mặc khải — thần học về mặc khải (theology of revelation)
Avery Dulles, S.J.
Từ này bắt nguồn từ tiếng Latinh revelare, có nghĩa là vén mở hoặc tiết lộ / hé lộ.
Trong Tiếng Việt, mặc [默] có nghĩa là thầm kín, tĩnh lặng; đôi khi dùng chữ mạc [幕], có nghĩa là bức màn; còn khải [啟] có nghĩa là mở. (Ghi chú của người dịch.)
Trong cách sử dụng thông thường, ngay cả ngoài bối cảnh tôn giáo, mặc khải [hay vén mở] có nghĩa là sự tiếp nhận đột ngột và bất ngờ một tri thức có tính quan trọng sâu sắc, cách đặc biệt là tri thức mang lại cho người tiếp nhận một cái nhìn mới mẻ về cuộc sống và thế giới. Nó thường để chỉ hành động tự do mà qua đó, một người thổ lộ những tâm tư, tình cảm bên trong của mình với người khác, cho phép người ấy bước vào thế giới tinh thần của mình. Trong thần học, thuật ngữ này thường chỉ hành động mà qua đó, Thiên Chúa thông truyền cho các thụ tạo một sự tham dự vào tri thức của Ngài, bao gồm cả tri thức sâu thẳm về chính mình của Ngài. Sự thông truyền như vậy là SIÊU NHIÊN vì nó vượt quá tất cả những gì một thụ tạo có thể khám phá được nhờ năng lực bẩm sinh. Một số tác giả sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa rộng hơn để bao hàm cả mặc khải “tự nhiên” hoặc “thông thường”, tức là tri thức về những sự thần linh mà Thiên Chúa thông truyền qua tự nhiên và lương tâm. Cách sử dụng này có lợi thế là làm rõ rằng tất cả tri thức của con người về Thiên Chúa đều phụ thuộc vào sáng kiến tự do mà Thiên Chúa là Đấng khởi xướng. Nhưng để tránh lặp lại những gì đã nói ở nơi khác (THẦN HỌC TỰ NHIÊN), ở đây chúng ta sẽ chỉ nói về mặc khải siêu nhiên.
Không một thần học nào về mặc khải có thể được coi là thỏa đáng nếu chỉ tiến hành thuần túy bằng cách phân tích khái niệm trừu tượng và hình thức. Quan điểm Kitô Giáo về mặc khải được khởi đi từ một suy xét cụ thể như được trình bày trong Kinh Thánh và truyền thống. Dựa trên ý niệm của Kinh Thánh về mặc khải, bài viết này trước tiên khảo sát các tuyên bố chính của giáo huấn Công Giáo và sau đó, phác thảo một lý thuyết tổng quát về mặc khải như được hiểu trong thần học Công Giáo hiện đại.
Các văn kiện của Giáo hội
Tính đến những thế kỷ gần đây, sự tồn tại của mặc khải và khả năng nhận biết mặc khải được coi là hiển nhiên đối với mọi Kitô hữu; do đó, người ta ít khi nói về mặc khải nói chung.
Bác bỏ sai lầm. Các quyết định của Giáo Hội chủ yếu tập trung vào việc xác định nội dung của mặc khải để đáp lại các lạc giáo cụ thể. Vào thời Trung cổ, nhằm chống lại sự phủ nhận của phái Manichaean, Giáo Hội đã nhiều lần tuyên bố rằng Đấng đã phán trong Cựu Ước và Tân Ước là một Thiên Chúa duy nhất (chẳng hạn, H. Denzinger, Enchiridion symbolorum [ấn bản thứ 32, Freiburg 1963] 685, 790, 854). Để làm rõ thêm điểm này, Công đồng Latêranô IV đã khẳng định vào năm 1215 rằng Thiên Chúa đã ban cho nhân loại “giáo lý cứu độ” của Ngài “qua ông Môsê và các vị ngôn sứ thánh thiện cùng các tôi tớ khác của Ngài theo một sự sắp đặt theo thời gian có trật tự nhất” với đỉnh điểm là hành động mà qua đó, “Con Một Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô... đã tiết lộ rõ ràng hơn về con đường dẫn tới sự sống” (sđd. 800-801).
Công đồng Trentô đã đề cập đến bản tính của mặc khải trong thảo luận về các nguồn giáo lý có uy quyền thần linh. Công đồng cho rằng Phúc Âm Kitô Giáo mà “các ngôn sứ hứa trước trong Kinh Thánh,” đã được Chúa Giêsu Kitô công bố lần đầu tiên qua chính môi miệng Ngài. Sau đó, nó được các Tông đồ truyền lại dựa trên những gì họ đã nghe được từ nơi Chúa Giêsu Kitô và được Chúa Thánh Thần dạy dỗ (sđd. 1501).
