Mục 2. Tham dự vào sinh hoạt xã hội (Giáo lý số 1897 – 1927)

I. QUYỀN BÍNH

1897 2234. “Xã hội loài người sẽ không có trật tự và phồn vinh nếu thiếu những người cầm quyền hợp pháp để bảo tồn các định chế và phục vụ công ích một cách đầy đủ” (x. PT 46)

“Quyền bính” là đặc tính của những con người, hay định chế, nhờ đó, họ ban hành lề luật và mệnh lệnh cho con người, và buộc phải tuân phục.

1898. Mọi cộng đoàn nhân loại đều cần có một quyền bính để quản trị nó (x. T.Lê-ô XIII thông điệp “Immortale Dei”, thông điệp “Diuturnum i11ud”). Quyền bính này đặt nền tảng trên bản tính con người. Quyền bính cần thiết để tạo ra sự thống nhất cho cộng đoàn. Vai trò của nó là bảo đảm tối đa cho công ích xã hội.

1899 2235. Quyền bính, theo trật tự luân lý đòi hỏi, phát xuất từ Thiên Chúa: “Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại sẽ chuốc lấy án phạt” (Rm 13,1-2) (x. 1 Pr 2,13-17).

1900 2238. Bổn phận vâng phục đòi buộc mọi người phải tôn trọng quyền bính cho xứng hợp; đối với những người đang thi hành công vụ, phải tôn trọng và tùy công trạng của họ mà tỏ lòng biết ơn và quý mến.

2240. Hội Thánh còn giữ được bản kinh của thánh Giáo Hoàng Clê-men-tê thành Rô-ma cầu cho chính quyền (x. 1 Tm 2,1-2):

“Lạy Chúa, xin ban cho họ sức khỏe, bình an, hòa thuận và ổn định, để họ thực thi đúng đắn quyền hành Chúa đã trao cho họ. Lạy Chúa là Chủ tể, là Vua trời vĩnh cửu, chính Chúa ban cho con cái loài người vinh quang, danh dự và quyền lực trên mọi vật trần thế. Xin Chúa hướng dẫn những dự định của họ theo điều thiện hảo, theo những gì hợp ý Ngài, để khi thi hành nhiệm vụ mà Ngài đã trao cho, với lòng đạo đức, trong an bình và quảng đại, họ nhận được ơn Ngài phù hộ” (Clémente de Rome, Cor 61,1-2).

1901. Có quyền bính là “do Thiên Chúa an bài, nhưng việc định đoạt những thể chế chính trị hay cắt cử người cầm quyền, vẫn là quyền tự do của mọi công dân” (x. GS 74,3). 2242. Về mặt luân lý, các thể chế chính trị có thể khác nhau, miễn sao các thể chế này mang lại lợi ích chính đáng cho cộng đoàn đã thừa nhận chúng. Các thể chế có bản chất trái ngược với luật tự nhiên, với trật tự công cộng và các quyền căn bản của con người, thì không thể đem lại công ích cho những quốc gia đang theo thể chế đó.

1902 1930. Về mặt luân lý, không phải người cầm quyền làm gì cũng hợp pháp. Họ không được xử sự cách chuyên chế, nhưng phải hành động cho công ích vì quyền bính là một sức mạnh tinh thần đặt nền tảng trên tự do và ý thức trách nhiệm” (x. GS 74,2):

1951. “Luật pháp của loài người chỉ là luật khi phù hợp với lẽ phải; có hiệu lực là nhờ “luật vĩnh cữu”; khi xa lìa lẽ phải, nó không còn là luật nữa, nhưng là một sự bất công, thậm chí chỉ là một hình thức bạo lực (Thánh Tô-ma A-qui-nô, Tổng luận thần học 1-2,93,3.2).

1903 2242. Quyền bính chỉ được hành xử hợp pháp khi mưu cầu công ích cho tập thể liên hệ và đạt tới mục đích ấy bằng các phương thế mà luân lý cho phép. Nếu các nhà lãnh đạo đưa ra những luật bất công hay sử dụng những biện pháp trái luân lý, lương tâm không buộc phải tuân theo. “Trong trường hợp này, quyền bính không còn là quyền bính nữa mà thoái hóa thành áp bức (x. PT 51).”

