Chú giải Tin Mừng Mát-thêu

Chương 17

Câu 2. biến đổi hình dạng – Đừng ai nghĩ rằng Chúa Giê-su thay đổi hình dạng tự nhiên của mình, gạt sang một bên thân xác hữu hình để xuất hiện dưới một hình thể tâm linh nhưng Người đã thêm vào nơi mình vẻ lộng lẫy và vinh quang như những gì nhà truyền giáo diễn tả: Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng.

Người đã không biểu lộ thiên tính của mình – điều không thể nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng dùng hình dạng mới như một dấu hiệu và hình ảnh mờ nhạt để cho các môn đệ nhận biết Người.

Câu 3. ông Mô-sê và ông Ê-li-a – Chúa Giê-su đã chọn ông Mô-sê – người công bố Lề Luật và ông Ê-li-a – người đứng đầu trong số các ngôn sứ Cựu Ước để biểu lộ sự trổi vượt của Người và qua đó, Người xác nhận lời tuyên xưng của Thánh Phê-rô rằng Người là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa Hằng Sống.

Người Do-thái đã buộc tội Chúa Giê-su nói phạm thượng và vi phạm luật ngày sa-bát thì ở đây, sự hiện diện của hai chứng nhân – Mô-sê và Ê-li-a đã bác bỏ lời vu khống của họ. Người công bố Lề Luật Do-thái sẽ không bao giờ đồng tình với người vi phạm; và ông Ê-li-a, người nhiệt thành với vinh quang của Thiên Chúa chắc chắn sẽ không tỏ lòng tôn kính với một người tự cho mình ngang hàng với Người nếu người ấy không thực sự là Con của Đấng Tối Cao.

Câu 6. các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất – Có hai nguyên nhân có thể tạo ra nỗi kinh hoàng cho các môn đệ. Một là đám mây bao phủ lấy họ và tiếng Chúa Cha từ trời phán ra, hai là do tính yếu đuối của loài người không thể chịu nổi vinh quang của Thiên Chúa, họ run rẩy và ngã sấp mặt xuống đất.

Đấng Toàn Năng, dường như rất hài lòng với Phê-rô khi ông muốn làm ba cái lều cho Chúa Giê-su và hai vị chứng nhân, Người cho một đám mây xuống bao phủ các ông như muốn cho họ biết rằng chính Người là căn lều vĩnh cửu. Người cũng nhắc lại cho Phê-rô biết cần phải vâng nghe lời Chúa Giê-su vì trước đó, ông có ý định ngăn cản Người bước vào Cuộc Thương Khó.

Ngoài ra, theo Thánh Gio-an Kim Khẩu, giọng nói này chỉ xuất hiện khi ông Mô-sê và ông Ê-li-a đã không còn bên cạnh Chúa Giê-su nữa, để đảm bảo rằng lời chứng Đây là Con yêu dấu của Ta” chỉ nói về một mình Người mà thôi. Việc Chúa Cha căn dặn các môn đệ phải vâng nghe lời Chúa Giê-su cũng cho thấy chính Người sẽ là Đấng ban Lề Luật mới và một vị ngôn sứ mới. Lời của Người phải được ưu tiên hơn ông Mô-sê, ông Ê-li-a hay bất kỳ vị nào khác.

Câu 9. Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy – Chúa Giê-su chuẩn bị trước niềm tin cho các tông đồ về sự Phục Sinh của Người. Việc hé lộ các thị kiến cho người khác ở thời điểm này là không thích hợp, đặc biệt cho những kẻ cứng tin, hẹp hòi và mưu mô như người Pha-ri-sêu. Ngoài ra, Chúa Giê-su cũng đưa ra một bài học cho những người theo Ngài rằng họ cần biết giữ các bí mật thầm kín khi nhận được các ân sủng thiêng liêng.

Câu 10. Ê-li-a phải đến trước – Đây là một sai lầm được truyền bá bởi các kinh sư Do-thái do họ không hiểu biết đầy đủ về hai lần xuất hiện của Chúa Ki-tô. Lần thứ nhất, Gio-an Tẩy Giả, người được đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Ê-li-a (Lc 1,17) đã đến trước dọn đường cho sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su. Và lần thứ hai, chính ngôn sứ Ê-li-a, người được Thiên Chúa đưa lên trời trong một cơn gió lốc (2 V 2,11) sẽ đến để dọn đường cho sự quang lâm của Người vào thời cánh chung, điều này đã được ngôn sứ Ma-la-khi báo trước (Ml 3,23).

