Mục 3. Kinh Thánh (Giáo lý số 101 – 141)

I. ĐỨC KI-TÔ – LỜI DUY NHẤT CỦA KINH THÁNH

101. Để mặc khải chính mình cho loài người, Thiên Chúa đã đoái thương dùng ngôn ngữ loài người mà nói với họ: “Lời của Thiên Chúa, diễn đạt bằng ngôn ngữ nhân loại, nên giống tiếng nói loài người, cũng như khi xưa Ngôi Lời của Cha hằng hữu đã trở nên giống như con người khi mặc lấy xác phàm yếu đuối của chúng ta” (DV 13).

102 65 2763. Qua tất cả các lời ở trong Kinh Thánh, Thiên Chúa chỉ nói có một Lời là Ngôi Lời duy nhất, trong Người, Thiên Chúa nói hết về mình cho nhân loại (Dt 1,1-3):

426-429. Anh em hãy nhớ rằng Lời duy nhất của Thiên Chúa được trải dài trong toàn bộ Kinh Thánh, chính Ngôi Lời duy nhất vang trên môi miệng của tất cả các tác giả Kinh Thánh. Vì chính Người, ngay từ đầu là Thiên Chúa ở bên Thiên Chúa, chẳng cần đến chữ với lời, bởi Người không lệ thuộc vào thời gian[1].

103 1100 1184 1378. Vì lý do đó, Hội Thánh luôn tôn kính Kinh Thánh như chính Mình Thánh Chúa. Hội Thánh không ngừng lấy Bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Thiên Chúa và Mình Thánh Chúa Ki-tô để ban phát cho các tín hữu (x. DV 21)

104. Trong Kinh Thánh, Hội Thánh không ngừng tìm được lương thực và sức mạnh (x. DV 24), vì nơi đó, Hội Thánh không chỉ đón nhận một lời phàm nhân, nhưng thực sự là Lời của Thiên Chúa (1 Tx 2,13). “Thật vậy, trong các Sách Thánh, Chúa Cha, Đấng ngự trên trời, âu yếm đến với con cái của Người và đối thoại với họ” (DV 21).

II. LINH HỨNG VÀ CHÂN LÝ CỦA Kinh THÁNH

105. Thiên Chúa là tác giả của Kinh Thánh. “Những gì Thiên Chúa mặc khải mà Kinh Thánh chứa đựng và trình bày, đều được viết ra dưới sự linh hứng của Thánh Thần”. “Hội Thánh, Mẹ chúng ta, nhờ đức tin tông truyền, xác nhận rằng toàn bộ Cựu Ước cũng như Tân Ước, với tất cả các thành phần đều là Sách Thánh, và được ghi vào bản chính lục của Kinh Thánh, bởi lẽ được viết ra dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần nên tác giả các sách ấy là chính Thiên Chúa và chúng được lưu truyền cho Hội Thánh với danh nghĩa như vậy” (DV 11).

106. Thiên Chúa đã linh hứng cho các tác giả nhân loại viết các Sách Thánh. “Để soạn các Sách Thánh đó, Thiên Chúa đã chọn những con người và dùng họ với đầy đủ các khả năng và phương tiện của họ, để khi chính Người hành động trong họ và qua họ, họ viết ra như những tác giả đích thực tất cả những gì Chúa muốn, và chỉ viết những điều đó thôi” (DV 11).

107 702. Các sách được linh hứng giảng dạy sự thật. “Vậy bởi phải xem mọi lời các tác giả được linh hứng, còn gọi là các Thánh Ký viết ra, là những lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Kinh Thánh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Kinh Thánh ghi lại để cứu độ chúng ta” (DV 11).

108. Tuy nhiên, đức tin Ki-tô Giáo không phải là “đạo thờ Sách”, nhưng là đạo do “Lời Thiên Chúa”, “không phải một lời được viết ra và câm lặng, nhưng là Ngôi Lời nhập thể và hằng sống”[2]. Để các lời của Sách Thánh không chỉ là văn tự chết, Đức Ki-tô, Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa hằng sống, nhờ Thánh Thần “mở trí cho chúng ta hiểu được Kinh Thánh” (Lc 24,45).

