mầu nhiệm — mầu nhiệm trong thần học (mystery in theology)
Avery Dulles, S.J.
Một thực tại bị ẩn giấu hay một bí mật. Cụ thể hơn, trong thần học về mặc khải, đó là một chân lý mà con người không thể khám phá ra nếu không có mặc khải và ngay cả sau khi được mặc khải, nó vẫn vượt quá trí hiểu của họ. Ngoài ý nghĩa chính này, thuật ngữ “mầu nhiệm” còn có những ý nghĩa liên quan khác cần được lưu tâm: (1) trong cứu độ luận, đó là những hành vi cứu chuộc lớn lao của Thiên Chúa trong lịch sử, cách đặc biệt là nơi Chúa Giêsu Kitô; (2) trong thần học về thờ phượng, đó là sự tái hiện mang tính bí tích cho các hành động cứu chuộc của Chúa Kitô.
Lịch sử khái niệm
Mặc dù chưa có tường thuật lịch sử đầy đủ cho thuật ngữ này, nhưng chúng ta có thể lưu ý những điểm nổi bật sau đây.
Các Giáo phụ Hy Lạp. Thuật ngữ μυστήριον [mystírion] được các Giáo phụ Hy Lạp sử dụng theo nhiều nghĩa. Chúng bao gồm:
1. Những ý định cứu độ của Thiên Chúa, được ẩn giấu từ muôn đời trong tâm trí Thiên Chúa, nhưng được biểu lộ một phần qua các ngôn sứ của Ngài, cách đặc biệt là qua Chúa Kitô.
2. Những sự can thiệp cứu độ lớn lao của Thiên Chúa trong lịch sử, qua đó, Ngài thực hiện các kế hoạch cứu độ của mình, cách đặc biệt là các sự kiện có tính quyết định: sự Nhập Thể, cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô.
3. Những ý nghĩa ẩn giấu của Kinh Thánh, cách đặc biệt là ý nghĩa tượng trưng của Cựu Ước hướng tới Chúa Kitô và Giáo Hội.
4. Các Bí tích, xét như sự tiếp nối về lễ nghi của các hành động cứu chuộc của Thiên Chúa trong Chúa Kitô. Việc sử dụng thuật ngữ μυστήριον theo nghĩa bí tích này chỉ được thiết lập vào thế kỷ IV, khi các tôn giáo thần bí không còn là đối thủ cạnh tranh gắt gao của Kitô Giáo.
5. Các tín ngưỡng và nghi lễ ngoại giáo, chẳng hạn như như tín ngưỡng và nghi lễ của Eleusis, Attis, Osiris, Cybele và Mithra.
6. Trong các tác phẩm của một số tác giả Alêxandria (đặc biệt là Thánh Clêmentê), μυστήριον mang nghĩa là một số giáo lý bí truyền mà, vì lo sợ bị xúc phạm, nên chỉ được giữ kín bởi một số tín hữu ưu tú.
7. Trong tác phẩm của Thánh Grêgôriô thành Nyssa, μυστήριον là những đối tượng của tri thức thần bí, chẳng hạn như những điều đã được mặc khải cho ông Môsê và Thánh Phaolô trong trạng thái xuất thần.
8. Đặc biệt, trong các tác phẩm của các Giáo phụ thế kỷ IV (Thánh Grêgôriô thành Nazien, Thánh Grêgôriô thành Nyssa, Thánh Gioan Kim Khẩu,...), μυστήριον là một chân lý được mặc khải nhưng vẫn còn mờ tối đối với ngay cả những Kitô hữu trung thành và có học thức vì tính chất cao cả của nó.