Câu 11. Ông Ê-li-a phải đến để chỉnh đốn mọi sự – Thánh Gio-an Kim Khẩu, Theophylact Giám mục Ohrid (1050-1107) và một số người khác cho rằng điều này có nghĩa là ông Ê-li-a sẽ đến để khôi phục tất cả những người Do-thái về một đức tin duy nhất trước Ngày tận thế, hoặc, theo Thánh Augustinô, ông sẽ đến để củng cố đức tin đang dao động của các tín hữu trong cuộc bách hại của tên Phản Ki-tô.

Câu 14. Khi thầy trò đến với đám đông – Niềm vui của Thánh Phê-rô, người muốn nán lại trên núi thánh để chiêm ngưỡng vinh quang của Chúa và tận hưởng sự bình an thay vì lợi ích của nhiều người khác, không có ở nơi Chúa Giê-su. Người tã từ trên núi xuống, từ bỏ ngai vinh hiển trên Trời để đến với những con người đau khổ.

Câu 16. Tôi đã đem cháu đến cho các môn đệ Ngài chữa – Qua những lời này, cha của người bị kinh phong, xét theo một khía cạnh nào đó đã buộc tội các tông đồ mặc dù sự bất lực của việc chữa lành không phải lúc nào cũng gắn liền với sự yếu đuối của các tôi tớ Chúa, nhưng đôi khi là sự thiếu niềm tin nơi người cần chữa trị.

Theo Thánh Giê-rô-ni-mô, lời buộc tội các tông đồ ngay trước mặt Chúa Giê-su của người đàn ông này quả là một sự dại dột đáng kinh ngạc. Chúa chúng ta đã giải thoát các môn đệ khỏi lời buộc tội ấy và quy trách nhiệm cho chính sự kém tin của người tố cáo. Người không khiển trách một mình ông ta, cũng không muốn làm tổn thương quá mức cảm xúc của ông nhưng Người khiển trách toàn thể dân Do-thái. Chúng ta có thể suy luận rằng có nhiều người ngoài cuộc khi đó đã gièm pha các môn đệ, và họ đã nhận được những lời này: Ôi thế hệ cứng lòng không chịu tin và gian tà! Tôi còn phải ở với các người cho đến bao giờ, còn phải chịu đựng các người cho đến bao giờ nữa?

Theo thánh Gio-an Kim Khẩu, chúng ta chớ lầm tưởng rằng Đấng Cứu Thế của chúng ta, người hiền lành và dịu dàng lại thốt ra những lời bực tức và thiếu kiềm chế. Mà như một người thầy thuốc tận tình, thấy bệnh nhân coi thường các toa thuốc mình kê, ông nói, tôi phải thăm khám anh bao lâu, phải kê đơn cho anh bao nhiêu nữa khi những phương pháp chữa trị tôi đưa ra, anh chẳng những không nghe theo mà còn làm ngược lại? Như vậy, Chúa Giê-su không giận người đàn ông này nhưng giận nết xấu của ông ta; và nhân đó, Người khiển trách dân Do-thái nói chung vì sự hoài nghi và ngoan cố của họ.

Theo quan điểm chung, những lời trách móc này chỉ giới hạn đối với dân chúng; nhưng nó được mở rộng cho cả các tông đồ trong trình thuật sau đó.

Câu 19. Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy – Các môn đệ bắt đầu nghĩ rằng mình là nguyên nhân khiến Chúa Giê-su không hài lòng, vì các ông đã đánh mất khả năng làm phép lạ. Vậy nên khi chỉ có các thầy trò, họ hỏi Người xem vì sao họ không thể trừ nổi tên quỷ ấy. Người đã trả lời rằng vì họ kém tin, nói cách khác, nếu họ có đủ lòng tin, quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi họ có thể chiến thắng bất kỳ tên quỷ nào dù nó ám hại tới linh hồn hay thể xác người ta tới mức nào.