Vào thế kỷ XIX, một số sai lầm cơ bản liên quan đến mặc khải và đức tin đã bị kết án. Những người theo thuyết duy tín bị vạ vì cho rằng ĐỨC TIN không hề được củng cố vững chắc bởi các bằng chứng khả tín (x. sđd. 2751-2756, 2765-2769). Những người theo thuyết duy lý và thuyết bất khả tri bị vạ vì lần lượt phủ nhận tính khả hữu và khả tri của mặc khải (x. sđd. 2901-2907). Tương tự như vậy, lập trường bán duy lý cũng bị bác bỏ vì cho rằng một khi lý trí con người đã phát triển đến tầm vóc trưởng thành hoàn toàn, thì tất cả các tín điều Kitô Giáo đều có thể được thiết lập bằng khoa học và triết học nhân loại mà không cần nại đến thẩm quyền (x. sđd. 2856, 2909).
Giáo huấn chắc chắn. Giáo lý của Giáo Hội về tính khả hữu, sự tồn tại và bản tính của mặc khải đã được trình bày một cách có thẩm quyền nhất tại Công đồng Vatican I, khi Công đồng đã đặt ra giáo lý rằng tri thức của con người có hai loại khác nhau: tri thức tự nhiên—lý trí—và tri thức siêu nhiên—mặc khải (sđd. 3004, 3015). Mặc dù lý trí con người có thể đạt tới một số tri thức về Thiên Chúa bằng ánh sáng tự nhiên của nó, nhưng Thiên Chúa nhân lành đã đồng ý mặc khải chính Ngài và các mệnh lệnh vĩnh cửu của Ngài một cách siêu nhiên (sđd. 3004). Mặc khải này có hai mục đích. Thứ nhất, nó cho phép tất cả mọi người lĩnh hội được những chân lý tôn giáo quan trọng nhất một cách tự nhiên với sự chắc chắn tuyệt đối và không hòa lẫn với sai lầm. Thứ hai, nó cho phép con người, trong tư cách là một thụ tạo có trí tuệ, hướng bản thân mình đến mục đích siêu nhiên mà Thiên Chúa đã định sẵn cho họ (sđd. 3005). Nếu con người chỉ có một số phận tự nhiên, thì mặc khải chỉ cần thiết về mặt luân lý, nhưng khi suy xét đến lời mời gọi nhưng không của Thiên Chúa để con người hướng đến thị kiến trực giác về Thiên Chúa, thì mặc khải là điều tuyệt đối cần thiết cho ƠN CỨU ĐỘ. Do đó, đối tượng được mặc khải không chỉ chứa đựng những chân lý mà lý trí con người có thể tự khám phá được bằng nỗ lực của mình, nhưng quan trọng hơn, còn có những mầu nhiệm thần linh mà chính họ không thể nào nắm bắt được nếu không có mặc khải (sđd. 3015, 3041). Những mầu nhiệm này, ngay cả sau khi được mặc khải, vẫn ẩn giấu nơi Thiên Chúa đến nỗi con người chỉ có thể nắm bắt chúng một cách mờ tối trong cuộc đời trần thế (sđd. 3016).
Công đồng Vatican I đã đề cập đến mối quan hệ giữa mặc khải và lý trí. Công đồng khẳng định rằng lý trí không thể nhận ra điều phi lý nào trong sự kiện hay nội dung của mặc khải Kitô Giáo (sđd. 3017, 3027). Thật vậy, nó có thể thiết lập tính hữu lý của việc tin nhờ vào những dấu chỉ khả tín phong phú, cách đặc biệt là các phép lạ và lời sấm (sđd. 3009, 3014, 3019, 3033). Một khi hành vi đức tin đã được thực hiện, lý trí có thể suy ngẫm một cách hữu hiệu về dữ liệu của mặc khải. Nếu sự suy ngẫm này được thực hiện với sự siêng năng, lòng đạo đức và khiêm nhường thích đáng, thì lý trí có thể đạt tới một sự hiểu biết rất hữu ích, mặc dù còn giới hạn, về chính các mầu nhiệm. Hiểu biết như vậy có thể nảy sinh từ việc đối chiếu các mầu nhiệm đã được mặc khải với nhau, với cùng đích của con người và với những điều đã được biết đến một cách tự nhiên (sđd. 3016).
Lạc giáo theo chủ nghĩa hiện đại vào đầu thế kỷ XX đã tạo cơ hội cho những sự minh định xa hơn nữa. Huấn quyền Rôma tuyên bố rằng mặc khải không chỉ đơn thuần là một cảm xúc hay tình cảm trào dâng từ sâu thẳm tiềm thức; nó có một nội dung trí tuệ xác định được chấp nhận không phải dựa trên cơ sở là bằng chứng nội tại, nhưng dựa trên thẩm quyền của Thiên Chúa là Đấng mặc khải (sđd. 3542). Sự chấp nhận như vậy được chứng thực bởi các dấu chỉ bên ngoài về tính khả tín, cách đặc biệt là các phép lạ và lời sấm là những điều vẫn còn hữu hiệu đối với tâm trí con người hiện đại (sđd. 3539). Hơn nữa, mặc khải đã hoàn chỉnh từ ngay thời các tông đồ (sđd. 3421). Các tín điều của Giáo Hội là những chân lý đã được mặc khải (sđd. 3422); chúng không hề phát triển theo thời gian để trở thành các tín điều mang ý nghĩa khác (sđd. 3541).