Cách sử dụng cuối cùng của thuật ngữ này như vừa nêu đặc biệt quan trọng khi xét đến sự phát triển của nó sau này. Chủ đề về tính không thể hiểu được của Thiên Chúa, mà triết gia Philo từng nêu ra ở thế kỷ I, đã được các Giáo phụ chính thống ở thế kỷ IV nhấn mạnh để phản đối phái Eunomius, những người cho rằng Thiên Chúa đã mặc khải chính Ngài đến mức mà người tín hữu Kitô Giáo có thể hiểu được hoàn toàn bản chất của Ngài. Các Giáo phụ chống lại phái Eunomius đã phát triển một nền thần học mang tính phủ định (hay “bí ngôn” [“apophatic”]) rõ rệt, nền thần học này nhấn mạnh đến sự khác biệt hoàn toàn và sự uy nghi vô hạn của Thiên Chúa. Như Rudolf Otto đã lưu ý trong tác phẩm của mình, The Idea of the Holy [Ý niệm về Thánh thiện] [bản dịch của J. W. Harvey (tái bản lần thứ 2, New York 1958)], Thánh Gioan Kim Khẩu đã cung cấp một số cách diễn đạt hay nhất về ý nghĩa của “sự thần thiêng” [“numinous”] trong văn học Kitô Giáo cổ đại. Với những minh họa thích hợp từ Kinh Thánh, thánh nhân đã cho thấy sự hiện diện thần bí của một vị Thiên Chúa của mặc khải đã tạo ra những cảm xúc kinh hoàng, bối rối tinh thần và run rẩy do sự kết hợp giữa nỗi sợ hãi và vui mừng như thế nào.
Vào thế kỷ VI, tác giả Pseudo-Dionysius Areopagite đã sử dụng hiệu quả vốn từ vựng của các tôn giáo thần bí để khắc sâu ý nghĩa của lòng kính sợ thánh thiện. Các tác phẩm thần bí của ông, như đã được John Scotus Erigena dịch sang tiếng Latinh (khoảng năm 850), đã ảnh hưởng đến các nhà kinh viện vĩ đại, trong đó có Thánh Tôma Aquinô.
Các Giáo phụ và Tiến sĩ Latinh. Ở phương Tây, thuật ngữ Hy Lạp μυστήριον, cách đặc biệt là khi dùng để chỉ các nghi lễ thiêng liêng của Kitô Giáo, thường được dịch là sacramentum. Nhưng từ mysterium cũng được sử dụng, cả khi ám chỉ đến các giáo phái bí truyền ngoại giáo lẫn khi biểu thị những chân lý được ẩn giấu, bao gồm cả những nghĩa ẩn giấu trong Kinh Thánh. Thánh Augustinô sử dụng sacramentum và mysterium gần như thay thế cho nhau nhưng với ý nghĩa hơi khác nhau. Sacramentum chủ yếu đề cập đến nghi lễ hoặc biểu tượng có thể nhìn thấy bên ngoài; trong khi mysterium đề cập đến ý nghĩa ẩn giấu đằng sau nó.
Nhìn chung, truyền thống thời trung cổ khá trung thành với Thánh Augustinô trong cách sử dụng các thuật ngữ. “Mysterium” thường được dùng để chỉ ý nghĩa thiêng liêng hoặc ẩn dụ của Kinh Thánh.
Thánh Tôma Aquinô, dựa trên từ nguyên của thuật ngữ, đã lưu ý rằng sự ẩn giấu hay bí mật là yếu tố cơ bản của mầu nhiệm (In Isaiam [Chú giải Sách Isaia], lời tựa). Trong thần học của ngài, các mầu nhiệm thần linh [divina mysteria] là những chân lý ẩn giấu nơi Thiên Chúa mà con người chỉ có thể nhận biết sau bức màn che của ĐỨC TIN. Rất thường xuyên trong các tác phẩm của ngài, từ “mysterium” xuất hiện như là tân ngữ của động từ “credere.” Tuân theo thực hành của Kinh Thánh, ngài thường áp dụng thuật ngữ “mầu nhiệm” không phải cho hiện hữu nội tại của Thiên Chúa, nhưng cho những chỉ bảo cứu chuộc của Ngài dù đã được thực hiện hay vẫn còn chờ được hoàn tất trong thời cánh chung. Chỉ trong những trường hợp hiếm hoi, ngài mới gọi Ba Ngôi là một mầu nhiệm, chủ yếu khi liên kết Ba Ngôi với Nhập Thể, mà ngài gọi là “mầu nhiệm cao cả nhất trong tất cả các mầu nhiệm” (Summa Theologiae 1a, 57.5 obj. 1). Chẳng hạn, trong Summa Theologiae 1a2ae, 1.8, ngài phân biệt giữa “bí mật của Thiên Chúa” (occultum divinitatis, tức Ba Ngôi) với “mầu nhiệm của nhân tính Chúa Kitô.” Ngoại trừ những đoạn đề cập đến Bí tích Thánh Thể, Thánh Tôma hầu như không bao giờ gọi các Bí tích là mầu nhiệm. Ngài nói rằng rượu thánh hiến phải được gọi đúng là “mầu nhiệm đức tin” (mysterium fidei) bởi lẽ máu của Chúa Kitô không bày tỏ rõ ràng đối với các giác quan (sđd. 3a, 78.3 ad 5).
