PHẦN THỨ HAI: CỬ HÀNH MẦU NHIỆM KI-TÔ GIÁO (1066–1690)

Mục Lục Mục Lục

GIÁO LÝ CÔNG GIÁO

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

TÔNG HIẾN FIDEI DEPOSITUM

LỜI MỞ ĐẦU (1–25)

PHẦN THỨ NHẤT (26–1065)

TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

ĐOẠN THỨ NHẤT: “TÔI TIN” – “CHÚNG TÔI TIN” (26–184)

CHƯƠNG I: CON NGƯỜI “CÓ KHẢ NĂNG” ĐÓN NHẬN THIÊN CHÚA (27–49)

CHƯƠNG II: THIÊN CHÚA ĐẾN GẶP CON NGƯỜI (50–141)

Mục 1: Mặc Khải của Thiên Chúa (51–73)

Mục 2: Sự lưu truyền Mặc Khải của Thiên Chúa (74–100)

Mục 3: Thánh Kinh (101–141)

CHƯƠNG III: CON NGƯỜI ĐÁP LỜI THIÊN CHÚA (142–184)

Mục 1: Tôi tin (144–165)

Mục 2: Chúng tôi tin (166–184)

TÍN BIỂU

ĐOẠN THỨ HAI: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN KI-TÔ GIÁO (185–1065)

CHƯƠNG I: “TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA” (198–421)

Mục 1: “Tôi tin kính Đức Chúa Trời, là Cha phép tắc vô cùng, dựng nên trời đất” (199–421)

Tiết 1: Tôi tin kính Đức Chúa Trời (199–231)

Tiết 2: Chúa Cha (232–267)

Tiết 3: Đấng Toàn Năng (268–278)

Tiết 4: Đấng Tạo Hóa (279–324)

Tiết 5: Trời và đất (325–354)

Tiết 6: Con người (355–384)

Tiết 7: Sự sa ngã (385–421)

CHƯƠNG II: TÔI TIN KÍNH MỘT CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ, CON MỘT THIÊN CHÚA (422–682)

Mục 2: “Tôi tin kính Đức Chúa Giê-su Ki-tô, là Con Một Đức Chúa Cha, cùng là Chúa chúng tôi” (430–455)

Mục 3: Chúa Giê-su Ki-tô “bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi bà Ma-ri-a đồng trinh” (456–570)

Tiết 1: Con Thiên Chúa làm người (456–483)

Tiết 2: “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi bà Ma-ri-a đồng trinh” (484–511)

Tiết 3: Các mầu nhiệm của cuộc đời Đức Ki-tô (512–570)

Mục 4: Chúa Giê-su Ki-tô đã “chịu nạn đời quan Phong-xi-ô Phi-la-tô, chịu đóng đinh trên cây thánh giá, chết và táng xác” (571–630)

Tiết 1: Chúa Giê-su và Ít-ra-en (574–594)

Tiết 2: Chúa Giê-su “chịu đóng đinh trên cây thánh giá, chết” (595–623)

Tiết 3: Chúa Giê-su Ki-tô được “táng xác” (624–630)

Mục 5: Chúa Giê-su Ki-tô “xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại” (631–658)

Tiết 1: Đức Ki-tô “xuống ngục tổ tông” (632–637)

Tiết 2: “Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại” (638–658)

Mục 6: Chúa Giê-su “lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng” (659–667)

Mục 7: “Ngày sau bởi trời”, Người “lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết” (668–682)

CHƯƠNG III: TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN (683–1065)

Mục 8: “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần” (687–747)

Mục 9: “Tôi tin Hội Thánh Công Giáo” (748–975)

Tiết 1: Hội Thánh trong kế hoạch của Thiên Chúa (751–780)

Tiết 2: Hội Thánh – Dân Thiên Chúa, Thân Thể Đức Ki-tô, Đền Thờ Chúa Thánh Thần (781–810)

Tiết 3: Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền (811–870)

Tiết 4: Các Ki-tô hữu: Phẩm trật, giáo dân, đời sống thánh hiến (871–945)

Tiết 5: “Các Thánh thông công” (946–962) [1474–1477]

Tiết 6: Đức Ma-ri-a – Mẹ Đức Ki-tô, Mẹ Hội Thánh (963–975)

Mục 10: “Tôi tin phép tha tội” (976–987)

