Mục 2. Lễ nghi án táng Ki-tô Giáo (Giáo lý số 1680 – 1690)

1680 1525. Tất cả các bí tích, nhất là các bí tích khai tâm Ki-tô Giáo, đều hướng tới mục tiêu là cuộc Vượt Qua cuối cùng dẫn đưa người con Thiên Chúa vượt qua sự chết, vào Đời Sống trong Nước Trời. Những điều người tín hữu tuyên xưng trong đức tin và hy vọng”tôi đợi trông ngày kẻ chết sống lại, và sự sống đời sau”, lúc đó được hoàn tất trọn vẹn (x. Kinh Tin Kính của CĐ Ni-xê-a Công-tăng-ti-nô-pô-li).

I. CUỘC VƯỢT QUA CUỐI CÙNG CỦA KI-TÔ HỮU

1681 1010-1014. Đối với Ki-tô hữu, ý nghĩa sự chết được mặc khải trong ánh sáng của mầu nhiệm Vượt Qua, mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Ki-tô, Đấng đem lại cho chúng ta niềm hy vọng duy nhất. Người Ki-tô hữu được cùng chết với Đức Ki-tô, “lìa bỏ thân xác này để được ở bên Chúa” (x. 2 Cr 5,8).

1682. Đối với Ki-tô hữu, chết là kết thúc đời sống bí tích, là khởi đầu sự viên mãn của cuộc tái sinh đã bắt đầu nơi bí tích Thánh Tẩy, là nên “giống” hoàn toàn với “hình ảnh Con Thiên Chúa” nhờ Thánh Thần xức dầu và nhờ tham dự Bàn Tiệc Nước Trời đã được tiền dự trong bí tích Thánh Thể; cho dù người đó còn cần thanh luyện trước khi được mặc áo tinh tuyền vào dự tiệc cưới Con Chiên.

1683 1020 627. Như người mẹ hiền, Hội Thánh đã dùng các bí tích cưu mang người tín hữu suốt cuộc lữ hành trần thế, nay cũng đồng hành đến cuối đường để trao họ lại “trong tay Chúa Cha”. Trong Đức Ki-tô, Hội Thánh dâng lên Chúa Cha đứa con của ân sủng, và trong hy vọng gửi lại lòng đất hạt giống thân xác sẽ chỗi dậy vinh quang (x. 1 Cr 15,42-44). Nghi thức phó dâng này được cử hành long trọng trong thánh lễ; kèm theo các á bí tích là những nghi thức làm phép trước và sau thánh lễ.

II. CỬ HÀNH LỄ NGHI AN TÁNG

1684. Lễ an táng theo nghi thức Ki-tô Giáo là một cử hành phụng vụ của Hội Thánh. Chính vì vậy Hội Thánh muốn vừa diễn tả sự hiệp thông hữu hiệu với người đã qua đời, vừa giúp cộng đoàn tham dự mầu nhiệm hiệp thông này và công bố niềm tin vào sự sống đời sau.

1685. Trong Hội Thánh, để diễn tả đặc tính Vượt Qua nơi cái chết của Ki-tô hữu, có những lễ nghi an táng khác nhau, tùy theo những hoàn cảnh và truyền thống từng miền, ngay cả về màu sắc phụng vụ (x. SC 81).

1686. Sách Lễ Nghi An Táng của Phụng vụ Rô-ma đề ra ba mẫu cử hành, tương ứng với ba địa điểm (tại nhà tang, tại nhà thờ và ở nghĩa trang), và để tùy theo tâm tình của gia đình, theo các phong tục địa phương, theo văn hóa và lòng đạo đức. Tuy nhiên, tất cả các truyền thống phụng vụ đều có chung diễn tiến, gồm bốn thì chính:

1687. Đón Tiếp. Khởi đầu nghi thức là một lời chào đầy lòng tin tưởng. Vị chủ sự đón tiếp thân nhân người quá cố bằng một lời “an ủi” (theo Tân Ước: Sức mạnh của Thánh Thần đem lại niềm an ủi trong hy vọng) (x. 2 Tx 4,18). Cộng đoàn tập họp để cầu nguyện, chờ đợi “những lời ban phúc trường sinh” (x. Ga 6,68). Cái chết của một thành viên trong cộng đoàn (hay ngày giỗ tính theo tuần, tháng, hay năm của người đó) là một biến cố nhắc nhở các tín hữu phải vượt qua những cách nhìn của “thế gian này” và hướng đến những viễn ảnh chân thực trong đức tin vào Đức Ki-tô Phục Sinh.

1688. Phụng vụ Lời Chúa trong lễ nghi an táng, cần được chuẩn bị chu đáo, vì cộng đoàn hiện diện có thể gồm các tín hữu ít tham dự phụng vụ, và cả những thân hữu của người quá cố không phải Ki-tô hữu. Đặc biệt, bài giảng “không được theo hình thức điếu văn” (x. Sách Lễ Nghi An Táng 41), và phải trình bày mầu nhiệm sự chết dưới ánh sáng Đức Ki-tô Phục Sinh.

1689 1371 958. Phụng vụ Thánh Thể khi lễ nghi an tang cử hành trong nhà thờ, bí tích Thánh Thể là tâm điểm của thực tại Vượt Qua nơi cái chết của Ki-tô hữu (x. Sách Lễ Nghi An Táng 1). Trong thánh lễ, Hội Thánh bày tỏ sự hiệp thông hữu hiệu của mình với người quá cố: khi dâng lên Chúa Cha, trong Chúa Thánh Thần, hy tế cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Ki-tô, Hội Thánh cầu xin Cha cho người con của mình được thanh luyện khỏi mọi tội lỗi, được tha mọi hình phạt, và được nhận vào bàn tiệc trong nước Chúa (x. Sách Lễ Nghi An Táng 57). Nhờ bí tích Thánh Thể, cộng đoàn tín hữu, nhất là gia đình người quá cố, học sống hiệp thông với người “đã an nghỉ trong Chúa”, bằng cách rước Mình Thánh Chúa mà người đó đang là một chi thể sống động, để rồi cầu nguyện cho và cùng với người đó.

1690 2300. Nghi thức từ biệt người quá cố lần cuối cùng là lời Hội Thánh “phó dâng người này cho Chúa”. “Cộng đoàn Ki-tô hữu chào từ biệt lần cuối cùng một chi thể của mình, trước khi xác người đó được mai táng” (x. Sách Lễ Nghi An Táng 10). Truyền thống By-zan-tin diễn tả ý nghĩa này bằng cái hôn từ biệt người quá cố:

“Bằng lời chào cuối cùng này, chúng tôi hát tiễn người ra đi khỏi cuộc đời này và hát bài chia ly, cũng là bài hiệp thông và tái ngộ. Đúng vậy, cái chết không hề chia lìa chúng tôi, vì tất cả chúng tôi đang đi cùng một đường và sẽ gặp lại nhau ở cùng một nơi. Chúng tôi sẽ không bao giờ bị chia cách, vì đang sống cho Đức Ki-tô và giờ này đang được kết hiệp với Người, đang đi gặp Người,… Tất cả chúng tôi sẽ đoàn tụ trong Đức Ki-tô” (x. Thánh Si-mê-on thành Thê-xa-lô-ni-ca, Sep.).