Thế kỷ XIX. Trong các cuộc tranh luận với nhiều phong trào duy lý khác nhau, mầu nhiệm dần dần nổi lên như một thuật ngữ chuyên môn trong thần học mặc khải của Công Giáo. Những người theo thuyết bán duy lý cho rằng lý trí con người, ít nhất là khi đã được rèn luyện đầy đủ dưới sự chỉ dẫn của mặc khải, về nguyên tắc có đủ khả năng hiểu và chứng minh được tất cả các tín điều của đức tin. Từ đó suy ra rằng đức tin, theo nghĩa chấp nhận lời chứng, sẽ không cần thiết đối với những người đã đạt đến sự trưởng thành về trí tuệ. Các học thuyết của những người theo thuyết bán duy lý hàng đầu đã bị lên án gay gắt (H. Denzinger, Enchiridion symbolorum [Freiburg 1963] 2738-2740, 2828-2831, 2850-2861). Bản Tuyên ngôn về các Sai lầm [The Syllabus of Errors] đã khẳng định lại lập trường này và bác bỏ các nguyên tắc cơ bản của thuyết bán duy lý (sđd. 2909-2914).
Công đồng Vatican I, đỉnh điểm của sự phát triển này, đã long trọng định nghĩa rằng có những “mầu nhiệm thực sự được gọi đúng như vậy”, tức là các tín điều đức tin không thể được “hiểu và chứng minh từ các nguyên lý tự nhiên bởi một tâm trí dù đã được trau dồi đúng đắn” (H. Denzinger, Enchiridion symbolorum [Freiburg 1963] 3041). Trong chương mục tương ứng với định nghĩa này, Công đồng giải thích rằng những mầu nhiệm nghiêm ngặt có nghĩa là những chân lý “ẩn giấu nơi Thiên Chúa mà nếu không được Thiên Chúa mặc khải thì không thể biết được” (sđd. 3015) và rằng “tự bản tính, chúng vượt quá tâm trí thụ tạo đến nỗi ngay cả khi đã được thông truyền nhờ mặc khải và được đón nhận nhờ đức tin, chúng vẫn bị che khuất bởi bức màn của chính đức tin và như thể bị bao phủ trong sự mờ tối, và chừng nào còn sống cuộc đời trần thế, thì ‘chúng ta còn phải lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy’” (sđd. 3016; x. 2 Cr 5,6-7).
Trong trích dẫn vừa nêu, Công đồng dường như ngụ ý rằng sẽ không còn mầu nhiệm nào trên thiên đàng nữa, khi ánh sáng vinh quang sẽ thay thế ánh sáng mờ tối của đức tin. Quan điểm kinh điển này của thần học Công Giáo—cũng là quan điểm của Thánh Tôma (Trong Chú giải 1 Cr, 2, 1)—được củng cố bởi nhiều trích đoạn Kinh Thánh khác ngoài trích đoạn mà Công đồng trích dẫn (ví dụ: 1 Cr 13,9-12; 1 Ga 3,2). Tuy nhiên, cần lưu ý, như Karl Rahner đã nhiều lần nhấn mạnh, rằng không một trí năng thụ tạo nào có thể được nâng lên đến mức có được tri thức toàn diện tuyệt đối về Thiên Chúa (x. H. Denzinger, Enchiridion symbolorum [Freiburg 1963] 3001). Ngay cả trên thiên đàng, Thiên Chúa cũng không thể bị chiếm hữu như một đối tượng bởi động lực của lý trí con người.