III. CHÚA THÁNH THẦN, ĐẤNG GIẢI NGHĨA KINH THÁNH

109. Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa nói với con người theo cách thức loài người. Vậy để giải nghĩa Kinh Thánh cho đúng, phải cẩn thận tìm hiểu điều các thánh ký thật sự có ý trình bày và điều Thiên Chúa muốn diễn tả qua lời lẽ của họ (x. DV 12,1).

110. Để khám phá ý định của các Thánh Ký, phải xét đến thời đại và văn hóa của họ, các “thể văn” thông dụng thời bấy giờ, cách thức cảm nghĩ, diễn tả, và tường thuật thịnh hành thời của họ. “Vì chân lý được trình bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi ca,… hoặc những thể loại khác” (DV 12,2).

111. Vì Kinh Thánh được linh hứng, nên còn một nguyên tắc khác để giải nghĩa cho đúng. Nguyên tắc này không kém quan trọng so với nguyên tắc trên và không có nó thì Kinh Thánh chỉ là văn tự chết: “Kinh Thánh đã được viết ra bởi Chúa Thánh Thần nên cũng phải được đọc và giải thích trong Chúa Thánh Thần” (DV 12,3).

Công đồng Va-ti-ca-nô II đưa ra ba tiêu chuẩn để giải thích Kinh Thánh theo Thánh Thần, Đấng đã linh hứng (DV 12,3).

112 128 368. 1* Trước hết, phải hết sức chú ý đến “nội dung và tính thống nhất của toàn bộ Kinh Thánh”. Các Sách Thánh, dù có khác biệt nhau mấy đi chăng nữa, vẫn là một do tính duy nhất của chương trình Thiên Chúa mà Đức Ki-tô Giê-su là trung tâm điểm và là trái tim, được rộng mở từ cuộc Vượt Qua của Người (x. Lc 24,25-27.44-46).

Trái tim (x. Tv 22,15) Đức Ki-tô chỉ Kinh Thánh, và Kinh Thánh giúp ta hiểu rõ trái tim Người. Trước cuộc khổ nạn, trái tim này còn đóng kín, vì Kinh Thánh còn tối nghĩa. Nhưng sau cuộc khổ nạn, Kinh Thánh đã được mở ra, vì từ nay những ai hiểu được cuộc khổ nạn sẽ biết suy xét và hiểu được phải giải nghĩa các lời ngôn sứ như thế nào[3].

113 81. 2* Kế đến, phải đọc Kinh Thánh trong “Truyền thống sống động của toàn thể Hội Thánh”. Theo một châm ngôn của các giáo phụ Kinh Thánh phải được đọc chủ yếu trong con tim Hội Thánh hơn là trên những vật liệu dùng để viết Kinh Thánh. Thật vậy, Hội Thánh giữ trong truyền thống của mình ký ức sống động của Lời Thiên Chúa, và chính Thánh Thần giải thích cho Hội Thánh ý nghĩa thiêng liêng của Kinh Thánh (“,… theo nghĩa thiêng liêng mà Thánh Thần ban cho Hội Thánh được hiểu”)[4].

114 90. 3* Phải lưu ý đến “tính loại suy đức tin” (x. Rm 12,6). “Tính loại suy đức tin” được hiểu là sự liên kết chặt chẽ giữa các chân lý đức tin với nhau và trong toàn bộ chương trình mặc khải.

Các nghĩa được dùng trong Kinh Thánh

115. Theo một truyền thống cổ xưa, có thể phân biệt hai nghĩa được dùng trong Kinh Thánh: nghĩa văn tự và nghĩa thiêng liêng. Nghĩa thiêng liêng được chia thành nghĩa ẩn dụ, luân lý và thần bí. Sự hòa hợp sâu xa của bốn nghĩa này bảo đảm cho việc đọc Kinh Thánh cách sống động trong Hội Thánh được phong phú tối đa:

116 110-114. Nghĩa văn tự: Đây là nghĩa mà lời Kinh Thánh nêu lên và được khoa chú giải khám phá ra khi tuân theo những quy luật để giải nghĩa đúng. “Tất cả các nghĩa trong Kinh Thánh đều dựa vào nghĩa văn tự”[5].

