Chú giải Tin Mừng Mát-thêu

Chương 10

Câu 1. Chúa Giê-su chọn ra mười hai người trong số các môn đệ và đặt họ làm tông đồ. Trong Tin Mừng Lu-ca, ta biết rằng sau đó Người còn chọn ra tiếp bảy mươi hai môn đệ khác (Lc 10,1). Tuy nhiên, mười hai tông đồ có vị trí cao hơn cả trong số các môn đệ của Ngài.

Con số mười hai được cho là có sự liên hệ với mười hai chi tộc Ít-ra-en. Như dân Ít-ra-en đã sinh sôi nảy nở từ mười hai người con ông Gia-cóp là những vị đứng đầu các chi tộc, tất cả tín hữu Ki-tô Giáo cũng sẽ phát triển ra toàn thế giới từ tinh thần của các tông đồ. Đây cũng là con số thường xuyên xuất hiện trong Cựu Ước như: mười hai vị ngôn sứ, mười hai con suối tại Ê-lim (Xh 15,27), mười hai tảng đá lấy từ sông Gio-đan (Gs 4,3),…

Câu 2. Người đứng đầu trong số mười hai tông đồ là ông Si-môn, không phải dựa vào thời điểm được kêu gọi mà dựa vào phẩm giá vì ông được gọi sau ông An-rê, anh trai mình. Chúa đặt tên cho ông là Phê-rô, theo tiếng Can-đê cổ là Kê-pha nghĩa là tảng đá. Ông được coi là viên đá đầu tiên để Chúa xây dựng Hội Thánh của người và chính ông cũng được đặt làm người đứng đầu Giáo Hội.

Câu 3. ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê – đây là Thánh Gia-cô-bê Tiền, người bị Vua Hê-rô-đê chém đầu (Cv 12,2), ông là anh trai Thánh Gio-an Tông Đồ. Khác với Thánh Gia-cô-bê Hậu (Gia-cô-bê con ông An-phê) – Giám mục Giê-ru-sa-lem, tử đạo vào khoảng năm 61 SCN.

Câu 5-6. Đức Giê-su sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng: Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en.

Bản Kinh Thánh Công Giáo Tiếng Anh (The New American Bible): Jesus sent out these twelve after instructing them thus, “Do not go into pagan territory or enter a Samaritan town. Go rather to the lost sheep of the house of Israel.

Tạm dịch: Đức Giê-su sai mười hai ông ấy đi sau khi chỉ thị rằng: “Đừng đi vào vùng đất của dân ngoại hoặc một thành của người Sa-ma-ri. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en.

Trong sứ vụ đầu tiên của các tông đồ, Chúa Giê-su sai họ không đi vào vùng đất của những người dân ngoại và các thành thị của dân Sa-ma-ri mà đi rao giảng cho dân Do-thái trước. Điều này hoàn toàn không có gì mâu thuẫn với việc người sai họ “hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). Hãy nhớ rằng thời điểm của hai việc sai phái này hoàn toàn khác nhau được phân tách bởi biến cố Chúa Phục Sinh.

Theo Thánh Giê-rô-ni-mô, Chúa sai các tông đồ đi rao giảng cho dân Do-thái trước để họ nhận biết Đấng Mê-si-a chính là Người và để những kẻ cứng tin không thể bào chữa rằng: “Chúng tôi đã không nhận biết ông vì ông chỉ sai các môn đệ mình đến với dân ngoại”.

Ngoài ra, theo Thánh Gio-an Kim Khẩu, việc rao giảng cho dân Do-thái và đối mặt với những sự chống đối, nhạo báng sẽ là sự chuẩn bị cần thiết cho họ trước khi rao giảng cho dân ngoại và phải chịu những sự chống đối dữ dội hơn.