1904. “Tốt nhất là mọi quyền lực đều giữ thế quân bình nhờ những quyền lực và những cơ quan hữu trách khác để giữ nó trong giới hạn chính đáng. Đó là nguyên tắc “Nhà Nước pháp quyền”; theo đó luật pháp chi phối tất cả chứ không phải ý muốn độc đoán của một số người” (x. CA 44).

II. CÔNG ÍCH

1905 801 1881. Con người có tính xã hội, nên lợi ích cá nhân phải đặt trong tương quan với lợi ích chung. Lợi ích chung chỉ có thể được xác định trong tương quan với nhân vị:

“Các bạn đừng sống riêng lẻ hay khép kín, như thể các bạn đã được công chính hóa rồi, nhưng hãy hợp lại để cùng tìm kiếm lợi ích chung” (x. Thư Ba-na-bê 4,10).

1906. Phải hiểu “công ích” là “toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép những tập thể hay những phần tử riêng rẽ có thể đạt tới sự hoàn hảo riêng một cách đầy đủ và dễ dàng hơn (x. GS 26,1; 74,1)”. Công ích liên quan đến đời sống của mọi người, đòi hỏi mỗi người phải thận trọng, nhất là những ai đang cầm quyền. Công ích gồm ba yếu tố căn bản:

1907 1929 2106. * Trước hết, công ích phải tôn trọng con người với tư cách là người. Nhân danh công ích, chính quyền có bổn phận tôn trọng các quyền căn bản và bất khả nhượng của con người. Xã hội phải giúp cho các thành viên thực hiện ơn gọi của mình. Đặc biệt, công ích cho con người thực thi các quyền tự do tự nhiên không thể thiếu để phát triển ơn gọi làm người “như quyền hành động theo quy tắc ngay thẳng của lương tâm mình, quyền bảo vệ đời tư và quyền được tự do chính đáng, cả trong phạm vi tôn giáo nữa” (x. GS 26,2).

1908 2441. * Kế đến, công ích đòi phải có phúc lợi xã hội và sự phát triện của bản thân xã hội. Phát triện và tóm tắt của tất cả các bổn phận của xã hội. Tất nhiên quyền bính có nhiệm vụ làm trọng tài, nhân danh công ích, để phân xử các tranh chấp quyền lợi riêng tư. Nhưng quyền bính phải liệu cho mọi người có thể đạt được những gì mà mỗi người cần phải có mà sống một cuộc đời xứng đáng của con người, đó là: của ăn, áo mặc, sức khoẻ, công ăn việc làm, giáo dục và văn hoá, được thông tin xứng hợp, quyền lập gia đình. v.v (xem GS 26,bài 2).

1909 2304 2310. * Sau hết, công ích còn phải kiến tạo hòa bình, bảo tồn một trật tự đúng đắn được lâu bền và ổn định. Điều này giả thiết rằng quyền bính phải bảo đảm an ninh cho xã hội và cho các thành viên của xã hội bằng những phương thế liêm chính. Công ích đặt nền tảng cho quyền tự vệ chính đáng của cá nhân và tập thể.

1910 2244. Mỗi tập thể theo đuổi một công ích để thể hiện căn tính của mình, nhưng chỉ trong cộng đồng chính trị, công ích mới được thực hiện trọn vẹn nhất. Nhà Nước có nhiệm vụ bảo vệ và thăng tiến công ích của xã hội dân sự, của các công dân và các tập thể nhỏ hơn.

1911 2438. Con người trên địa cầu ngày càng lệ thuộc lẫn nhau. Gia đình nhân loại gồm những con người có phẩm giá bình đẳng, một nền công ích toàn cầu. Nền công ích này cần có một tổ chức hiệp nhất và liên quốc gia, “có khả năng đáp ứng những nhu cầu muôn mặt của con người trong lãnh vực xã hội (như thực phẩm, sức khỏe, giáo dục,… ) cũng như để đối phó với bao hoàn cảnh đặc biệt có thể xảy ra nơi này nơi khác (Cứu trợ những người tị nạn, giúp đỡ cho những người di dân và gia đình họ,… )” (x. GS 84,2).