Công đồng Vatican II đã dành toàn bộ một hiến chế tín lý, Dei Verbum, để nói về chủ đề mặc khải. Giáo lý này của công đồng sẽ được theo sát trong phần trình bày tiếp theo.
Suy tư thần học
Kể từ thời kỳ Ánh Sáng cho đến giữa thế kỷ XX, một định kiến mang nặng tính biện giáo đã được gán cho luận thuyết về mặc khải. Sự chú trọng khi ấy chủ yếu tập trung vào những gì mà—lý trí không được đức tin trợ giúp—có thể chứng minh liên quan đến tính khả hữu, hợp lý và khả tri của mặc khải. Thần học đương đại quan tâm hơn đến việc khám phá bản tính của mặc khải và các quan điểm về nó từ vị trí của một người có đức tin. Cuộc điều tra này được thúc đẩy bởi những mối quan tâm và thành tựu của thế kỷ XX liên quan đến lý thuyết về ngôn ngữ, giao tiếp, biểu tượng và các mối tương quan liên ngôi vị.
Nền học thuật Tin Lành hiện đại đã cung cấp thêm động lực cho việc nghiên cứu mặc khải. Các học giả Kinh Thánh như C. H. Dodd, Oscar Cullmann và Alan Richardson đã thu hút sự chú ý đến chiều kích lịch sử của mặc khải, như đã được chứng thực bởi những kỳ công vĩ đại của Thiên Chúa mà Thánh Kinh thuật lại. Các nhà thần học biện chứng như Karl Barth và Emil Brunner đã nhấn mạnh đến những thuộc tính mầu nhiệm của lời Chúa dành cho con người, những thuộc tính này không thể được nắm bắt cách trọn vẹn bằng các khái niệm và ngôn ngữ của con người. Các nhà thần học hiện sinh như Rudolf Bultmann và Paul Tillich đã chỉ ra giá trị của mặc khải trong việc giải phóng con người khỏi những mối lo âu và những điều vụn vặt của cuộc sống thường nhật. Nhìn chung, có thể nói rằng thần học Tin Lành hiện đại có xu hướng suy xét mặc khải chủ yếu như là sự kiện và kinh nghiệm. Các nhà thần học Công Giáo, trong khi không hề bỏ qua những khía cạnh này, lại quan tâm hơn đến việc bảo vệ các đặc tính về mặt giáo lý và khả năng lưu truyền của mặc khải, như đã được nhấn mạnh trong các văn kiện của Giáo Hội.
Nhà thần học đương đại hẳn sẽ tìm thấy những điều quý giá cho một lý thuyết về mặc khải nơi các Giáo phụ Hy Lạp và Thánh Augustinô. Trong số các tiến sĩ kinh viện, Thánh Tôma Aquinô là người có những đóng góp quan trọng nhất đối với lĩnh vực này qua các luận thuyết về đức tin và lời sấm (Summa Theologiae 2a2ae, 1-16; 171-178).
Hai khía cạnh của mặc khải. Mặc khải Do Thái-Kitô Giáo, điều mà chúng ta quan tâm chủ yếu ở đây, là thành phần thuộc về lý trí / nhận thức của toàn bộ công trình CỨU CHUỘC của Thiên Chúa. Qua mặc khải, con người trở thành người kẻ được tham dự vào tri thức thuộc về Thiên Chúa, ban đầu là trên trần gian, và sau cùng là trong đời sống mai hậu. Do đó, mặc khải đưa con người bước vào mối vinh phúc của chính sự sống nơi Thiên Chúa. Nếu con người muốn nhìn thực tại như thể qua con mắt của Thiên Chúa, thì chân trời trí tuệ của con người phải được mở rộng; bởi nếu không, họ sẽ thu hẹp sứ điệp của Chúa xuống thành những quan điểm thuần túy của con người. Vì thế, mặc khải có một khía cạnh chủ quan cốt ở sự biến đổi nội tại của các năng lực nhận thức nơi con người. Tuy nhiên, sự hiệu chỉnh này xảy ra chính khi sứ điệp thần linh được truyền đến từ bên ngoài thông qua sự can thiệp rõ ràng của Thiên Chúa vào lịch sử. Hai khía cạnh chủ quan và khách quan của mặc khải không thể tách rời, nhưng khía cạnh chủ quan được đề cập rõ ràng hơn khi nói về ÂN SỦNG và ĐỨC TIN. Do đó, chúng ta sẽ tập trung sự chú ý ở đây vào khía cạnh khách quan và trước hết, xem xét tiến trình mà qua đó mặc khải đến với con người, rồi sau đó là cấu trúc nội tại của dữ kiện đã được mặc khải.
Tiến trình mặc khải. Về tiến trình này, chúng ta có thể phân biệt ra hai giai đoạn—sự thông truyền nguyên thủy sứ điệp của Thiên Chúa tới con người và sự lưu truyền sau đó.