Trong khi nhấn mạnh khía cạnh phủ định của tính không thể hiểu được của Thiên Chúa, Công đồng Vatican I đã cố gắng chỉ ra rằng “lý trí, được soi sáng bởi đức tin, một khi siêng năng, thành kính và khiêm nhường tìm tòi, thì nhờ ân huệ của Chúa, sẽ đạt được một số hiểu biết về các mầu nhiệm, và đó là một hiểu biết mang lại lợi ích hơn cả” (sđd. 3016). Sự hiểu biết như vậy thu được bằng cách đối chiếu các mầu nhiệm với những điều đã biết trong tự nhiên, với nhau và với chung cục của con người. Bằng cách này, người ta có thể nhận ra sự hài hòa giữa trật tự tự nhiên và siêu nhiên, sự gắn kết lẫn nhau giữa các chân lý đức tin và ý nghĩa của các mầu nhiệm đối với con người trong cuộc lữ hành trần thế. Mặc dù các khái niệm mà người ta dùng để nhận biết các mầu nhiệm chỉ giống một cách xa vời với thực tại mà chúng đại diện, nhưng chúng mang lại một tri thức hoàn toàn hợp lệ trong chừng mực mà nó đạt tới. Thật vậy, việc chiêm ngắm các mầu nhiệm trong cuộc đời trần thế có thể mang lại một sự thưởng nếm trước, dù vẫn còn mờ nhạt, thị kiến vinh phúc mà những người được chúc phúc được hưởng trên thiên đàng.
Suy xét thêm. Trong cuộc tranh luận chống lại các khuynh hướng duy lý ở thế kỷ XIX, khái niệm về mầu nhiệm đã dần được sửa đổi. Trong khi các Giáo phụ và các Tiến sĩ thời Trung cổ, với việc nghĩ về mầu nhiệm như một điều gì đó ẩn giấu bên trong sự hiện diện mang tính bí tích, có khuynh hướng coi Nhập Thể là mầu nhiệm tối thượng, thì các nhà thần học thế kỷ XIX, trong khi tập trung vào đặc tính siêu vượt và mờ tối, thường đồng tình với cha M. Scheeben rằng Thiên Chúa Ba Ngôi là “mầu nhiệm của mọi mầu nhiệm.” Thuận với xu hướng này, ĐGH Lêô XIII đã gọi tín điều về Thiên Chúa Ba Ngôi là “mầu nhiệm cao cả nhất trong tất cả các mầu nhiệm, vì nó là nguồn gốc và khởi nguyên của mọi sự” (Divinum illud munus [Về Chúa Thánh Thần]; Acta Sanctae Sedis 29 (1897) 645).
Trong giáo huấn Công Giáo hiện nay, thường có ba loại mầu nhiệm thần linh được xác nhận. Chúng được thảo luận dưới đây theo thứ tự tăng dần về tính cao cả.
Mầu nhiệm tự nhiên. Là những chân lý có thể nhận biết được một cách tự nhiên nhưng vẫn còn mờ tối vì chúng ta thiếu những khái niệm thích hợp và chắc chắn về thực tại liên quan. Mặc dù những mầu nhiệm như vậy có thể được tìm thấy trong trật tự thụ tạo (chẳng hạn như bản năng của động vật, ý chí tự do của con người), nhưng chúng chỉ được chứng thực một cách ưu việt nhất nơi Thiên Chúa mà nguyên nhân là sự thiếu sót tột cùng nơi những phép loại suy thụ tạo mà chúng ta dùng để nhận biết Ngài. Chẳng hạn, sự tự do của Thiên Chúa là một mầu nhiệm lớn hơn nhiều so với sự tự do của con người, vì kinh nghiệm của chúng ta không cung cấp manh mối nào về việc làm thế nào sự tự do có thể hiện diện trong một chủ thể bất biến.
Mầu nhiệm siêu nhiên theo nghĩa rộng. Là những chân lý liên quan đến trật tự thụ tạo mà nếu không có mặc khải thì không thể nhận biết, nhưng một khi đã được mặc khải, thì chúng không còn bất cứ sự mờ tối đặc biệt nào nữa; chẳng hạn, thẩm quyền tối cao của Đức Giáo Hoàng Rôma trong Giáo Hội. Một chân lý như vậy phụ thuộc vào ý muốn tự do của Thiên Chúa, nó không thể được nhận biết nếu không có mặc khải, nhưng sau khi được mặc khải, nó có tính dễ hiểu tương đương với các khái niệm pháp lý khác.