Câu 8. chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ – Không chỉ ban cho các tông đồ sức mạnh và lòng can đảm để rao giảng Nước Trời, Chúa Giê-su còn ban cho họ khả năng làm phép lạ để giúp lời họ rao giảng được hiệu quả. Vì những điều họ loan báo cho dân Do-thái là những điều hoàn toàn mới mẻ và Lề Luật chưa từng nói tới nên cần những điều lớn lao, kỳ diệu để củng cố.

Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy – Theo Thánh Giê-rô-ni-mô, ở đây, Chúa Giê-su khuyên răn các sứ đồ của mình đừng làm việc vì tư lợi; nhưng bản thân họ đã nhận được ánh sáng đức tin mà chẳng mất gì thì họ cũng nên truyền đạt nó cho người khác như vậy.

Thánh Tô-ma A-qui-nô khi đọc đoạn văn này thì cho rằng Đấng Cứu Rỗi có thể muốn cảnh báo Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người giữ túi tiền, vì ông ta có thể bị cám dỗ và kiếm trác lợi lộc từ việc truyền giáo.

Còn theo Thánh Gio-an Kim Khẩu, lời khuyên này của Đấng Cứu Rỗi cảnh báo tất cả những người được sai đi vì họ có thể đắm chìm trong vinh quang hão huyền và sinh lòng tham lam tư lợi. Để họ không ảo tưởng về chính mình, Người dạy rằng bất cứ phép lạ nào họ làm được đều là Chúa ban cho chứ không phải do sức riêng của họ. Thứ hai, vì họ nhận được Tin Mừng từ Chúa mà chẳng mất gì thì cũng đừng tham lam bất kỳ lợi lộc nào từ những người đón nhận lời họ rao giảng.

Câu 11. Đức Giê-su căn dặn các tông đồ khi đến các thành thị hay làng mạc thì cần dò hỏi xem gia đình nào được mọi người chứng nhận là tốt lành, xứng đáng và hãy ở lại nhà đó cho tới lúc rời khỏi thành của họ, đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia (Lc 10,7). Người dặn dò như vậy là để tránh những phiền toái cho các ông trên hành trình truyền giáo và nhằm ngăn ngừa những chuyện gièm pha, nói xấu của dân chúng về các ông. Ngoài ra, cũng là để họ không hiểu sai ý câu mà Người nói trước đó: “Vì thợ thì đáng được nuôi ăn.”

Câu 14. hãy giũ bụi chân lại – Đây là một kiểu ứng xử khá quen thuộc của các ngôn sứ và các nhà truyền giáo khi thể hiện thái độ không hài lòng với những kẻ cứng tin và cố chấp trước lời rao giảng của họ. Hàm ý của hành động này là họ không lấy bất cứ thứ gì từ những kẻ cố chấp, dù chỉ là những hạt bụi và chính những bụi đất đó cũng sẽ đứng lên làm chứng chống lại những kẻ không tin trong Ngày Phán Xét. (Xem Cv 13,51)

Câu 16. Chúa Giê-su không chỉ cho các tông đồ biết rằng họ sẽ như chiên đi vào giữa bầy sói mà còn nhấn mạnh rằng ngay cả khi phải đối mặt với những con sói hung dữ, họ vẫn phải đối xử cách hiền lành như cừu và đơn sơ như chim bồ câu bất chấp việc có thể bị sói lao vào cắn xé. Đây chính là sự vĩ đại của chân lý và tình yêu Chúa Ki-tô. Đàn chiên của Ngài sẽ chiến thắng và thậm chí có thể thay đổi bản chất hung dữ của sói không phải bằng sự hung dữ và tàn bạo hơn sói mà chính bởi sự hiền lành, ôn hòa và hồn nhiên.

Ngoài ra, Chúa cũng căn dặn họ cần biết cách hành xử khéo léo và thận trọng khi nói: “anh em phải khôn như rắn”.

Câu 17. Chúa Giê-su cảnh báo trước cho các môn đệ về những sự bắt bớ, bách hại mà họ sẽ phải chịu trong tương lai. Điều đó giúp họ có sự chuẩn bị trước về tinh thần và không nản lòng khi những điều đó xảy đến.