Mặc khải trực tiếp. Theo niềm tin Kitô Giáo, mặc khải trực tiếp đã được ban cho các Ngôn sứ và Tông đồ trong thời đại Kinh Thánh. Kinh nghiệm ngôn sứ đôi khi bao gồm cảm giác bên ngoài, những giấc mơ, thị kiến, lời tưởng tượng và thậm chí cả sự phú bẩm trực tiếp những ý niệm mới mẻ, nhưng theo Thánh Tôma, không yếu tố nào trong số này là thiết yếu. Yếu tố cơ bản và không thể thiếu phải là sự soi sáng lên trí hiểu của vị Ngôn sứ, ban cho ông một cái nhìn thấu suốt thần linh về ý nghĩa của những gì được bày ra trong trí mình (Summa Theologiae 2a2ae, 173.2; Summa Contra Gentiles 3.154).
Các Tông đồ đã nhận được mặc khải thông qua lời của Chúa Kitô, trong bối cảnh đặt dưới sự hướng dẫn của Ngài. Nhưng để những lời này có giá trị mặc khải, thì người lãnh nhận phải được thu hút từ bên trong và được soi sáng bởi ân sủng (Mt 16,17; Ga 6,64.66). Một số tông đồ sau này đã được ưu ái bởi những kinh nghiệm xuất thần (Cv 9.10; 2 Cr 12,1), tuy nhiên, những kinh nghiệm như vậy không làm nên chức vụ tông đồ, chức vụ này phụ thuộc vào sự liên đới cá vị với Chúa phục sinh và một phận vụ đặc biệt do chính Ngài ủy thác.
Theo Kinh Thánh, mặc khải chủ yếu đến qua lời của Thiên Chúa. Lời có thể là lời nói hoặc biểu tượng bằng chữ viết, hoặc có thể là một lời nội tâm mà qua đó, Thiên Chúa trình bày rõ sứ điệp của Ngài trong ý thức của người lãnh nhận. Nhưng trong tư tưởng của người Do Thái, lời Thiên Chúa không chỉ đơn thuần là phương tiện của tri thức. Bên cạnh đặc tính thuộc về lý trí / nhận thức, nó còn mang một đặc tính năng động: nó tác động lên những gì mà chính nó biểu thị (x. Is 55,10-11; Hr 4,12).
Ngay cả lời nói của con người, như được hiểu trong lý thuyết ngôn ngữ hiện đại, cũng không phải là không có tính hữu hiệu. Khi một người nói chuyện hoặc mở lòng ra với người khác, thì người kia sẽ có sự liên đới với anh ta một cách cá vị. Nếu người ấy đáp lại một cách đích đáng bằng sự tin tưởng và tín thác, thì một mối tương quan liên ngôi vị mới sẽ được thiết lập. Lời mặc khải của Thiên Chúa mở ra cho người tin vào Ngài—một sự hiệp thông sinh ích cho ơn cứu độ—với Ngài và với các tín hữu khác. Thánh Gioan Thánh Giá, trong tác phẩm Lên núi Carmel (2,31), đã liên kết quyền năng thánh hóa của lời Chúa với tính hữu hiệu năng động của nó [E. Allison Peers biên tập, Tuyển tập đầy đủ các tác phẩm của Thánh Gioan Thánh Giá (London 1934-35) 1,218-219].
Lời Thiên Chúa, theo nghĩa trọn vẹn trong Kinh Thánh, bao gồm cả những hành động mặc khải của Ngài. Những cuốn đầu tiên của Kinh Thánh đã tả về rất nhiều những CUỘC THẦN HIỆN (chẳng hạn như bụi gai bốc cháy, cột lửa) mà trong đó, Thiên Chúa biểu lộ sự hiện diện của Ngài một cách hữu hình. Toàn bộ Kinh Thánh làm chứng cho những hành động cứu độ và giáng phạt mà Thiên Chúa đã can thiệp vào lịch sử. Những hành động này có giá trị không chỉ đơn thuần là những dấu hiệu để xác nhận và chứng thực cho tuyên bố của các Ngôn sứ, nhưng còn là những cử chỉ quan trọng. Tự thân chúng đã mang tính chất mặc khải, ít là khi đi kèm với lời chú giải về ý nghĩa sấm ngôn. Lời nói và hành động có mối liên hệ mật thiết; chỉ khi kết hợp với nhau, chúng mới tạo nên sự kiện mặc khải trọn vẹn. Theo lời Công đồng Vatican II, “các việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu độ biểu lộ và củng cố những giáo huấn cũng như các thực tại được diễn tả bằng lời nói; còn lời nói được dùng để công bố và làm sáng tỏ mầu nhiệm được chứa đựng trong các việc làm” (Dei Verbum 2).