Mục 11: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại” (988–1019)

Mục 12: “Tôi tin hằng sống vậy” (1020–1060)

“Amen” (1061–1065)

PHẦN THỨ BA (1691–2557)

ĐỜI SỐNG TRONG ĐỨC KI-TÔ

ĐOẠN THỨ NHẤT: ƠN GỌI CỦA CON NGƯỜI: SỐNG TRONG THẦN KHÍ (1699–2051)

CHƯƠNG I: PHẨM GIÁ CỦA NHÂN VỊ (1700–1876)

Mục 1: Con người là hình ảnh của Thiên Chúa (1701–1715)

Mục 2: Ơn gọi của chúng ta là đến hưởng vinh phúc (1716–1729)

Mục 3: Sự tự do của con người (1730–1748)

Mục 4: Tính luân lý của các hành vi nhân linh (1749–1761)

Mục 5: Tính luân lý của các đam mê (1762–1775)

Mục 6: Lương tâm luân lý (1776–1802)

Mục 7: Các nhân đức (1803–1845)

Mục 8: Tội lỗi (1846–1876)

CHƯƠNG II: CỘNG ĐỒNG NHÂN LOẠI (1877–1948)

Mục 1: Cá vị và xã hội (1878–1896)

Mục 2: Sự tham gia vào đời sống xã hội (1897–1927)

Mục 3: Công bằng xã hội (1928–1948)

CHƯƠNG III: ƠN CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA: LỀ LUẬT VÀ ÂN SỦNG (1949–2051)

Mục 1: Luật luân lý (1950–1986)

Mục 2: Ân sủng và sự công chính hóa (1987–2029)

Mục 3: Hội Thánh, Mẹ và Thầy (2030–2051)

MƯỜI ĐIỀU RĂN

ĐOẠN THỨ HAI: MƯỜI ĐIỀU RĂN (2052–2557)

CHƯƠNG I: “NGƯƠI PHẢI YÊU MẾN CHÚA, THIÊN CHÚA CỦA NGƯƠI, HẾT LÒNG, HẾT LINH HỒN VÀ HẾT TRÍ KHÔN NGƯƠI” (2083–2195)

Mục 1: Điều răn thứ nhất (2084–2141)

Mục 2: Điều răn thứ hai (2142–2167)

Mục 3: Điều răn thứ ba (2168–2195)

CHƯƠNG II: “NGƯƠI PHẢI YÊU THƯƠNG NGƯỜI LÂN CẬN NHƯ CHÍNH MÌNH” (2196–2557)

Mục 4: Điều răn thứ tư (2197–2257)

Mục 5: Điều răn thứ năm (2258–2330)

Mục 6: Điều răn thứ sáu (2331–2400)

Mục 7: Điều răn thứ bảy (2401–2463)

Mục 8: Điều răn thứ tám (2464–2513)

Mục 9: Điều răn thứ chín (2514–2533)

Mục 10: Điều răn thứ mười (2534–2557)

Bức bích họa trong hầm mộ các Thánh Marcellinus và Phê-rô, Rô-ma, từ đầu thế kỷ IV. Khung cảnh này mô tả cuộc gặp gỡ của Chúa Giê-su với người phụ nữ bị băng huyết. Người phụ nữ khổ sở nhiều năm này đã được chữa lành khi chạm vào áo choàng của Chúa Giê-su nhờ năng lực “phát xuất từ Người” (x. Mc 5,25–34).

Các bí tích của Hội Thánh giờ đây tiếp tục các công việc mà Chúa Ki-tô đã thực hiện trong cuộc đời trần thế của Người (x. §1115). Các bí tích giống như “năng lực phát xuất” từ Thân Thể Chúa Ki-tô để chữa lành những vết thương tội lỗi và ban cho chúng ta sự sống mới của Chúa Ki-tô (x. §1116).

Do đó, bức ảnh này tượng trưng cho năng lực thiêng liêng và quyền năng cứu độ của Con Thiên Chúa, Đấng chữa lành con người toàn diện, bao gồm linh hồn và thể xác, qua đời sống bí tích.

