Chú giải Tin Mừng Mát-thêu

Chương 12

Câu 1. ngày sa-bát – từ này thường để chỉ chung những ngày nghỉ và thường rơi vào ba dịp lễ lớn của người Do-thái là Lễ Vượt Qua, Lễ Ngũ Tuần và Lễ Lều. Trong ngày sa-bát, theo Lề Luật Cựu Ước, người Do-thái không được phép làm bất kỳ công việc nào:

Còn ngày thứ bảy là ngày sa-bát kính ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi, cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, bò lừa và mọi gia súc của ngươi, và ngoại kiều ở trong thành của ngươi, để tôi tớ nam nữ của ngươi được nghỉ như ngươi. (Đnl 5,14)

Câu 2. Người Pha-ri-sêu không buộc tội trộm cắp các môn đệ Đức Giê-su nhưng vì họ đã làm một việc là đưa tay ra bứt lúa trong ngày sa-bát. Lưu ý rằng Lề Luật Cựu Ước cho phép người Do-thái được phéo làm thế khi đi qua ruộng của người đồng loại:

Khi vào đồng lúa của người đồng loại anh (em), thì anh (em) có thể lấy tay bứt những bông lúa, nhưng không được tra liềm cắt lúa của người đồng loại anh (em). (Đnl 23,26)

Câu 3-4. Xem 1 Sm 21,2-7.

Câu 5-6. Trong ngày sa-bát, các tư tế trong Đền Thờ được phép làm các công việc dâng lễ vật mà không sợ phạm luật (Ds 28,9). Cũng vậy, các môn đệ trong Chúa Ki-tô cũng được phép làm các công việc cần thiết cho sự sống của họ mà không phạm luật. Vì người là Thiên Chúa và Thiên Chúa hiển nhiên trọng hơn Đền Thờ.

Câu 7-8. Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế – Xem Hs 6,6 – Thiên Chúa đã chẳng lên án tư tế A-khi-me-léc vì ông đã lấy bánh tiến mà đem cho vua Đa-vít ăn khi ông và thuộc hạ đói bụng thì Người cũng chẳng kết tội các môn đệ Chúa Ki-tô khi họ bứt lúa ăn vì đói.

Chúa Giê-su làm chủ ngày sa-bát và Người có thẩm quyền để phán xét hành động của người khác trong ngày này.

Câu 18-21.

Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ,
là người Ta tuyển chọn và quý mến hết lòng,
Ta cho thần khí Ta ngự trên nó;
nó sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân.

Nó sẽ không kêu to, không nói lớn,
không để ai nghe tiếng giữa phố phường.

Cây lau bị giập, nó không đành bẻ gẫy,
tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi.
Nó sẽ trung thành làm sáng tỏ công lý.

Nó không yếu hèn, không chịu phục,
cho đến khi thiết lập công lý trên địa cầu.
Dân các hải đảo xa xăm đều mong được nó chỉ bảo. (Is 42,1-4)

Câu 25. Trong một dịp khác (Mt 10,25), người Pha-ri-sêu cũng đưa ra lời buộc tội tương tự chống lại Đức Giê-su nhưng Người đã im lặng vì muốn họ tự nhận ra sự sai trái của mình khi chứng kiến các phép lạ và việc làm của Người. Nhưng khi thấy họ vẫn ngoan cố không tin, Người đã sửa dạy họ.

Câu 29. Làm sao người ta có thể vào nhà một kẻ mạnh và cướp của được, nếu không trói kẻ mạnh ấy trước đã, rồi mới cướp sạch nhà nó? – Chúa Giê-su muốn nói rằng Người có quyền năng mạnh hơn Xa-tan. Vì chỉ người có quyền năng mạnh hơn nó mới có thể trục nó ra khỏi người mà nó ám nhập.

Câu 30. Ai không đi với tôi, là chống lại tôi; và ai không cùng tôi thu góp, là phân tán – Không thể tồn tại một trạng thái lơ lửng, một thái độ lập lờ nước đôi, chúng ta buộc phải chọn lựa hoặc theo Thiên Chúa, hoặc theo Xa-tan. Nếu không đi theo Người, tức là chống lại Người. Nếu không cùng Người cứu giúp các linh hồn, tức là theo ác quỷ.

Câu 31-32. Thánh Augustinô cho rằng đây là một trong những câu khó hiểu nhất trong Kinh Thánh. Theo cách giải thích chung nhất, nói phạm đến Thần Khí ở hoàn cảnh này không phải là lời lẽ xúc phạm đến Ngôi Ba Thiên Chúa nhưng là thái độ cố chấp chống lại Chúa Giê-su của người Do-thái khi họ gán phép lạ Người thực hiện cho quỷ vương Bê-en-dê-bun mặc dù Người làm phép lạ đó trong Thần Khí Thiên Chúa. Nói cách khác, họ đồng hóa Thiên Chúa với ác quỷ. Họ chắc chắn không thể không biết gì về bản chất sự việc nhưng lại cố tình tỏ ra mù quáng.

Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ mọi thứ tội nếu tội nhân biết ăn năn, sám hối. Tuy nhiên, những kẻ cố chấp phủ nhận Thần Khí Thiên Chúa và các sự thật đã biết thì hiếm khi có thể hoán cải. Do đó, họ sẽ không được tha.

Chi tiết hơn, xem thêm bài viết: Nói phạm đến Thánh Thần là gì? Tại sao tội này không được tha?

Câu 36. mọi điều vô ích mình đã nói – đó là những lời nói không mang lại điều gì tốt đẹp cho cả người nói và người nghe, những lời nói báng bổ và cố chấp.

Câu 38-40. Các kinh sư và người Pha-ri-sêu có lẽ đòi Chúa Giê-su làm một dấu lạ như ông Ê-li-a gọi lửa từ trời xuống hay ông Sa-mu-en hô mưa gọi gió để họ tin rằng Người là Đấng Mê-si-a và Người hành động trong Thần Khí. Tuy nhiên, Chúa Giê-su không thỏa mãn đòi hỏi của họ và chỉ nói trước về dấu lạ từ cái chết và sự Phục Sinh của Người.

Câu 42. Xem 1 V 10,1