Mặc khải gián tiếp. Các Ngôn sứ và Tông đồ nhận được mặc khải không phải vì lợi ích riêng của họ nhưng là vì dân Chúa. Họ ý thức được một mệnh lệnh thần linh là phải truyền lại sứ điệp đã lãnh nhận một cách trung tín. Họ đã làm điều này chủ yếu thông qua việc rao giảng; và việc rao giảng được ủy thác trong Giáo Hội tiếp tục là một phương tiện của mặc khải. Giống như lời thần linh nguyên thủy, lời được rao giảng có năng lực mầu nhiệm. Ngoài việc là thực tại khách quan, nó còn có chiều kích thiêng liêng mang lại giá trị như lời Chúa. Các Giáo phụ (Thánh Augustinô, Thánh Grêgôriô Cả) và Thánh Tôma (De veritate 27,3 ad 12) coi các nhà rao giảng Kitô Giáo là những khí cụ hay nguyên nhân chuẩn bị trong việc lưu truyền mặc khải. Lời nói của con người họ trở nên mặc khải khi ân sủng của Thiên Chúa làm cho tâm trí người nghe trổ sinh hoa trái.
Lời được linh hứng trong Kinh Thánh cũng truyền tải mặc khải. Không phải tất cả các tác giả Kinh Thánh đều trực tiếp nhận được mặc khải. Một số trong số họ chỉ ghi lại những gì đã học được từ kinh nghiệm thông thường hoặc từ lời chứng của người khác. Nếu xét riêng lẻ, nhiều lời tuyên bố trong Kinh Thánh chỉ đơn thuần là những thông tin mang tính thế tục, và theo nghĩa đó thì không phải là mặc khải. Nhưng theo đức tin Công Giáo, toàn bộ Kinh Thánh được biên soạn dưới tác động của một sự thúc đẩy (hay đặc sủng) thần linh gọi là linh hứng. Do đó, nó cấu thành—sự đối tượng hóa do Thiên Chúa bảo đảm—đối với ý thức tôn giáo của dân Chúa trong sự tồn tại được hướng dẫn cách siêu nhiên và được sống dưới tác động của mặc khải không ngừng tiến triển. Theo nghĩa này, tổng thể Kinh Thánh có tính mặc khải. Một số nhà thần học cho rằng Kinh Thánh, giống như lời rao giảng, có giá trị gần như bí tích; nghĩa là, người nào đọc hoặc nghe Kinh Thánh trong hoàn cảnh thuận lợi sẽ nhận được ân sủng để bước vào mối quan hệ mới với Thiên Chúa trong đức tin. Kinh Thánh trở thành lời Thiên Chúa một cách trọn vẹn nhất khi được đọc trong tinh thần đức tin.
Sự kết hợp giữa lời và hành động hay việc làm như đã được ghi nhận trong sự thông truyền nguyên thủy của mặc khải cũng là đặc tính của sự lưu truyền sau đó. Các Ngôn sứ thường rao giảng bằng những hành động kịch tính (chẳng hạn, Is 20; Gr 27; Hs 1,2-9). Tương tự như vậy, trong Giáo Hội, mặc khải Kitô Giáo được lưu truyền không chỉ bằng lời nói và chữ viết, nhưng còn bằng phụng vụ và bằng tổng thể đời sống ứng xử của các Kitô hữu vốn phải là sự phản chiếu giáo huấn của Chúa Kitô và cụ thể hóa ân sủng của Ngài một cách hữu hình tại những thời điểm và không gian nhất định.
Các giai đoạn của mặc khải. Mặc khải Do Thái-Kitô Giáo được ban một cách tiệm tiến qua nhiều thế kỷ. Thánh Tôma đã phân biệt ra ba thời đại lớn trong lịch sử thánh, bao gồm: thời đại trước khi có luật Môsê, thời đại sống dưới lề luật và thời đại sống dưới ân sủng; ngài liên kết những thời đại này với những mặc khải lớn lao đã được ban cho ông Ápraham, ông Môsê và các Tông đồ (Summa Theologiae 2a2ae, 174,6). Ngay từ đầu, mặc khải đã mang tính công khai; nó không chỉ hướng đến các cá nhân, nhưng còn hướng đến cả một dân tộc. Mặc khải cho dân Ítraen trong thời Cựu Ước có tính chất cá biệt, nó hướng đến một dân tộc duy nhất chứ không hướng đến toàn thể nhân loại như trong Kitô Giáo. Hơn nữa, nó mang tính chuẩn bị vì nó hướng đến sự hoàn tất về sau. Từ quan điểm Kitô Giáo, mặc khải trong Cựu Ước dường như hoàn toàn hướng về Chúa Kitô và Giáo Hội bằng những hình bóng và sấm ngôn. Chính Chúa Kitô đã được mô tả trong Tân Ước bằng những thuật ngữ mượn từ Cựu Ước. Ngài là Ađam thứ hai, Môsê mới, CON VUA ĐAVÍT, ĐẤNG MÊSIA, Người Tôi Trung, CON NGƯỜI, CON THIÊN CHÚA. Chính Chúa Giêsu cũng tuyên bố rằng các nhân vật vĩ đại trong Cựu Ước đều trông đợi sự giáng lâm của Ngài (Mt 13,16-17; Ga 5,45; 8,56).