117 1101. Nghĩa thiêng liêng: Nhờ sự thống nhất trong ý định của Thiên Chúa, không những bản văn Kinh Thánh, mà cả các thực tại và biến cố được bản văn đề cập đến, đều có thể là những tiên trưng.

1. Nghĩa ẩn dụ: Chúng ta có thể hiểu thấu đáo hơn các biến cố bằng cách nhận ra ý nghĩa của nó trong Đức Ki-tô. Ví dụ cuộc vượt qua Biển Đỏ là tiên trưng cuộc chiến thắng của Đức Ki-tô, do đó cũng là tiên trưng của phép Thánh Tẩy (x. 1 Cr 10,2).

2. Nghĩa luân lý: Các biến cố được Kinh Thánh thuật lại phải dẫn chúng ta đến một cách ăn ở chính trực. Các biến cố đó được viết ra “để răn dạy chúng ta” (1 Cr 10,11) (x. Dt 3-4,11).

3. Nghĩa thần bí: Chúng ta có thể đọc thấy ý nghĩa vĩnh cửu của các thực tại và biến cố, khi chúng hướng chúng ta về Quê Trời. Ví dụ Hội Thánh dưới đất là dấu chỉ Giê-ru-sa-lem trên trời (x. Kh 21,1-22,5).

118. Hai câu thơ thời trung cổ tóm tắt ý của bốn nghĩa như sau:

Nghĩa văn tự dạy về biến cố, Nghĩa ẩn dụ dạy điều phải tin, Nghĩa luân lý dạy điều phải làm, Nghĩa thần bí dạy điều phải vươn tới[6].

119 94. “Theo các quy tắc ấy, người chú giải Kinh Thánh có nhiệm vụ nỗ lực tìm hiểu và trình bày ý nghĩa Kinh Thánh cách sâu rộng hơn, hầu những nghiên cứu của họ, như một việc làm chuẩn bị, giúp phán quyết của Hội Thánh được chín chắn. Thật vậy, mọi điều liên hệ đến việc giải thích Kinh Thánh cuối cùng đều phải tùy thuộc vào phán quyết của Hội Thánh, vì Hội Thánh được Thiên Chúa giao cho sứ mạng và chức vụ gìn giữ và giải thích lời Chúa” (DV 12,3).

113. Tôi sẽ không tin vào Tin Mừng, nếu thẩm quyền của Hội Thánh Công Giáo không thúc giục tôi[7].

IV. GIÁO QUY VỀ KINH THÁNH

120 117. Chính Truyền Thống các Tông đồ giúp Hội Thánh phân định những văn bản nào phải được kể vào danh mục các Sách Thánh (DV 8,3). Danh mục đầy đủ này được gọi là “Quy điển” các Sách Thánh, gồm 46 bản văn Cựu ước (45, nếu gom Gr và Ac thành một) và 27 bản văn cho Tân Ước (x. DS 179; 1334-1336; 1501-1504):

Cựu Ước: Sáng Thế, Xuất Hành, Lê-vi, Dân Số, Đệ Nhị Luật, Giô-suê, Thủ Lãnh, Rút, Sa-mu-en 1 và 2, Các Vua 1 và 2, Sử Biên 1 và 2, Ét-ra và Nơ-khe-mi-a, Tô-bi-a, Giu-đi-tha, Ét-te, Ma-ca-bê 1 và 2, Gióp, Thánh Vịnh, Châm Ngôn, Giảng Viên, Diễm Ca, Khôn Ngoan, Huấn Ca, I-sai-a, Giê-rê-mi-a, Ai Ca, Ba-rúc, Ê-dê-ki-en, Đa-ni-en, Hô-sê, Giô-en, A-mốt, Ô-va-đi-a, Giô-na, Mi-kha, Na-khum, Kha-ba-cúc, Xô-phô-ni-a, Khác-gai, Da-ca-ri-a, Ma-la-khi.

