CHƯƠNG II: TÔI TIN KÍNH MỘT CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ, CON MỘT THIÊN CHÚA (422–682)

Mục Lục Mục Lục

GIÁO LÝ CÔNG GIÁO

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

TÔNG HIẾN FIDEI DEPOSITUM

LỜI MỞ ĐẦU (1–25)

PHẦN THỨ NHẤT (26–1065)

TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

ĐOẠN THỨ NHẤT: “TÔI TIN” – “CHÚNG TÔI TIN” (26–184)

CHƯƠNG I: CON NGƯỜI “CÓ KHẢ NĂNG” ĐÓN NHẬN THIÊN CHÚA (27–49)

CHƯƠNG II: THIÊN CHÚA ĐẾN GẶP CON NGƯỜI (50–141)

Mục 1: Mặc Khải của Thiên Chúa (51–73)

Mục 2: Sự lưu truyền Mặc Khải của Thiên Chúa (74–100)

Mục 3: Thánh Kinh (101–141)

CHƯƠNG III: CON NGƯỜI ĐÁP LỜI THIÊN CHÚA (142–184)

Mục 1: Tôi tin (144–165)

Mục 2: Chúng tôi tin (166–184)

TÍN BIỂU

ĐOẠN THỨ HAI: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN KI-TÔ GIÁO (185–1065)

CHƯƠNG I: “TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA” (198–421)

Mục 1: “Tôi tin kính Đức Chúa Trời, là Cha phép tắc vô cùng, dựng nên trời đất” (199–421)

Tiết 1: Tôi tin kính Đức Chúa Trời (199–231)

Tiết 2: Chúa Cha (232–267)

Tiết 3: Đấng Toàn Năng (268–278)

Tiết 4: Đấng Tạo Hóa (279–324)

Tiết 5: Trời và đất (325–354)

Tiết 6: Con người (355–384)

Tiết 7: Sự sa ngã (385–421)

CHƯƠNG II: TÔI TIN KÍNH MỘT CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ, CON MỘT THIÊN CHÚA (422–682)

Mục 2: “Tôi tin kính Đức Chúa Giê-su Ki-tô, là Con Một Đức Chúa Cha, cùng là Chúa chúng tôi” (430–455)

Mục 3: Chúa Giê-su Ki-tô “bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi bà Ma-ri-a đồng trinh” (456–570)

Tiết 1: Con Thiên Chúa làm người (456–483)

Tiết 2: “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi bà Ma-ri-a đồng trinh” (484–511)

Tiết 3: Các mầu nhiệm của cuộc đời Đức Ki-tô (512–570)

Mục 4: Chúa Giê-su Ki-tô đã “chịu nạn đời quan Phong-xi-ô Phi-la-tô, chịu đóng đinh trên cây thánh giá, chết và táng xác” (571–630)

Tiết 1: Chúa Giê-su và Ít-ra-en (574–594)

Tiết 2: Chúa Giê-su “chịu đóng đinh trên cây thánh giá, chết” (595–623)

Tiết 3: Chúa Giê-su Ki-tô được “táng xác” (624–630)

Mục 5: Chúa Giê-su Ki-tô “xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại” (631–658)

Tiết 1: Đức Ki-tô “xuống ngục tổ tông” (632–637)

Tiết 2: “Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại” (638–658)

Mục 6: Chúa Giê-su “lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng” (659–667)

Mục 7: “Ngày sau bởi trời”, Người “lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết” (668–682)

CHƯƠNG III: TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN (683–1065)

Mục 8: “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần” (687–747)

Mục 9: “Tôi tin Hội Thánh Công Giáo” (748–975)

Tiết 1: Hội Thánh trong kế hoạch của Thiên Chúa (751–780)

Tiết 2: Hội Thánh – Dân Thiên Chúa, Thân Thể Đức Ki-tô, Đền Thờ Chúa Thánh Thần (781–810)

Tiết 3: Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền (811–870)

Tiết 4: Các Ki-tô hữu: Phẩm trật, giáo dân, đời sống thánh hiến (871–945)

Tiết 5: “Các Thánh thông công” (946–962) [1474–1477]

Tiết 6: Đức Ma-ri-a – Mẹ Đức Ki-tô, Mẹ Hội Thánh (963–975)

Mục 10: “Tôi tin phép tha tội” (976–987)

Mục 11: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại” (988–1019)

Mục 12: “Tôi tin hằng sống vậy” (1020–1060)

“Amen” (1061–1065)

PHẦN THỨ BA (1691–2557)