Những mầu nhiệm siêu nhiên theo nghĩa chặt. Là những chân lý không thể được nhận biết nếu không có mặc khải và ngay cả sau khi được mặc khải, chúng vẫn tiếp tục mờ tối do tính chất cao cả nơi đối tượng của chúng. Ba mầu nhiệm chính thường được nhìn nhận là thuộc về loại này: (1) Thiên Chúa Ba Ngôi (H. Denzinger, Enchiridion symbolorum [Freiburg 1963] 3225), là mầu nhiệm về sự thông truyền sự sống thần linh nơi Thiên Chúa; (2) Sự Nhập Thể (sđd. 2851), là sự thông truyền siêu nhiên tột bậc của sự sống thần linh với cho bản tính thụ tạo; và (3) sự nâng cao con người hữu hạn để được tham dự, nhờ ân sủng hay vinh quang, vào sự sống thần linh (sđd. 2854). Tất cả các mầu nhiệm siêu nhiên khác (chẳng hạn như tội nguyên tổ, Bí tích Thánh Thể, Giáo Hội như một sự hiệp thông siêu nhiên, sự tiền định) thường được cho là quy hướng về ba mầu nhiệm trung tâm vừa nêu.
Vì liên quan đến những thực tại của trật tự thần linh, nên các mầu nhiệm siêu nhiên theo nghĩa chặt nằm ngoài sự hiểu biết của bất cứ trí năng thụ tạo nào. Sự mờ tối đặc biệt của chúng đến từ sự kiện rằng chúng liên quan đến Thiên Chúa không đơn thuần ở những khía cạnh mà Ngài được phản chiếu cách trực tiếp bởi các thụ tạo (chẳng hạn như sự thiện của Ngài được phản chiếu trong sự thiện của các thụ tạo), nhưng chính xác là ở những khía cạnh mà, nhờ sự siêu vượt vô biên của Ngài, các phép loại suy thụ tạo đều vô hiệu. Vì sự sản sinh nơi các sinh vật sống chỉ tương đồng một cách xa vời với sự nhiệm sinh trong Thiên Chúa Ba Ngôi, nên chúng ta không thể lập luận từ cái trước đến cái sau. Ngay cả sau khi đã được mặc khải, chúng ta cũng không thể thấy được những cơ sở nội tại nào giải thích cho sự kiện đó. Mặc khải cho chúng ta biết rằng có ba Ngôi Vị trong Thiên Chúa, rằng một trong ba Ngôi đã trở thành người, và rằng con người được mời gọi để được tham dự vào sự sống nội tại của Thiên Chúa. Tuy nhiên, điều đó không giải thích được rằng làm thế nào mà những điều như vậy lại có thể xảy ra.
Trong những năm đầu thế kỷ XX, một cuộc tranh luận đã nảy sinh về việc liệu chúng ta có thể biết được bất cứ mầu nhiệm tuyệt đối nào nơi Thiên Chúa mà không cần đến mặc khải hay không. Nhiều nhà thần học có năng lực (như C. Pesch, I. Ottiger, H. Dieckmann) đã trả lời theo hướng phủ định, trong khi những người khác (như R. Garrigou-Lagrange, M. D. Roland-Gosselin) lại cho rằng chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng nơi Thiên Chúa phải có những sự hoàn hảo không có bất cứ bản đối chiếu nào trong trật tự thụ tạo đến nỗi chúng ta không thể biết chúng mà không cần đến mặc khải, hoặc ngay cả sau khi được mặc khải, chúng ta cũng không thể hiểu được tính khả hữu nội tại của chúng.
Những cân nhắc về mặt biện giáo. Các nhà biện giáo phải chứng minh rằng khái niệm Kitô Giáo về mầu nhiệm tuyệt đối là khái niệm có ý nghĩa và khả tín. Nhiệm vụ này là cần thiết vì thuyết duy lý và duy khoa học hiện đại, xét đến những khả năng vô hạn của tiến bộ khoa học và lý trí, đôi khi cho rằng tất cả các chân lý của mặc khải cuối cùng đều có thể bị quy giản thành tri thức của phép chứng minh nghiêm ngặt.