Công đồng Vatican II tuyên bố rằng Chúa Kitô là “Đấng Trung Gian và đồng thời cũng là sự viên mãn của toàn bộ mặc khải” (Dei Verbum 2). Mặc khải viên mãn này hiện diện trong Chúa Kitô không chỉ theo cách khách quan nhưng còn cả chủ quan. Mặc khải không nên được coi là thuần túy khách quan và tồn tại bên ngoài tâm trí con người. Ở mức độ hoàn hảo nhất, mặc khải tồn tại trong trí năng nhân loại của Chúa Kitô, là trí năng nắm bắt được những sự thần linh một cách trọn vẹn như những gì mà một trí tuệ hữu hạn có thể nắm bắt. Vì Chúa Giêsu, trong tư cách là con người, tiếp nhận Lời Chúa một cách toàn vẹn và tuyệt đối trung thành với ơn gọi làm chứng của Ngài, nên Ngài đã diễn đạt sứ điệp của Thiên Chúa dành cho nhân loại một cách viên mãn. Ngài đã làm điều này bằng cả lời nói và việc làm. “Vì Chúa Kitô là Ngôi Lời Thiên Chúa, nên chính việc làm của Ngôi Lời cũng là lời đối với chúng ta” [Thánh Augustinô, In Evangelium Iohannis Tractatus 24,2 (Corpus Christianorum. Series latina 36:244)].
Qua giáo huấn và cuộc đời của Chúa Kitô—bao gồm cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh vinh hiển của Ngài—Thiên Chúa đã thông truyền sứ điệp tha thứ và hòa giải của Ngài theo cách độc nhất vô nhị, biểu lộ những thuộc tính vĩnh cửu và thái độ tự do lựa chọn của Ngài đối với con người. Khi nói rằng KHO TÀNG ĐỨC TIN đã được đóng ấn từ thời các Tông đồ, thì điều này không thuần túy mang nghĩa tiêu cực rằng Thiên Chúa đã quyết định sẽ không nói thêm gì nữa. Nhưng nó có một khía cạnh tích cực bởi lẽ Thiên Chúa đã bày tỏ chính mình một cách trọn vẹn trong—biến cố Chúa Kitô—đến nỗi bất cứ sự bổ sung thực sự nào cũng sẽ là thừa thãi. Bất cứ điều gì đến sau đều không có chức năng nào khác ngoài việc soi sáng ý nghĩa cho những gì mà Chúa Kitô đã nói, đã làm và đã là.
Mặc dù các Kitô hữu không trông đợi thêm bất cứ mặc khải công khai nào nữa trong lịch sử (Công đồng Vatican II, Dei Verbum 4), nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm qua con đường minh định. Việc thâm nhập / đào sâu hơn nữa ý nghĩa của kho tàng đức tin là nhiệm vụ không ngừng nghỉ của các nhà thần học và của Giáo Hội (x. H. Denzinger, Enchiridion symbolorum [ấn bản thứ 32, Freiburg 1963] 3020, trích dẫn Thánh Vincent Lerins). Nhưng vì mầu nhiệm là cốt lõi của mặc khải, nên hiểu biết thần học không nhằm mục đích loại bỏ sự mờ tối tất yếu của đức tin hay cố gắng làm cho dữ kiện mặc khải trở nên hiển nhiên đối với lý trí. Bao lâu còn sống ở đời này, thì con người phải bằng lòng bước đi nhờ đức tin, thành kính cúi tâm trí và ý chí của mình xuống trước Lời Chúa. Vào thời cùng tận, đức tin sẽ dẫn đến thị kiến và mặc khải sẽ được nhận biết rõ ràng nhờ sự trợ giúp của ÁNH SÁNG VINH QUANG.
Nội dung của mặc khải. Là nội dung mà Công đồng Vatican I đã mô tả là “Chính Thiên Chúa và các mệnh lệnh vĩnh cửu từ ý muốn của Ngài” (sđd. 3004). Công đồng Vatican II dạy rằng “Thiên Chúa đã muốn mặc khải chính mình và tỏ cho biết thiên ý nhiệm mầu” (Dei Verbum 2). Những kỳ công lớn lao của Thiên Chúa là chủ đề trung tâm của các bản tuyên xưng đức tin được tìm thấy trong Cựu Ước (chẳng hạn như Đnl 7.26) và trong những bài giảng ở thời kỳ Kitô Giáo sơ khai (Cv 2.10). Thông điệp trọng tâm của Cựu Ước là sự giải thoát dân tộc Ítraen khỏi ách nô lệ của người Ai Cập qua ông Môsê; còn của Tân Ước là sự giải thoát nhân loại khỏi cái chết do tội lỗi qua Chúa Giêsu Kitô. Trải qua nhiều thế kỷ, “thần học tường thuật” này dần dần được bổ sung bằng những công thức trừu tượng và mang nghĩa hữu thể luận hơn khi cần dùng để giải quyết những vấn đề nảy sinh ở giai đoạn suy tư sau này. Các tín điều và tuyên bố tín lý kế tiếp của Giáo Hội cho thấy xu hướng này. Theo quan điểm Công Giáo, nội dung khả tri của các tín điều không phải là một sự bổ sung cho mặc khải, nhưng là một khía cạnh đích thực của chính dữ kiện đã được mặc khải (x. sđd. 3011).