ĐỜI SỐNG TRONG ĐỨC KI-TÔ

ĐOẠN THỨ NHẤT: ƠN GỌI CỦA CON NGƯỜI: SỐNG TRONG THẦN KHÍ (1699–2051)

CHƯƠNG I: PHẨM GIÁ CỦA NHÂN VỊ (1700–1876)

Mục 1: Con người là hình ảnh của Thiên Chúa (1701–1715)

Mục 2: Ơn gọi của chúng ta là đến hưởng vinh phúc (1716–1729)

Mục 3: Sự tự do của con người (1730–1748)

Mục 4: Tính luân lý của các hành vi nhân linh (1749–1761)

Mục 5: Tính luân lý của các đam mê (1762–1775)

Mục 6: Lương tâm luân lý (1776–1802)

Mục 7: Các nhân đức (1803–1845)

Mục 8: Tội lỗi (1846–1876)

CHƯƠNG II: CỘNG ĐỒNG NHÂN LOẠI (1877–1948)

Mục 1: Cá vị và xã hội (1878–1896)

Mục 2: Sự tham gia vào đời sống xã hội (1897–1927)

Mục 3: Công bằng xã hội (1928–1948)

CHƯƠNG III: ƠN CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA: LỀ LUẬT VÀ ÂN SỦNG (1949–2051)

Mục 1: Luật luân lý (1950–1986)

Mục 2: Ân sủng và sự công chính hóa (1987–2029)

Mục 3: Hội Thánh, Mẹ và Thầy (2030–2051)

MƯỜI ĐIỀU RĂN

ĐOẠN THỨ HAI: MƯỜI ĐIỀU RĂN (2052–2557)

CHƯƠNG I: “NGƯƠI PHẢI YÊU MẾN CHÚA, THIÊN CHÚA CỦA NGƯƠI, HẾT LÒNG, HẾT LINH HỒN VÀ HẾT TRÍ KHÔN NGƯƠI” (2083–2195)

Mục 1: Điều răn thứ nhất (2084–2141)

Mục 2: Điều răn thứ hai (2142–2167)

Mục 3: Điều răn thứ ba (2168–2195)

CHƯƠNG II: “NGƯƠI PHẢI YÊU THƯƠNG NGƯỜI LÂN CẬN NHƯ CHÍNH MÌNH” (2196–2557)

Mục 4: Điều răn thứ tư (2197–2257)

Mục 5: Điều răn thứ năm (2258–2330)

Mục 6: Điều răn thứ sáu (2331–2400)

Mục 7: Điều răn thứ bảy (2401–2463)

Mục 8: Điều răn thứ tám (2464–2513)

Mục 9: Điều răn thứ chín (2514–2533)

Mục 10: Điều răn thứ mười (2534–2557)

Tin Mừng: Thiên Chúa đã sai Con mình tới (422–424)

422389, 2763

“Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ và sống dưới Lề luật, để chuộc những ai sống dưới Lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4,4-5). Đây là Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa:1 Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài.2 Ngài đã thực hiện những lời hứa với tổ phụ Áp-ra-ham và con cháu ông.3 Ngài đã thực hiện vượt quá mọi điều chúng ta mong ước: Ngài đã sai Con yêu dấu của Ngài tới.4

423

Chúng tôi tin và chúng tôi tuyên xưng rằng: Chúa Giê-su Na-da-rét, một người Do-thái sinh bởi một phụ nữ Ít-ra-en tại Bêlem dưới thời vua Hê-rô-đê Cả và hoàng đế Xê-daê Augustô I, vốn làm nghề thợ mộc, đã chịu chết trên thập giá tại Giê-ru-sa-lem, thời tổng trấn Phongtiô Phi-la-tô dưới triều hoàng đế Tibêriô, Chúa Giê-su ấy là Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, đã làm người, “Người bởi Thiên Chúa mà đến” (Ga 13,3), là “Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13; 6,33), Đấng đã đến trong xác phàm,5 bởi vì “Ngôi Lời đã trở nên người phàm, và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,14.16).

424683, 552

Được tác động bởi ân sủng Chúa Thánh Thần và được Chúa Cha lôi kéo, chúng tôi tin và tuyên xưng về Chúa Giê-su rằng: “Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt l6,l6). Trên tảng đá đức tin, mà ông Phê-rô đã tuyên xưng, Đức Ki-tô đã xây dựng Hội Thánh của Người.6

“Loan báo Tin Mừng về sự phong phú khôn lường của Đức Ki-tô” (Ep 3,8) (425)

425850, 858

Lưu truyền đức tin Ki-tô Giáo, trước tiên là loan báo Chúa Giê-su Ki-tô, để dẫn đưa người ta đến chỗ tin vào Người. Ngay từ đầu, các môn đệ tiên khởi đã khao khát loan báo Đức Ki-tô: “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” (Cv 4,20). Các ông đã kêu mời con người trong mọi thời đại vào hưởng niềm vui hiệp thông với Đức Ki-tô:

“Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời Sự Sống. Quả vậy, sự sống đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời: sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay đã được tỏ bày cho chúng tôi. Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Chúa Giê-su Ki-tô, Con của Ngài. Những điều này, chúng tôi viết ra để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn” (1 Ga 1,1-4).