Câu 18. để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết – Điều đó nghĩa là bằng ý chí kiên cường và lập trường kiên định, các ông có thể làm chứng cho Chúa ngay trước mặt vua chúa quan quyền, những kẻ xét xử và luận tội các ông vì đức tin của mình. Những lời chứng đó cũng sẽ trở thành bằng chứng luận tội những kẻ bách hại Ki-tô hữu trong Ngày Phán Xét.

Câu 19. đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì – Những điều này, như Chúa Giê-su tiên báo, anh chị em có thể thấy rất rõ trong Sách Công Vụ Tông Đồ. Đó là những gì đã xảy ra với Thánh Phê-rô và các tông đồ (Cv 4,1-22; 5,22-33); với Thánh Tê-pha-nô (Cv 7); với Thánh Phao-lô (Cv 22-26) và với rất nhiều thánh tử đạo của Giáo Hội Công Giáo chúng ta.

Câu 22. kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát – Điều này cho thấy rằng chỉ có đức tin và lòng đạo đức thôi thì không đủ để được cứu độ, chúng ta cần phải là những người bền chí đến cùng tức là giữ được những đức hạnh đó trong mọi hoàn cảnh và tới giờ sau hết của cuộc đời. Đó cũng là những gì đã được viết trong Sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en: “Nếu như kẻ công chính từ bỏ lẽ công chính của mình mà làm điều bất chính, thì Ta sẽ đặt chướng ngại trước mắt nó; nó sẽ phải chết… Nó sẽ phải chết vì tội lỗi của nó và người ta sẽ không còn nhớ đến việc công chính nó đã làm” (Ed 3,20).

Theo Thánh Gio-an Kim Khẩu, có một số người rất nhiệt thành khi mới đón nhận đức tin nhưng sau đó họ không bền chí và thậm chí bỏ đạo. Họ chính là “những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu; nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô.” (Mt 14,5-6)

Đối với những con người như vậy, Thánh Phê-rô cảnh báo: “những kẻ đã thoát khỏi những vết nhơ của thế gian, nhờ được biết Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng Cứu Độ, mà lại vướng mắc vào đó một lần nữa và bị thua, thì tình trạng sau này của họ còn tệ hơn trước. Quả thật, thà họ không biết đường công chính, còn hơn là khi đã biết rồi, lại lìa bỏ điều răn thánh đã được truyền cho họ. Điều xảy ra cho họ thật đúng với câu ngạn ngữ sau đây: Chó mửa ra, chó liền ăn lại; heo tắm xong, heo nhảy vào bùn.” (2 Pr 2,20-22)

Câu 23. Khi người ta bách hại anh em trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác – Đây là lời khuyên các Ki-tô hữu được phép chạy trốn khỏi các cuộc bách hại, đó là cách hành xử hợp lẽ, khác với việc bỏ đạo.

anh em chưa đi hết các thành của Ít-ra-en, thì Con Người đã đến – Theo Thánh Gio-an Kim Khẩu, ý của Chúa Giê-su là khi các môn đệ còn chưa rao giảng hết trong lãnh thổ Ít-ra-en thì Người đã đến để cùng rao giảng với họ. Một số người khác thì cho rằng Chúa muốn nói tới sự trở lại của Ngài sau biến cố Phục Sinh.

Câu 24. Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ – Ý Chúa Giê-su là khi chúng ta trở thành môn đệ của Người, đừng mong được thế gian đối xử tử tế hơn cách họ đối xử với thầy mình. Hãy sẵn sàng chịu đựng những sự khinh miệt, ngược đãi giống như những gì Người đã trải qua.

Câu 25. Bê-en-dê-bun – hay Ba-an Dơ-vúp là tên tượng thần của Éc-rôn (2 V 1,2-3.6.16) – một thứ ngẫu tượng. Tên Bê-en-dê-bun theo cách gọi của người Do-thái có nghĩa là chúa tể loài ruồi.

