHMIDT, với mục đích “mô tả tia sáng đầu tiên của Mặc Khải SIÊU NHIÊN, được gọi cách chính xác hơn là mặc khải nguyên thủy; và cho thấy sự mờ tối của nó do Sự Sa Ngã của Con Người, cùng với hệ quả tất yếu của nó” (W. Schmidt, Primitive Revelation [Mặc Khải Nguyên Thủy], bản dịch của J. Baierl (St. Louis 1939) 3).

Tuy nhiên, mặc khải nguyên thủy có thể mang nghĩa rộng hơn, cụ thể là tất cả các mặc khải của Thiên Chúa trước thời Do Thái giáo. Thần học Công Giáo phải nhìn nhận loại mặc khải nguyên thủy này bởi vì: (1) những chương đầu tiên của Sách Sáng Thế làm chứng cho điều đó; (2) Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ, và sự hiện hữu của ý định cứu độ đó hàm chứa khả năng có ĐỨC TIN vào một mặc khải siêu nhiên. Việc có mặc khải siêu nhiên trước thời Tổ phụ Ápraham là một kết luận tất yếu; nhưng nguồn gốc, hình thức và nội dung của mặc khải đó còn chưa rõ ràng. Định nghĩa ban đầu vừa nêu hầu như không được bảo vệ vào giữa thế kỷ XX. Hiểu biết tốt hơn về câu chuyện Kinh Thánh đã mở ra những khả năng khác, và những phát hiện của khoa nhân chủng học khiến việc truyền lại chân lý từ con người đầu tiên gần như không thể quan niệm được.

Mặc dù vấn đề này vẫn chưa được các nhà thần học xử lý thỏa đáng, nhưng các nguyên lý sau đây dường như là cơ sở cho một giải pháp. Mặc khải siêu nhiên cho con người đầu tiên không nhất thiết phải diễn ra thông qua lời phán của Chúa hoặc thông qua các sự kiện phi thường. Việc Ađam có một ơn hiểu biết NGOẠI NHIÊN không ngụ ý rằng ông có gì đó nhiều hơn một tri thức rời rạc về mặc khải. Hơn nữa, sự tồn tại của mặc khải ở các thời kỳ sau này trong lịch sử không nhất thiết phải bắt nguồn từ mặc khải đầu tiên này. Cả con người đầu tiên lẫn loài người sau này đều có thể đã đạt tới mặc khải thần linh nhờ ÂN SỦNG của Thiên Chúa thông qua kinh nghiệm của chính họ.

Bởi vì con người sống trong một trật tự ân sủng và được quy hướng về một SỐ MỆNH siêu nhiên, nên kinh nghiệm luân lý của họ có khả năng chỉ ra cho chính họ một lý tưởng vượt trên tự nhiên, từ đó, mang lại một tri thức siêu nhiên ngầm ẩn về những sự thần linh. Trật tự tự nhiên và siêu nhiên không lẫn lộn nhưng cũng không tách rời; và tất cả kinh nghiệm của con người đều nằm trong một thế giới của cả tội lỗi lẫn ân sủng. Những dấu hiệu của mặc khải như vậy, nảy sinh trong đời sống của cá nhân, có thể được bảo tồn và phát triển trong các thể chế tôn giáo và thần thoại để tính khả hữu của một đức tin siêu nhiên không hoàn toàn phụ thuộc vào kinh nghiệm riêng lẻ của cá nhân. Do đó, Kitô Giáo nhìn nhận rằng tôn giáo nguyên thủy có thể là phương tiện của tri thức tôn giáo chân chính, thậm chí là siêu nhiên, mặc dù tri thức đó luôn có nguy cơ bị bóp méo hoặc phá hủy.


Tham khảo

Gabriel Moran, The New Catholic Encyclopedia , 2nd edition