Tân Ước: Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, Thánh Mác-cô, Thánh Lu-ca, Thánh Gio-an, Công vụ Tông đồ, Thư Rô-ma, Thư Cô-rin-tô 1 và 2, Thư Ga-lát, Thư Ê-phê-sô, Thư Phi-líp-phê, Thư Cô-lô-xê, Thư Thê-xa-lô-ni-ca 1 và 2, Thư Ti-mô-thê 1 và 2, Thư Ti-tô, Thư Phi-lê-mon, Thư Do-thái, Thư Thánh Gia-cô-bê, Thư Thánh Phê-rô 1 và 2, Thư Thánh Gio-an 1, 2 và 3, Thư Thánh Giu-đa, Khải Huyền.

Cựu Ước

121 1093. Cựu Ước là một phần của Kinh Thánh không thể thiếu được. Các sách Cựu Ước được Thiên Chúa linh hứng luôn có giá trị vĩnh cửu (x. DV 14) vì giao ước cũ không hề bị thu hồi.

122 702 763 708 2568. “Lý do chính của nhiệm cục thời Cựu Ước là chuẩn bị cho ngày xuất hiện của Đức Ki-tô Cứu Thế”. “Dù còn chứa đựng những điều bất toàn và tạm thời”, các sách Cựu Ước minh chứng khoa sư phạm thần diệu của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa: “Vì chúng tàng trữ những lời giáo huấn cao siêu về Thiên Chúa, những tư tưởng khôn ngoan và hữu ích về đời sống con người, những kho tàng kinh nguyện tuyệt diệu và sau cùng ẩn chứa mầu nhiệm cứu độ chúng ta” (DV 15).

123. Người Ki-tô hữu tôn kính Cựu Ước như là Lời Thiên Chúa đích thật. Hội Thánh cực lực chống lại ý kiến đòi gạt bỏ Cựu Ước, viện cớ Tân Ước đã làm cho Cựu Ước ra lỗi thời (thuyết Marcion).

Tân Ước

124. “Lời Chúa là sức mạnh thần thiêng cứu độ mọi tín hữu, được trình bày và tỏ lộ quyền năng cách đặc biệt trong các sách Tân Ước” (DV 17). Các sách ấy trao cho chúng ta chân lý tối hậu của Mặc khải. Trung tâm của Tân Ước là Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa nhập thể, các hành vi, lời giảng dạy, cuộc khổ nạn và tôn vinh của Người, cũng như những bước đầu của Hội thánh dưới tác động của Chúa Thánh Thần (DV 20).

125 515. Các Sách Tin Mừng là trung tâm của Kinh Thánh “vì là chứng từ tuyệt hảo về cuộc đời và giáo huấn của Ngôi Lời Nhập Thể, Đấng Cứu Độ chúng ta” (DV 18).

126 76. Trong việc hình thành các sách Tin Mừng, người ta có thể phân biệt ba giai đoạn:

1. Cuộc đời và Giáo Huấn của Đức Giê-su. “Hội Thánh luôn khẳng định lịch sử tính của bốn sách Tin Mừng, cũng như mạnh mẽ và liên tục xác nhận bốn sách Tin Mừng trung thành ghi lại những gì Đức Giê-su Con Thiên Chúa khi sống giữa loài người, thực sự đã làm và đã dạy vì ơn cứu độ đời đời của họ, cho tới ngày Người lên trời”.

2. Truyền khẩu. “Những gì Chúa đã nói và làm, thì sau cuộc thăng thiên của Nguời, các tông đồ truyền lại cho thính giả, với sự hiểu biết đầy đủ hơn mà chính các ông có được nhờ học ở những biến cố vinh hiển của Đức Ki-tô và nhờ được Thánh Thần chân lý soi sáng”.

