Đề mục 11. Thi hành bản án (Điều 1650 – 1655)

Điều 1650

§1. Một bản án đã trở thành vấn đề quyết tụng có thể được thi hành, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1647.

§2. Thẩm phán đã ban hành bản án và, nếu có kháng án, cả thẩm phán tòa kháng cáo có thể chiếu theo chức vụ hoặc do lời thỉnh cầu của một bên, ra lệnh thi hành tạm thời một bản án chưa trở thành vấn đề quyết tụng, miễn là thiết lập những bảo chứng thích hợp, nếu xét thấy cần thiết, trong trường hợp vấn đề có liên quan đến tiền bảo chứng hay tiền cấp dưỡng bảo đảm cho việc sinh sống cần thiết, hoặc vì một lý do chính đáng nào khác.

§3. Nếu bản án nói ở §2 bị chống đối, thẩm phán nào có nhiệm vụ cứu xét việc chống đối ấy, khi thấy việc kháng án có cơ sở hữu lý và việc thi hành bản án có nguy cơ gây ra một sự thiệt hại không thể sửa chữa được, thì có thể đình hoãn chính việc thi hành hoặc cho thi hành bản án với điều kiện phải nộp một khoản tiền bảo chứng.

Điều 1651

Không thể thi hành bản án trước khi thẩm phán ra một sắc lệnh có hiệu lực truyền phải thi hành bản án; tùy theo bản chất khác nhau của các vụ án, sắc lệnh này được bao gồm trong chính bản án hoặc được ban hành riêng.

Điều 1652

Nếu việc thi hành bản án buộc phải xuất trình sổ sách trước, thì một vấn đề phụ được đặt ra, và phải được giải quyết do chính thẩm phán đã ban hành bản án với lệnh phải thi hành.

Điều 1653

§1. Trừ khi luật địa phương ấn định cách khác, Giám Mục giáo phận tại nơi đã ban hành bản án cấp một phải đích thân ra lệnh thi hành bản án hoặc phải nhờ một người khác.

§2. Nếu Giám mục giáo phận từ chối hay lơ là, do sự yêu cầu của bên có liên quan hoặc chiếu theo chức vụ, thì việc ra lệnh thi hành bản án thuộc về nhà chức trách mà tòa kháng cáo lệ thuộc, chiếu theo quy tắc của điều 1439 §3.

§3. Đối với các tu sĩ, Bề Trên nào đã ban hành bản án buộc phải thi hành, hoặc đã ủy quyền cho thẩm phán, thì có bổn phận ra lệnh thi hành bản án.

Điều 1654

§1. Người thi hành phải bảo đảm rằng chính bản án sẽ được thi hành sát nghĩa của từ ngữ, trừ khi chính nội dung của bản án cho phép người ấy được tự do định đoạt phần nào.

§2. Người thi hành có quyền cứu xét những khước biện liên quan đến cách thức và hiệu lực của việc thi hành, nhưng không có quyền cứu xét lý lẽ phải trái của vụ án; vả lại, nếu người ấy biết rằng bản án vô hiệu hay bất công tỏ tường, chiếu theo quy tắc của các điều 1620, 1622, 1645, thì được miễn thi hành và phải trao sự việc lại cho tòa đã ban hành bản án, sau khi đã thông báo cho các bên biết.

Điều 1655

§1. Về phương diện tố quyền đối vật, mỗi khi một đồ vật đã được xét xử là thuộc về nguyên cáo, đồ vật ấy phải được trao cho nguyên cáo ngay sau khi xảy ra vấn đề quyết tụng.

§2. Về phương diện tố quyền đối nhân, khi bị cáo đã bị buộc phải trao một động sản, phải trả một món tiền, phải cho hay phải làm một việc gì khác, thì thẩm phán trong chính bản án, hoặc người thi hành, theo sự định đoạt tự do và theo sự khôn ngoan của mình, phải ấn định một hạn kỳ để chu toàn nghĩa vụ, nhưng hạn kỳ này không được dưới mười lăm ngày và không được quá sáu tháng.