Xét cho cùng, người ta không đặt niềm tin vào các sự kiện cứu độ hay giáo lý vì chính chúng, nhưng vào Thiên Chúa là Đấng tự biểu lộ chính mình thông qua chúng. Đối tượng chính yếu của mặc khải là chính Thiên Chúa trong sự xích lại nhưng không của Ngài về phía con người. Vì mặc khải bao gồm yếu tố là cuộc hội ngộ thần linh, nên nó không bao giờ có thể được gói gọn hoàn toàn trong các mệnh đề tín lý (x. sđd. 3886). Nhờ mối quan hệ đức tin của mình với Ánh Sáng Thế Gian (Ga 8,12), người Kitô hữu được đổi mới từ bên trong tâm trí (Rm 12,2).
Giáo Hội và mặc khải. Các Tông đồ có một vị trí độc nhất vô nhị trong LỊCH SỬ CỨU ĐỘ nhờ sự tiếp xúc trực tiếp của các ngài với Ngôi Lời Nhập Thể (1 Ga 1,1) và kinh nghiệm trong ngày Lễ Ngũ Tuần. Giáo Hội thời hậu tông đồ nhận được mặc khải trong tính phụ thuộc vào các ngài thông qua Kinh Thánh và truyền thống. Giáo Hội được ủy thác để gìn giữ, bảo vệ và giải thích nội dung của đức tin, điều chỉnh cách trình bày cho phù hợp với khả năng và nhu cầu của các thời đại kế tiếp. Khi quá trình này diễn ra, những nội dung tiềm ẩn của kho tàng ấy được dần dần hé lộ. Việc làm rõ các tín điều không đơn thuần là vấn đề của suy luận lôgic từ các công thức ban đầu. Nhờ Thần Khí của Chúa Kitô làm cho sống động, Giáo Hội được hưởng một loại “đồng bản tính” với Thiên Chúa của mặc khải và một sự thấu hiểu đặc biệt về lời Ngài. Do đó, khi công bố các tín điều, Giáo hội phát biểu với thẩm quyền ngôn sứ.
Mặc khải bên ngoài Giáo Hội. Do Thái giáo cho đến nay vẫn tiếp tục tuyên xưng mặc khải đã được ban trong Cựu Ước. Hồi giáo chấp nhận một số yếu tố từ Do Thái giáo và Kitô Giáo. Các cộng đoàn Kitô Giáo không thuộc Công Giáo vẫn giữ gìn và giảng dạy phần lớn mặc khải Kitô Giáo và trong chừng mực đó, có thể thông truyền mặc khải đích thực cho các tín hữu của họ. Thông qua sự linh hứng của Thánh Thần, Đấng đang hoạt động giữa họ, các Kitô hữu không thuộc Công Giáo có thể thu được những hiểu biết đúng đắn về Tin Mừng và như thế, góp phần vào sự phát triển của giáo lý. Theo niềm tin Công Giáo, toàn bộ gia sản của Chúa Kitô đã được truyền lại cho Giáo Hội Công Giáo, nên sự hiện diện của chân lý mặc khải trong những niềm tin vừa nêu là mối dây liên kết giữa Công Giáo với họ (x. Công đồng Vatican II, Unitatis Redintegratio, 2-3).
Vậy còn trong các tôn giáo khác, liệu mặc khải có thể hiện diện một cách độc lập với bất cứ ảnh hưởng nào từ các tôn giáo dựa trên Kinh Thánh hay không? Trước đây, phần lớn đều tin rằng các yếu tố của mặc khải nguyên thủy dành cho Ađam hoặc Nôê đã được duy trì trong các tôn giáo ngoài Kitô Giáo, tuy nhiên, nhờ những khám phá ngày nay về nhân loại thời thượng cổ, lý thuyết này đã bị bác bỏ phần lớn. Mặc dù vậy, ít có ai phủ nhận rằng Thiên Chúa, bằng cách nào đó, đã mặc khải chính Ngài cho những người chưa được nghe Tin Mừng. Vì đức tin siêu nhiên là tuyệt đối cần thiết cho ơn cứu độ, nên có vẻ những quan điểm có ý khác đều không thể hoàn toàn phù hợp với ý định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa. Thánh Phaolô dường như cho rằng Thiên Chúa đã mặc khải chính mình cho những người ngoại giáo trong thời của ngài (Cv 14,16; Rm 1,19-20; 2,14-15). Và Thánh Tôma, như mọi người đều biết, khẳng định rằng mỗi người đều có thể thực hiện một hành vi đức tin thuộc loại biện minh khi đạt tới sự trưởng thành về luân lý (x. Summa Theologiae 1a2ae, 89.6). Vì thế, các tôn giáo không thuộc Do Thái giáo có thể là hiện thân cho những suy tư nhất định hướng đến một kinh nghiệm siêu nhiên về Thiên Chúa. Trong Tuyên bố về các tôn giáo ngoài Kitô Giáo, Công đồng Vatican II đã nói về họ như là những gì được xây dựng dựa trên một nhận thức nhất định về Đấng thần linh (Nostra Aetate 2). Không giống như mặc khải Kinh Thánh, những diễn đạt tôn giáo ở những nơi đó không được bảo vệ khỏi sự bóp méo nghiêm trọng. Nhưng nhờ những yếu tố chân lý mà chúng chứa đựng, các tôn giáo không dựa trên Kinh Thánh có thể là những nẻo đường ân sủng dưới sự quan phòng của Thiên Chúa dành cho những người không có cơ hội được nghe Tin Mừng trong sự trình bày chính xác và có sức thuyết phục.