Câu 26. không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết – Không sự chà đạp hay đàn áp nào có thể che giấu chân lý và bôi nhọ những gì là tốt đẹp. Mặc dù có những kẻ luôn cố gắng dùng quyền lực, truyền thông hay những thủ đoạn khác hòng che giấu sự thật mà chúng không muốn cho ai biết nhưng sau hết, sự thật vẫn sẽ được tỏ lộ và hành vi xấu xa của chúng cũng sẽ bị phơi bày.

Câu 27. Qua hình ảnh đêm hôm – ban ngày, rỉ tai – lên mái nhà, Chúa Giê-su muốn truyền cho các môn đệ rằng: những điều mà Người dạy cho họ, ban đầu chỉ có một số ít người được lĩnh hội và phạm vi rao giảng của Người chỉ giới hạn trong miền Giu-đê. Nhưng bây giờ, các ông hãy đem những điều đó đi rao giảng cho hết thảy mọi người và mang lời Chúa đến tận cùng trái đất.

Câu 28. Hãy sợ hỏa ngục chứ đừng sợ nhà tù. Đừng sợ hình phạt tạm thời mà hãy sợ lửa đời đời thiêu đốt.

Câu 29-31. Chim sẻ là loài vật thấp kém hơn nhiều so với con người nhưng Chúa Quan Phòng vẫn bảo vệ và nuôi sống chúng. Do đó, không ai có thể tước đoạt mạng sống của chúng ta nếu không được Chúa cho phép.

Câu 32-33. Những ai nhận là môn đệ Chúa trước mặt người đời thì Chúa cũng sẽ nhận người đó trước mặt Chúa Cha. Và ngược lại, kẻ nào chối Chúa đến cùng, dù với bất kỳ lý do nào thì Chúa cũng sẽ không nhận kẻ đó.

Câu 34-36. Chúa Giê-su đến không phải để mang bình an theo kiểu thế gian. Theo Thánh Giê-rô-ni-mô, “gươm giáo” trong câu nói của Chúa Giê-su chính là sự chia rẽ giữa các tín hữu và những người không tin: “Vì trong đức tin nơi Chúa Ki-tô, toàn thể thế giới bị chia rẽ với chính nó; mỗi ngôi nhà đều có những tín hữu và những người không tin.” Tương tự như vậy, đối với Thánh Hi-la-ri-ô, thanh kiếm tượng trưng cho quyền năng của Phúc Âm: “Thanh kiếm là thứ mạnh nhất trong tất cả các loại vũ khí. Từ đó, nó trở thành biểu tượng của quyền bính, của công lý, của sự trừng phạt. Lời của Chúa cũng được ví như một thanh kiếm. Nó cách khác, ở đây, thanh kiếm được gửi đến trái đất chính là lời dạy của Người trút vào trái tim mỗi người.”

Bình an mà Chúa Giê-su hướng tới không phải là một thứ bình an giả tạo, “cải lương” khi mà người ta chấp nhận sự giả trá để tránh xung đột hay để làm hài lòng người khác. Nhưng là một sự bình an đặt trong sự thật, ngay cả khi sự thật đó tạo ra sự chia rẽ.

Như Thánh Tô-ma A-qui-nô nhận xét: “Cho nên phải nói rằng có hai loại bình an, cụ thể là tốt và xấu.”

Câu 38. Có hai loại thập giá mà Chúa Giê-su muốn chúng ta phải mang. Đó là thập giá cho thân xác và thập giá cho linh hồn. Nếu thập giá cho thân xác là việc kiềm chế sự tham lam của xúc giác, vị giác, thị giác được thể hiện qua việc ăn chay thì thập giá cho linh hồn chính là lối sống khiêm nhường, tiết độ, hòa nhã,… nhằm kiềm chế những đam mê vô độ của linh hồn.

Câu 39. Nếu ai tìm thấy niềm vui thú và chìm đắm trong những sự thế gian mà không quan tâm tới phần rỗi thì sẽ đánh mất sự sống đời đời và ngược lại.