3. Các sách Tin Mừng. “Các thánh ký đã soạn bốn sách Tin Mừng, bằng cách chọn một số trong nhiều yếu tố đã được truyền miệng hoặc sao chép, tóm lược những yếu tố khác hay tùy theo hoàn cảnh của các giáo đoàn mà giải thích thêm, nhưng vẫn giữ hình thức của bài giảng thuyết. Và như vậy luôn chân thành truyền đạt cho chúng ta những điều chân thật về Đức Giê-su.” (DV 19).

127 1154. Trong Hội Thánh, bốn sách Tin Mừng chiếm địa vị có một không hai: bằng chứng là phụng vụ luôn tôn kính và các thánh trong mọi thời đều say mê.

Không có giáo lý nào tốt hơn, quý hơn và sáng chói hơn bản văn Tin Mừng. Hãy xem và ghi nhớ những gì Đức Ki-tô, là Chúa và là Thầy của chúng ta, đã dạy qua các lời nói và thực hiện qua các hành động của Người[8].

2705. Trên hết mọi sự, chính Tin Mừng bổ dưỡng tôi trong các giờ cầu nguyện; nơi đó,tôi tìm thấy tất cả những gì cần thiết cho linh hồn đáng thương của tôi. Nơi đó tôi luôn khám phá những ánh sáng mới mẻ, những ý nghĩa ẩn giấu và mầu nhiệm[9].

Tính thống nhất giữa Cựu Ước và Tân Ước

128 1094 489. Ngay từ thời các tông đồ (x. 1 Cr 10,6.11; Dt 10,1; 1 Pr 3,21) và trong suốt truyền thống của mình, Hội Thánh đã soi sáng tính thống nhất của ý định Thiên Chúa trong cả hai Giao Ước, nhờ khoa tiên trưng. Khoa này nhận ra, trong các công trình của Thiên Chúa dưới thời Cựu ước, những “hình ảnh báo trước” điều Thiên Chúa sẽ hoàn thành trong thời viên mãn, nơi Ngôi Lời nhập thể.

129 651 2055 1968. Vậy các Ki-tô hữu phải đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của Đức Ki-tô chết và sống lại. Cách đọc tiên trưng này làm tỏ hiện nội dung vô tận của Cựu Ước. Nhưng không được quên rằng Cựu Ước vẫn có giá trị mặc khải riêng, mà chính Chúa Giê-su đã tái khẳng định (x. Mc 12,29-31). Đàng khác, Tân Ước đòi hỏi cũng phải được đọc dưới ánh sáng Cựu Ước. Việc huấn giáo của Hội Thánh thời sơ khai luôn làm như vậy (x. 1 Cr 5,6-8; 10,1-11). Theo một ngạn ngữ cổ xưa, Tân Ước ẩn tàng trong Cựu Ước, Cựu Ước tỏ lộ trong Tân Ước “Novum in Vetere latet et in Novo Vetus patet”[10] (x. DV 16).

130. Khoa tiên trưng cho thấy sức năng động của kế hoạch Thiên Chúa đang tiến đến lúc hoàn thành khi “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28). Chẳng hạn việc kêu gọi các tổ phụ và cuộc xuất hành khỏi Ai-cập, không phải vì chúng là những giai đoạn trung gian mà mất đi giá trị riêng của mình trong kế hoạch của Thiên Chúa.

V. KINH THÁNH TRONG SINH HOẠT HỘI THÁNH

131. “Lời Chúa còn có sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Hội Thánh, ban sức mạnh đức tin, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Hội Thánh” (DV 21). Cần phải “mở rộng đường cho các Ki-tô hữu đến với Kinh Thánh” (DV 22).

132 94. “Nghiên cứu Kinh Thánh phải là hồn của khoa thần học thánh. Thừa tác vụ Lời Chúa – gồm có là việc rao giảng thuộc mục vụ, dạy giáo lý và mọi huấn dụ Ki-tô Giáo, trong đó bài giảng phụng vụ phải chiếm một chỗ quan trọng, phải được nuôi dưỡng và gia tăng sinh lực cách lành mạnh, nhờ lời Kinh Thánh” (DV 24).