Câu 20. lòng tin lớn bằng hạt cải – Từ nguyên gốc Tiếng Anh là mustard seed mà chúng ta quen gọi là hạt mù tạc. Theo đó, Đức Giê-su muốn nói với các môn đệ rằng họ chưa có lòng tin đủ mạnh để làm các phép lạ lớn lao. Lòng tin hoàn hảo như vậy phải được xây dựng trên nền tảng đức tin vững chắc và một niềm tin sống động vào Thiên Chúa. Ở đây, hình ảnh hạt mù tạc được lấy làm ví dụ vì tính chất thơm nồng và lan tỏa của nó khi dùng làm gia vị.

Theo Thánh Gio-an Kim Khẩu, lòng tin được nói đến ở đây không phải là việc xác tín vào các vấn đề thần học liên quan tới Chúa Giê-su, điều mà các môn đệ không thiếu nhưng là sự tin tưởng vào quyền năng và lòng nhân từ của Thiên Chúa, rằng Người chắc chắn sẽ ban cho họ những gì Người đã hứa và giúp họ có khả năng làm được những gi họ cầu xin. Để có được lòng tin như vậy và để thoát khỏi mọi sự kiêu căng tự phụ, họ cần một đặc sủng lớn lao, đó chính là ơn Thánh Thần mà họ sẽ nhận được sau khi Chúa Giê-su Lên Trời.

Nhà nghiên cứu Kinh Thánh Dòng Tên Jacobus Tirinus (1580-1636) (?) cho rằng đức tin của các tông đồ, đặc biệt những người không được chứng kiến sự kiện Chúa Giê-su biến hình trên núi đều ở mức chưa hoàn hảo và trọn vẹn cho đến sau biến cố Chúa Phục Sinh và Lên Trời.

Câu 21. Giống quỷ này không chịu ra, nếu người ta không ăn chay cầu nguyện – Chỉ dẫn này thêm một lần nữa cho thấy lợi ích tuyệt vời của việc ăn chay cầu nguyện trong đời sống đức tin.

Câu 23. Các môn đệ buồn phiền lắm – Vì họ không hiểu được mầu nhiệm của sự đau khổ và hy sinh của Chúa Ki-tô, nó trái ngược với những gì họ tưởng tượng về vương quốc vinh quang của Đấng mê-si-a.

Robert Witham nhận xét rằng nỗi đau buồn này là hệ quả của mối gắn bó thân thiết giữa Chúa Giê-su với các môn đệ. Họ không hiểu gì về những lời đó, như Mc 9,30-32 và Lc 9,43b-45 thuật lại. Họ chỉ biết chắc rằng Thầy mình sẽ bị sát hại nhưng không đủ khả năng hiểu được cái chết ngắn ngủi và sự Phục Sinh vinh quang của Người cũng như ơn cứu độ mà sự hy sinh của Người mang lại cho chúng ta.

Câu 24. nộp thuế – Đó là thuế thân mà mỗi người Ít-ra-en thuộc diện kiểm tra dân số, tức là từ 20 tuổi trở lên, phải nộp cho Đền Thờ (Xh 30,11-16). Cũng có một số người cho rằng đó là thuế nộp cho chính quyền Rô-ma vì chữ vua chúa trần gian được Chúa Giê-su nhắc đến sau đó.

Câu 26. Vậy thì con cái được miễn – Câu này không có nghĩa là các Ki-tô hữu thì không phải nộp thuế như nhiều người lầm tưởng mà qua dịp này, Chúa Giê-su muốn nói rằng ngay cả vua chúa trần gian còn biết đánh thuế người ngoài chứ không đánh thuế con cái mình thì Cha chúng ta trên Trời chẳng lẽ không dành cho chúng ta những điều tốt đẹp hơn thế gấp bội phần hay sao.

Nước Thiên Chúa không thuộc về thế gian này, chúng ta cũng phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Thánh Phao-lô cũng minh định vấn đề này trong Rm 13,1-7.

Câu 27. Nhưng để khỏi làm gai mắt họ – Chúa Giê-su đã thực hiện việc nộp thuế, Người không có ý tạo ra một cuộc thảo luận về đề tài pháp luật nhưng là để chỉ dẫn cho các môn đệ, tránh việc họ hiểu lầm câu nói trước đó của Người. Ngoài ra, như trong nhiều đoạn khác trong Tin Mừng, vị trí ưu tiên của Thánh Phê-rô so với các tông đồ khác lại được thể hiện khi Chúa nộp thuế cho cả phần của ông nữa.