Trước vấn đề này, người ta có thể đáp lại, như Karl Rahner đã nói, rằng tâm trí con người đã được cấu trúc sao cho nó tất yếu phải nắm bắt được những đối tượng hữu hạn cá biệt đối ứng với chân trời của cái vô điều kiện và không thể định nghĩa được, tức là Đấng Tuyệt Đối. Vì Đấng Tuyệt Đối là nền tảng của toàn bộ tính khả tri, nên tâm trí con người, ngay cả trước khi nó là năng lực hiểu biết, đã là năng lực hướng về mầu nhiệm. Những mầu nhiệm được mặc khải của Kitô Giáo làm phong phú thêm tri thức của chúng ta về Đấng Tuyệt Đối bằng cách chứng thực rằng Thiên Chúa có thể thông truyền sự sống thần linh của Ngài và tiến lại gần chúng ta trong ân sủng mà không làm tổn hại đến sự siêu vượt tuyệt đối của Ngài. Nhưng bởi vì tất cả những chân lý này đều liên quan đến hiện hữu nội tại của Đấng Tuyệt Đối vốn vượt xa các khái niệm khách quan, nên các mầu nhiệm Kitô Giáo không bao giờ có thể được chứng minh một cách hợp lý hay khoa học.
Hiện tượng học tôn giáo, bằng cách chỉ ra rằng khái niệm về mầu nhiệm là một đặc điểm bất biến của tôn giáo nhân loại, đã nhấn mạnh vào giá trị của mầu nhiệm. Tất cả các tôn giáo sống động, như R. Otto nhìn nhận, đều sống nhờ kinh nghiệm thần thiêng về sự hiện diện thần linh, thứ khơi lên những cảm xúc kính sợ và say mê. Từ xa xưa, con người luôn nghi ngờ rằng nếu Thiên Chúa giao tiếp với chúng ta, thì Ngài hẳn phải làm điều đó một cách thần bí và truyền đạt những bí mật sâu xa và khó hiểu. Vì thế, Scheeben đã lập luận rằng những mầu nhiệm của đức tin Kitô Giáo, thay vì khiến nó trở nên không thể tin, lại củng cố tuyên bố của nó về sự tự mặc khải tối thượng của Thiên Chúa. Ngài nói thêm rằng, nếu thiếu đi mầu nhiệm, Kitô Giáo sẽ không thể lay động và thu hút con người như đã và đang làm.
Bằng cách tiếp cận vấn đề từ một góc độ khác, các nhà triết học cá nhân chủ nghĩa hiện đại (như M. Scheler, G. Marcel và J. Lacroix) đã chỉ ra rằng yếu tố mầu nhiệm là thứ không thể tách rời khỏi tri thức cá nhân đích thực. Bản thân tinh thần không bao giờ được chứng minh bằng suy luận hay được kiểm chứng bằng thực nghiệm; nó thường được nhận biết thông qua những dấu hiệu mà nó tự biểu hiện. Khi một người bộc lộ bản thân với một người bạn, anh ta mở ra một phần mầu nhiệm về hiện hữu của chính mình. Nếu Thiên Chúa muốn bộc lộ chính Ngài và thu hút con người bước vào tương quan tình bạn với Ngài, thì Ngài phải chia sẻ cho họ mầu nhiệm nội tại của chính Ngài. Do đó, mối quan hệ thông hiệp cá nhân của con người cung cấp một phép loại suy hữu hiệu để tiếp cận mầu nhiệm được mặc khải về sự hiệp thông SIÊU NHIÊN của chúng ta với Thiên Chúa. Từ quan điểm này, mầu nhiệm xuất hiện không chỉ như một dữ kiện cá biệt của mặc khải, nhưng còn như một chiều kích mà trong đó, toàn bộ mối quan hệ giữa mặc khải và đức tin được mở ra.
Tham khảo
Avery Dulles, S.J., The New Catholic Encyclopedia, 2nd edition