133 2653 1792. Hội Thánh “tha thiết và đặc biệt khuyến khích mọi Ki-tô hữu hãy năng đọc Kinh Thánh để học biết “mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su” (Pl 3,8)”. “Vì không biết Kinh Thánh là không biết Đức Ki-tô”[11] (DV 25).

TÓM LƯỢC

134. “Toàn bộ Kinh Thánh chỉ là một cuốn sách duy nhất, và cuốn sách duy nhất ấy chính là Đức Ki-tô, vì toàn bộ Kinh Thánh nói về Đức Ki-tô và được hoàn tất trong Đức Ki-tô”[12].

135. “Các sách Kinh Thánh chứa đựng Lời Thiên Chúa và vì được linh hứng, nên thực sự là Lời Chúa” (DV 24).

136. Thiên Chúa là tác giả của Kinh Thánh theo nghĩa Người là Đấng linh hứng các tác giả nhân loại: Người tác động nơi họ và qua họ. Như thế, Người bảo đảm các tác phẩm của họ giảng dạy không sai lầm chân lý cứu độ (x. DV 11).

137. Muốn giải nghĩa các Sách Thánh đã được Thiên Chúa linh hứng, trước hết phải chú tâm đến điều Thiên Chúa muốn mặc khải qua các thánh ký, để cứu độ chúng ta. “Điều gì phát sinh từ Thánh Thần chỉ hiểu được trọn vẹn nhờ Thánh Thần”[13].

138. Hội Thánh đón nhận và tôn kính 46 sách của Cựu Ước và 27 sách của Tân Ước như là những sách được Thiên Chúa linh hứng.

139. Bốn cuốn Tin Mừng chiếm địa vị trung tâm của toàn bộ Kinh Thánh, vì Đức Ki-tô là trung tâm của Tin Mừng.

140. Vì Thiên Chúa chỉ có một ý định cứu độ nhân loại và chỉ có một mặc khải duy nhất, nên cả hai giao ước thống nhất với nhau: Cựu Ước chuẩn bị cho Tân ước, Tân Ước hoàn tất Cựu ước, cả hai soi sáng cho nhau, cả hai đều thật sự là Lời Thiên Chúa.

141. “Hội Thánh vẫn luôn tôn kính Kinh Thánh như từng tôn kính chính Mình Thánh Chúa” (x. DV 21): cả hai nuôi dưỡng và chi phối toàn diện đời sống Ki-tô hữu. “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119,105) (x. Is 50,4).


Chú thích

[1] Thánh Augustinô – Chú giải Tv 103,4,1.

[2] Thánh Bê-na-đô – Bài giảng về kẻ được sai đi 4,11.

[3] Thánh Tô-ma A-qui-nô – Chú giải Tv 22,11.

[4] Học giả Ô-ri-gê-nê – Bài giảng Sách Lê-vi 5,5.

[5] Thánh Tô-ma A-qui-nô – Tổng luận thần học 1,1,10,1.

[6] Augustine of Dacia, Rotulus pugillaris I: ed. A.Walz: Angelicum 6 (1929) 256.

[7] Thánh Augustinô – Phản đối Nhị Tông kinh của Mani Giáo 5,6.

[8] St. Caesaria the Younger to St. Richildis and St. Radegunde: SCh 345, 480.

[9] Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su – Tự truyện, bản dịch của Ronald Knox (London: Collins, 1960), 175.

[10] Thánh Augustinô – Các vấn đề trong thất thư 2,73.

[11] Thánh Giê-rô-ni-mô – Chú giải Sách ngôn sứ I-sai-a, chương 18, lời tựa.

[12] Hugh of St. Victor – De arca Noe 2,8; x. 2,9.

[13] Học giả Ô-ri-gê-nê – Bài giảng Sách Xuất Hành 4,5.