Tại sao có phụng vụ? (1066–1068)

106650, 236

Trong Tín biểu, Hội Thánh tuyên xưng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và “thiên ý nhiệm mầu là kế hoạch yêu thương” (Ep 1,9) của Ngài đối với tất cả các thụ tạo: Chúa Cha hoàn tất “thiên ý nhiệm mầu” của Ngài khi ban Con yêu dấu và Thánh Thần Ngài để cứu độ trần gian và để tôn vinh Danh Ngài. Đó là mầu nhiệm của Đức Ki-tô1 được mặc khải và thực hiện trong lịch sử, theo một kế hoạch, một “sự an bài” được tổ chức cách khôn ngoan mà thánh Phao-lô gọi là “mầu nhiệm Thiên Chúa đã an bài” (Ep 3,9) và truyền thống giáo phụ gọi là “Nhiệm cục của Ngôi Lời Nhập Thể” hay “Nhiệm cục cứu độ.”

1067571

“Công trình cứu chuộc nhân loại và tôn vinh Thiên Chúa cách trọn hảo này, đã được tiên báo trong Cựu Ước qua những công trình vĩ đại của Chúa, nay được Đức Ki-tô thực hiện, đặc biệt bằng mầu nhiệm Vượt Qua, nghĩa là bằng cuộc tử nạn hồng phúc, sự sống lại từ cõi chết và lên trời vinh hiển của Người; qua đó, ‘Người đã chết để tiêu diệt sự chết của chúng ta và sống lại để tái lập sự sống’. Chính từ cạnh sườn Đức Ki-tô an nghỉ trên thập giá mà bí tích kỳ diệu của toàn thể Hội Thánh đã được phát sinh.”2 Vì vậy, trong phụng vụ, Hội Thánh chủ yếu cử hành mầu nhiệm Vượt Qua, qua mầu nhiệm đó Đức Ki-tô đã thực hiện công trình cứu độ chúng ta.

1068

Hội Thánh loan báo và cử hành mầu nhiệm này của Đức Ki-tô trong phụng vụ của mình, để các tín hữu được sống nhờ mầu nhiệm đó và làm chứng cho mầu nhiệm đó trong trần gian:

“Nhờ phụng vụ, nhất là trong hy tế Thánh Thể của Chúa, ‘công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện’. Phụng vụ góp phần rất nhiều để giúp các tín hữu, qua cuộc sống mình, diễn tả và biểu lộ cho người khác mầu nhiệm Đức Ki-tô và bản chất đích thực của Hội Thánh.”3

Thuật ngữ “phụng vụ” nghĩa là gì? (1069–1070)

1069

Thuật ngữ “phụng vụ” (“liturgia”), theo gốc chữ, có nghĩa là “công vụ”, “việc phục vụ nhân danh dân cho dân.” Trong truyền thống Ki-tô Giáo, thuật ngữ này có nghĩa là dân Thiên Chúa dự phần vào “công việc của Thiên Chúa.”4 Qua phụng vụ, Đức Ki-tô, Đấng Cứu Chuộc và Thượng Tế của chúng ta, tiếp tục công trình cứu chuộc chúng ta trong Hội Thánh, với Hội Thánh và nhờ Hội Thánh của Người.

1070783

Thuật ngữ “phụng vụ” trong Tân Ước được dùng để chỉ không những việc cử hành phụng tự thần linh,5 mà còn cả việc loan báo Tin Mừng6 và việc thực thi bác ái.7 Trong tất cả những trường hợp này, vấn đề là phục vụ Thiên Chúa và phục vụ con người. Trong cử hành phụng vụ, Hội Thánh là người phục vụ, theo hình ảnh Chúa mình, là Đấng duy nhất “lo việc tế tự”,8 Hội Thánh được tham dự vào chức tư tế (phụng tự), tiên tri (loan báo) và vương đế (phục vụ bác ái) của Người:

“Vì thế, phụng vụ đáng được xem là việc thực thi trách vụ tư tế của Chúa Giê-su Ki-tô; trong đó, công cuộc thánh hóa con người được biểu thị bằng những dấu chỉ khả giác và được thực hiện cách riêng biệt theo từng dấu chỉ, và trong đó phụng tự công cộng vẹn toàn được thực thi bởi Nhiệm Thể Chúa Giê-su Ki-tô, nghĩa là bởi Đấng là Đầu cùng với các chi thể của Người. Do đó, mọi cử hành phụng vụ, vì là công trình của Đức Ki-tô tư tế và của Thân Thể Người là Hội Thánh, đều là hành động thánh thiêng tuyệt hảo, không có một hành động nào khác của Hội Thánh hữu hiệu bằng, xét cả về danh hiệu lẫn đẳng cấp.”9