Trọng tâm của việc dạy giáo lý: Đức Ki-tô (426–429)

4261698, 513, 260

“Phải xác quyết ngay rằng, ở trung tâm của việc dạy giáo lý, chủ yếu chúng ta gặp một nhân vật: đó là Chúa Giê-su Ki-tô Na-da-rét, ‘Con Một của Chúa Cha’… Người đã chịu khổ hình và đã chịu chết vì chúng ta; và Người, từ khi sống lại, luôn luôn sống với chúng ta… Dạy giáo lý là giúp người ta nhận ra toàn bộ kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa trong con người Đức Ki-tô; là tìm hiểu ý nghĩa các hành động và lời nói của Đức Ki-tô, và các dấu lạ Người đã thực hiện.”7 Mục đích của việc dạy giáo lý là “dẫn đưa con người đến hiệp thông với Chúa Giê-su Ki-tô; chỉ một mình Người mới có thể dẫn người ta đến tình yêu của Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần và đến chỗ được thông phần vào sự sống của Ba Ngôi Chí Thánh.”8

4272145, 876

“Trong việc dạy giáo lý, phải giảng dạy Đức Ki-tô, là Ngôi Lời nhập thể và là Con Thiên Chúa, những điều khác phải được quy chiếu về Người; chỉ một mình Đức Ki-tô giảng dạy, còn bất cứ ai khác giảng dạy đều phải là phát ngôn viên của Người, phải để Đức Ki-tô nói qua miệng lưỡi họ… Mọi giáo lý viên đều phải có thể áp dụng cho mình lời nói huyền nhiệm này của Chúa Giê-su: ‘Đạo lý tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi’” (Ga 7,l6).9

428

Ai được kêu gọi rao giảng Tin Mừng Đức Ki-tô, trước hết phải tìm “mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Ki-tô”; người ấy phải “đành mất hết”, “để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người”, và để “biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết” (Pl 3,8-11).

429851

Từ việc nhận biết Đức Ki-tô với tâm tình yêu mến, sẽ nảy sinh ước ao loan báo Người, ước ao “rao giảng Tin Mừng” về Người, và ước ao dẫn đưa người khác đến chỗ “chấp nhận” đức tin vào Chúa Giê-su Ki-tô. Nhưng đồng thời, người ta cũng cảm thấy nhu cầu phải luôn hiểu biết đức tin ấy một cách tốt hơn. Nhằm mục đích đó, theo thứ tự của Tín biểu, trước hết các tước hiệu chính của Chúa Giê-su sẽ được trình bày: Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Chúa (Mục 2). Tiếp đó Tín biểu tuyên xưng các mầu nhiệm chính yếu của cuộc đời Đức Ki-tô: các mầu nhiệm về việc Nhập Thể của Người (Mục 3), các mầu nhiệm về cuộc Vượt Qua của Người (Mục 4 và 5) và sau cùng các mầu nhiệm về sự Tôn Vinh Người (Mục 6 và 7).


Mục lục


Chú thích

1 X. Mc 1,1.

2 X. Lc 1,68.

3 X. Lc 1,55.

4 X. Mc 1,11.

5 X. 1 Ga 4,2.

6 X. Mt 16,18; Thánh Lê-ô Cả, Sermo 4, 3: CCL 88,19-20 (PL 54,151); Sermo 51,1: CCL 88A, 296-297 (PL 54,309); Sermo 62, 2: CCL 88A, 377-378 (PL 54,350-351); Sermo 83, 3: CCL 88A, 521-522 (PL 54,432).

7 ĐGH Gio-an Phao-lô II, Tông huấn Catechesi tradendae, 5: AAS 71 (1979) 1280-1281.

8 ĐGH Gio-an Phao-lô II, Tông huấn Catechesi tradendae, 5: AAS 71 (1979) 1281.

9 ĐGH Gio-an Phao-lô II, Tông huấn Catechesi tradendae, 6: AAS 71 (1979) 1281-1282.

Mục Lục Mục Lục