1912 1881. Công ích luôn hướng tới việc thăng tiến con người: “trật tự của muôn vật phải lệ thuộc vào trật tự của các nhân vị chứ không ngược lại” (x. GS 26,3). Trật tự này đặt nền tảng trên chân lý, được thiết lập trong công bình, được sinh động bởi tình yêu.

III. TRÁCH NHIỆM VÀ THAM GIA

1913. Tham gia là sự dấn thân tự nguyện và quảng đại của con người vào những giao dịch xã hội. Tất cả mọi người phải tham gia, tùy theo địa vị và vai trò của mình, để mưu cầu công ích. Bổn phận này gắn với phẩm giá con người.

1914 1734. Con người tham gia bằng cách làm tròn các trách nhiệm cá nhân của mình: khi chăm lo giáo dục gia đình mình và làm việc có lương tâm, con người góp phần mưu ích cho tha nhân và xã hội.

1915 2239. Các công dân phải tích cực tham gia càng nhiều càng tốt vào đời sống xã hội. Các phương thức tham gia có thể thay đổi tùy từng nước, từng nền văn hóa. “Phải ca tụng đường lối của những quốc gia đang để cho các công dân được tham gia càng đông càng tốt vào việc nước trong sự tự do đích thực” (x. GS 31,3).

1916 1888 2409. Cũng như mọi bổn phận luân lý khác, việc mọi người tham gia vào công trình công ích, cũng đòi hỏi các thành viên của xã hội hoán cải không ngừng. Phải kết án nghiêm khắc những thủ đoạn dùng để tránh né luật pháp và tránh né trách nhiệm đối với xã hội, vì chúng trái với những đòi hỏi của công bình. Cần chăm lo phát triển những định chế nhằm cải thiện điều kiện sinh sống của con người (x. GS 30,1).

1917 1818. Những người cầm quyền có bổn phận củng cố những giá trị đem lại sự tín nhiệm nơi các thành viên trong cộng đồng và khuyến khích họ tham gia phục vụ đồng bào. Sự tham gia bắt đầu từ công tác giáo dục và văn hóa. Chúng ta có lý do chính đáng để nghĩ rằng: “tương lai nhân loại nằm trong tay những người có khả năng trao cho hậu thế ý nghĩa cuộc sống và những cơ sở để hy vọng” (x. GS 31,3).

TÓM LƯỢC

1918. “Không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập” (Rm 13,1).

1919. Mọi cộng đoàn nhân loại đều cần có một quyền bính để duy trì và phát triển.

1920. “Cộng đoàn chính trị và công quyền đặt nền tảng trên bản tính con người, cho nên cũng nằm trong trật tự do Thiên Chúa ấn định”.

1921. Quyền bính được hành xử hợp pháp khi mưu cầu công ích cho xã hội và đạt tới mục đích ấy bằng những phương thế luân lý cho phép.

1922. Các thể chế chính trị có thể khác nhau, miễn sao các thể chế này mưu cầu lợi ích chính đáng cho cộng đoàn.

1923. Công quyền phải được hành sử trong những giới hạn của trật tự luân lý và bảo đảm những điều kiện giúp thực thi quyền tự do.

1924. Công ích là: “toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép những tập thể hay những phần tử riêng rẽ có thể đạt tới sự hoàn hảo riêng một cách đầy đủ và dễ dàng hơn”.

1925. Công ích gồm ba yếu tố cơ bản: tôn trọng và thăng tiến các quyền cơ bản của con người, phát triển các lợi ích tinh thần và vật chất của xã hội, kiến tạo hòa bình và an ninh cho tập thể và các thành viên.

1926. Phẩm giá của con người đòi hỏi mưu cầu công ích.

Mỗi người phải quan tâm cổ võ và yểm trợ những tổ chức nhằm cải thiện điều kiện sinh sống của con người.

1927. Nhà nước có bổn phận bảo vệ và thăng tiến công ích của xã hội dân sự. Công ích của toàn thể gia đình nhân loại cần đến một tổ chức quốc tế.