mầu nhiệm (mystery)
Karl Rahner, S.J.
Vì mầu nhiệm không thể được hiểu như một loại khiếm khuyết nơi tri thức tự nhiên của con người, nhưng đúng hơn là một thực tại được sắp đặt cho hành vi tôn giáo, nên chúng ta phải gọi mầu nhiệm là điều mà nhờ đó, con người không ngừng vươn lên trên chính mình trong sự hiệp nhất của tính siêu vượt về trí tuệ và tình yêu tự do nơi mình. Như vậy, mầu nhiệm là một khía cạnh nguyên thủy, thiết yếu và vĩnh cửu của toàn bộ thực tại, trong đó, thực tại xét như một toàn thể (tức xét là vô hạn) hiện diện cho linh hồn—hữu hạn và thụ tạo—trong sự cởi mở nội tại của linh hồn hữu hạn đó đối với cái vô hạn. Linh hồn, nhờ sự cởi mở đối với cái vô hạn, có khả năng chấp nhận cái không thể hiểu được, tức là một mầu nhiệm vĩnh cửu. Giáo huấn đức tin về thị kiến vinh phúc không xóa bỏ tính vĩnh cửu của cái không thể hiểu được. Thật vậy, sự diện kiến tôn nhan Chúa sẽ vén mở sự vô hạn không thể hiểu được của Ngài (D 800, 3001) và do đó, biến nó thành đối tượng của hạnh phúc thực sự và vĩnh cửu của linh hồn được chúc phúc. Chỉ có một mầu nhiệm cơ bản: đó là tính không thể quan niệm được của Thiên Chúa, trong đó, Ngài là Thiên Chúa không đơn thuần được coi như nơi xa xôi và chân trời mà từ đó, hiện hữu của chúng ta phát xuất, nhưng chính Thiên Chúa ấy, trong khi vẫn không thể quan niệm, lại trực tiếp trao ban chính mình cho chúng ta, để Ngài trở thành thực tại sâu thẳm nhất của hiện hữu nơi chúng ta và làm như vậy với tư cách là chính Ngài. Nhưng hiện nay (ngay cả trong thần học), mầu nhiệm thường được hiểu theo nghĩa hẹp hơn là điều gì đó sẽ không còn là mầu nhiệm nữa trong thị kiến vinh phúc (D 2856 tt., 3016), bởi vì loại không thể hiểu được này chỉ dựa trên tính chất khả giác và trần thế nơi tri thức hiện tại của chúng ta. Từ nghĩa hẹp hơn của mầu nhiệm như vậy, chúng ta có sự phân biệt giữa (a) những mầu nhiệm tự nhiên, liên quan đến những chân lý về Thiên Chúa mà sự hiện hữu và nội dung của chúng có thể được chúng ta biết đến nhờ tính chất loại suy của các thuật ngữ được sử dụng, nhưng vẫn còn mờ tối; (b) những chân lý mà sự hiện hữu của chúng phải được Thiên Chúa mặc khải vì chúng liên quan đến những thực tại phát sinh từ sự can thiệp tự do (mang tính lịch sử-cứu độ) của Thiên Chúa đến nỗi lý trí tự nhiên không thể thu thập được chúng từ thế giới của kinh nghiệm tự nhiên (chẳng hạn như Sự Giáng Sinh Bởi Trinh Nữ); và (c) những chân lý mà nội dung khả hữu và thực sự của chúng hiện chỉ có thể được biết đến nhờ mặc khải thần linh và nếu không, sẽ không thể tiếp cận được bởi bất cứ trí năng thụ tạo nào. Sự hiện hữu của các mầu nhiệm theo nghĩa chặt này và tính khả hữu cho sự mặc khải chúng là một tín điều của Giáo Hội (D 2732, 2841 tt., 2855 tt., 3015 tt., 3041, 3225, 3236 tt., 3422 và các đoạn khác). Chắc chắn rằng Thiên Chúa Ba Ngôi, Nhập Thể, ân sủng siêu nhiên và đỉnh cao của nó—thị kiến vinh phúc, là những mầu nhiệm theo nghĩa chặt.
Tham khảo
Karl Rahner S.J., Dictionary of Theology, 2nd edition