tôn giáo (religion)
Karl Rahner, S.J.
Nghĩa gốc của từ này không chắc chắn: nó có thể bắt nguồn từ relegere (xem xét lại), religari (tự ràng buộc), hoặc re-eligere (lựa chọn lại) trong tiếng Latinh.
Trong Tiếng Việt, tông giáo (宗教), do kỵ húy vua Thiệu Trị / Nguyễn Phúc Miên Tông, nên đọc trại thành tôn giáo (尊教). Tông là tổ tiên, gốc rễ, nguồn cội, dòng/phái; tôn là kính trọng, tôn kính; giáo là dạy dỗ, giáo huấn. (Ghi chú của người dịch.)
Khi sử dụng, tôn giáo thường được định nghĩa là “sự giao thiệp hay quan hệ với cái linh thiêng / thánh thiêng”, và theo nghĩa rộng nhất, nó có thể bao gồm cả các hành vi tôn giáo mang tính suy lý, mỹ học và đạo đức. Theo thánh Tôma Aquinô, nhiệm vụ của tôn giáo là duy trì sự quy hướng về Thiên Chúa của con người; danh hiệu “tôn giáo” được gán cho tất cả những người quan tâm đến Đấng là nền tảng và mục đích của thế giới mà chúng ta gọi là Thiên Chúa. Tôn giáo theo nghĩa chặt chẽ hơn có nghĩa là sự thờ phượng Thiên Chúa phát sinh từ mối quan tâm và suy tư đó và cũng mang một chiều kích xã hội. Định nghĩa chung này về tôn giáo không tính đến việc liệu mối quan hệ của Thiên Chúa với nhân loại có phải là sự tự mặc khải chính mình hay không, liệu chính Ngài có tạo điều kiện để con người có thể lắng nghe lời Ngài và liệu Ngài đã thể hiện sự tự mặc khải của mình một cách lịch sử và không thể đảo ngược trong Chúa Giêsu hay không. Những khẳng định cơ sở của niềm tin Kitô Giáo chắc chắn bao gồm những khía cạnh giúp phân biệt Kitô Giáo với các tôn giáo khác một cách nền tảng và do đó, đặt ra vấn đề về tính hợp lệ của việc hiểu và phân loại Kitô Giáo như một tôn giáo (xem quan điểm của Karl Barth về Kitô Giáo xét như một sự xét đoán đối với tất cả các tôn giáo dưới tư cách là những sự sáng tạo của con người nhằm biện minh và khẳng định bản thân trước Thiên Chúa). Những đánh giá tích cực gần đây hơn về tôn giáo xem nó như là sự thể hiện cụ thể cho tính siêu việt vô hạn của con người, là sự thể hiện giá trị tuyệt đối của hy vọng, nhu cầu chân thật và khát vọng vô biên của con người.
Sự phê bình hiện đại đối với tôn giáo từ bên ngoài có liên hệ đến mối tương quan giữa tôn giáo với thế giới. Nhìn chung, tôn giáo bị cáo buộc là thù địch với khoa học, một trở ngại trên con đường giải phóng và sự phát triển của nền dân chủ, một ý thức sai lầm và một loại chủ nghĩa chủ quan. Trong tất cả các xã hội tôn giáo, kể cả Giáo Hội, sự phê bình tôn giáo từ bên trong (vốn đã tồn tại trong truyền thống Do Thái-Kitô Giáo kể từ thời các ngôn sứ) chủ yếu xuất hiện dưới hình thức xung đột giữa các yếu tố thừa tác và đặc sủng. Trong Kitô Giáo Tin Lành, khởi từ Dietrich Bonhoeffer, có một xu hướng bác bỏ thuyết hữu thần khi coi nó là (1) yêu sách đặt Thiên Chúa là lời giải thích cho thế giới, là (2) xác quyết rằng Thiên Chúa cai quản thế giới một cách tích cực bằng sự quan phòng, là (3) sự ủng hộ mang tính ý thức hệ cho nguyên trạng [status quo], và do đó, là hiện thân về mặt trí tuệ của tôn giáo.
Để thay thế nó, họ đưa ra một đức tin “tinh tuyền”—thường không có phụng vụ hay cầu nguyện chính thức, và đặc biệt là không có thừa tác vụ thế tục—của một “Kitô Giáo phi tôn giáo” trong tình đoàn kết với tất cả những người chịu đau khổ và áp bức. Quan điểm này không thể bị buộc tội là quay trở lại với việc kiểm chứng đức tin bằng việc làm, nhưng cần làm rõ cho những người theo quan điểm này rằng chính sự tồn tại của nó cũng là nhờ vào truyền thống của một tôn giáo có tổ chức, đồng thời, chính nó vẫn chịu sự thôi thúc cố hữu không thể chối bỏ để mang lấy biểu hiện của một xã hội cụ thể, và do đó, không thể tránh khỏi việc lại trở thành một xã hội tôn giáo thêm lần nữa.
Tự do tôn giáo
Là tự do của con người được làm theo lương tâm của mình trong việc nhìn nhận / thừa nhận bất cứ “tôn giáo” nào hoặc không có “tôn giáo” nào, và được bày tỏ công khai sự thừa nhận này đến mức không gây hại cho người khác. Quyền con người về tự do tôn giáo không chỉ mở rộng đến các cá nhân mà còn đến các cộng đồng tôn giáo. Quyền tự do tôn giáo bắt nguồn từ quyền tự do nói chung; nó không liên quan đến “chân lý” hay “sai lầm” của bất kỳ tôn giáo cụ thể nào; tất cả những gì nó quan tâm là mối quan hệ trong các vấn đề tôn giáo giữa các cá nhân và cộng đoàn, và mặt khác, trong xã hội xét như một toàn thể, cách đặc biệt là giữa các chính quyền. Cho đến thời Đức Giáo Hoàng Piô XII, Giáo Hội Công Giáo vẫn giữ quan điểm rằng vấn đề tự do tôn giáo tất yếu phải gắn liền với vấn đề chân lý và chân lý được ưu tiên hơn tự do. Chỉ đến thời Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (Thông điệp Pacem in terris [Bình an dưới thế], 1963) và Công đồng Vatican II, Giáo Hội mới chính thức chấp nhận tự do tôn giáo. Trong tuyên bố của mình, Công đồng đã định nghĩa tự do tôn giáo là sự tự do khỏi bất cứ hình thái cưỡng chế nào trong các vấn đề tín ngưỡng (Tuyên ngôn về Tự do tôn giáo, 2; giới hạn của tự do tôn giáo được đặt ra bởi các yêu cầu của trật tự công cộng, sđd., 7); theo Công đồng Vatican II, tất cả các cộng đồng tôn giáo đều có quyền bình đẳng và không cộng đồng tôn giáo nào được phép sử dụng các phương pháp truyền đạo bất công (sđd., 4). Công đồng tìm thấy cơ sở thần học cho tự do tôn giáo trong lời kêu gọi mà Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài đưa ra về sự tự do của con người (sđd., 9, 11).
Tham khảo
Karl Rahner S.J., Dictionary of Theology, 2nd edition