Mặc khải tư. Vì là đối tượng của một bài viết khác, nên mặc khải tư chỉ cần được đề cập ở đây một cách ngắn gọn nhằm chỉ ra sự khác biệt của nó với mặc khải công khai mà chúng ta đã nói đến. Bất cứ điều gì Thiên Chúa đã thông truyền kể từ thời các tông đồ cho những linh hồn có được đặc ân đều không thể bổ sung gì vào kho tàng đức tin Kitô Giáo. Những mặc khải tư thuộc loại này có thể được ban vì lợi ích cá nhân của mỗi người và cũng là để khơi dậy trong các tín hữu lòng trung thành mạnh mẽ hơn đối với Tin Mừng. Thánh Tôma cho rằng mặc khải ngôn sứ, trong chừng mực quy hướng đến giáo lý, đã kết thúc ở các Tông đồ, nhưng trong chừng mực hướng dẫn hành động của con người, mặc khải ấy sẽ luôn luôn tiếp tục (Summa Theologiae 2a2ae, 174,6 ad 3). Trước những mối nguy hiểm của sự lừa lọc, gian dối, phóng đại và những điều tương tự, các tường thuật về mặc khải tư nên được xử lý một cách thận trọng. Giáo Hội không bao giờ dạy rằng nội dung của chúng phải được chấp nhận trên cơ sở đức tin thần linh, nhưng đôi khi, Giáo Hội cũng xác nhận rằng chúng không chứa đựng điều gì đó trái với đức tin và luân lý lành mạnh.
Tính có thể chứng minh của mặc khải. Như Công đồng Vatican I và Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên bố trong Thông điệp FIDES ET RATIO, Thiên Chúa đã cung cấp đủ các dấu chỉ bên ngoài để làm cho sự tán đồng bằng đức tin hoàn toàn có lý lẽ. Mặc dù không thể đưa ra bằng chứng chắc chắn về chân lý của Kitô Giáo, nhưng lý trí vẫn có thể chuẩn bị và hỗ trợ cho quyết định của đức tin. Triết học có thể chỉ ra rằng ý niệm về mặc khải là không hề phi lý. Tại sao Thiên Chúa lại không thể giao tiếp với con người? Xét đến tình trạng thực tế của con người, như lịch sử nhân loại và kinh nghiệm cá nhân đã chứng minh, một—mặc khải chắc chắn—sẽ là nguồn khích lệ và chỉ dẫn lớn lao cho con người trên cuộc lữ hành trần thế; điều đó dường như hoàn toàn xứng hợp với một vị Thiên Chúa nhân từ.
Triết học về tôn giáo có thể phần nào xác định dạng thức mà một mặc khải thần linh có thể được mong đợi. Thiên Chúa chắc chắn sẽ điều chỉnh mặc khải của Ngài cho phù hợp với bản tính của con người; Ngài sẽ nói để con người có thể nghe. Nhưng con người tự bản tính là một hữu thể lịch sử và xã hội. Anh ta tự hoàn thiện mình thông qua những hành động tự do của cá nhân diễn ra theo thời gian, chất vấn về kinh nghiệm của những người đương thời và của tổ tiên mình. Do đó, có vẻ như Thiên Chúa sẽ giao tiếp với con người theo cách thức xã hội và lịch sử—thông qua các biểu tượng không-thời gian (lời nói) được ban cho và lưu truyền trong lịch sử. Vì thế,—người tra vấn có niềm tin tôn giáo—nên hướng đến lịch sử để tìm kiếm những dấu chỉ cho thấy liệu Thiên Chúa có từng phán dạy hay không.
Khoa biện giáo có thể đưa cuộc điều tra này tiến thêm một bước nữa. Nó có thể đánh giá giá trị của các dấu chỉ khác nhau cho tính khả tín và cho thấy sự khôn ngoan của niềm tin. Nhưng nếu xét đến tính chất phức tạp của các bằng chứng, nội dung gây kinh ngạc và đầy mầu nhiệm của sứ điệp Kitô Giáo cùng với những đòi hỏi nặng nề mà nó đặt ra trước bản tính sa ngã của con người, thì biện giáo khó lòng có thể đưa một người nào đó đến chỗ tuyên xưng đức tin Kitô Giáo. Sự tán đồng vững chắc của—đức tin hữu ích cho ơn cứu độ—không trực tiếp đến từ các lập luận cho tính khả tín, nhưng đến từ ân sủng của Thiên Chúa.
Tham khảo
Avery Dulles, S.J., The New Catholic Encyclopedia, 2nd edition