Phụng vụ xét như nguồn mạch sự sống (1071–1072)

10711692

Phụng vụ, là công trình của Đức Ki-tô, cũng là hành động của Hội Thánh Người. Phụng vụ thực hiện và biểu thị Hội Thánh như dấu chỉ hữu hình của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người nhờ Đức Ki-tô. Phụng vụ dẫn các tín hữu vào sự sống mới của cộng đoàn. Phụng vụ đòi buộc mọi người phải tham dự “một cách ý thức, tích cực và có kết quả.”10

1072

“Phụng vụ không phải là tất cả hoạt động của Hội Thánh”:11 việc rao giảng Tin Mừng, đức tin và sự hối cải phải đi trước phụng vụ; lúc đó phụng vụ mới có thể mang lại hoa trái của mình trong đời sống các tín hữu: đời sống mới theo Chúa Thánh Thần, việc dấn thân vào sứ vụ của Hội Thánh và việc phục vụ cho sự hợp nhất của Hội Thánh.

Kinh nguyện và phụng vụ (1073)

10732558

Phụng vụ còn là tham dự vào kinh nguyện của Đức Ki-tô dâng lên Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Mọi kinh nguyện Ki-tô Giáo đều bắt nguồn và kết thúc trong phụng vụ. Nhờ phụng vụ, con người nội tâm được bén rễ sâu và đặt nền tảng12 trên tình yêu của Thiên Chúa, Đấng “rất mực yêu mến chúng ta” (Ep 2,4) trong Con yêu dấu của Ngài. Đây chính là “công trình kỳ diệu của Thiên Chúa”, là đời sống được hướng dẫn và được nội tâm hóa bởi mọi lời cầu nguyện, “mọi lúc trong Thần Khí” (Ep 6,18).

Việc dạy giáo lý và phụng vụ (1074–1075)

1074

“Phụng vụ là chóp đỉnh mà hoạt động của Hội Thánh vươn tới, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào tất cả sức mạnh của Hội Thánh.”13 Do đó, phụng vụ là chỗ rất đặc biệt để dạy giáo lý cho dân Thiên Chúa. “Dạy giáo lý, tự bản chất, gắn liền với mọi cử hành phụng vụ và bí tích, vì chính trong các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, Đức Ki-tô Giê-su hành động cách sung mãn để biến đổi con người.”14

1075426, 774

Việc dạy giáo lý trong phụng vụ nhằm đưa con người vào mầu nhiệm Đức Ki-tô (mystagon), dẫn từ hữu hình đến vô hình, từ dấu chỉ đến thực tại, từ “các bí tích” tới “các mầu nhiệm.” Việc trình bày như vậy là trách nhiệm của các sách địa phương và miền. Còn Sách này, nhằm phục vụ toàn thể Hội Thánh, trong đó có nhiều khác biệt về nghi thức và văn hóa,15 nên chỉ trình bày những gì là căn bản và chung cho toàn thể Hội Thánh liên quan tới phụng vụ xét như là mầu nhiệm và việc cử hành (Đoạn 1), rồi đến bảy bí tích và các á bí tích (Đoạn 2).


Đề mục


Chú thích

1 X. Ep 3,4.

2 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, 5: AAS 56 (1964) 99.

3 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, 2: AAS 56 (1964) 97-98.

4 X. Ga 17,4.

5 X. Cv 13,2; Lc 1,23.

6 X. Rm 15,16; Pl 2,14-17.30.

7 X. Rm 15,27; 2 Cr 9,12; Pl 2,25.

8 X. Dt 8,2.6.

9 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, 7: AAS 56 (1964) 101.

10 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, 11: AAS 56 (1964) 103.

11 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, 9: AAS 56 (1964) 101.

12 X. Ep 3,16-17.

13 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, 10: AAS 56 (1964) 102.

14 ĐGH Gio-an Phao-lô II, Tông huấn Catechesi tradendae, 23: AAS 71 (1979) 1296.

15 CĐ Va-ti-ca-nô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, 3-4: AAS 56 (1964) 98.

Mục Lục Mục Lục